|
|
||
|
Ấn Độ, quốc gia đầy triển vọng
của thế kỷ 21
Nguyễn Minh
Từ vài năm trở lại đây, Ấn Độ
trở thành nơi hành hương của những nhà lănh
đạo quốc gia giàu có nhất và tổ chức quốc
tế lớn nhất thế giới. Từ
tháng 3-2005 trở đi, người ta thấy bà Condolezza
Rice, tân bộ trưởng ngoại giao Mỹ, đă chọn
Ấn Độ làm quốc gia đầu tiên trong chuyến
viếng thăm châu Á của ḿnh. Tiếp theo sau là thủ
tướng Ôn Gia Bảo của Trung Quốc, tổng thống
Musharaf của Pakistan, tổng thư kư Liên Hiệp Quốc
Koffi Anan, thủ tướng Koizumi của Nhật Bản...
đua nhau đến thủ đô New Dehli thăm viếng
và trao đổi với chính phủ Ấn Độ. Tất
cả đều v́ một viễn tượng vững chắc : Ấn Độ đang trở
thành một cường quốc kinh tế mới tại
châu Á và sẽ giữ một vai tṛ rất lớn trong việc
duy tŕ ḥa b́nh và ổn định trong vùng Đông Nam Á.
Theo những
số liệu thống kê đáng tin cậy, đến
năm 2030 tổng thu nhập nội địa (GDP) của
Ấn Độ sẽ ngang bằng Trung Quốc, đến
năm 2035 sẽ vượt qua Nhật Bản và có thể
đứng vào hạng thứ hai hay thứ ba trên thế giới.
Nếu chỉ nh́n phiến diện bề ngoài, thành phố
Bombay ngày nay là một "Manhattan mới" của Ấn
Độ với những ṭa nhà chọc trời lộng lẫy,
đường sá rộng lớn với từng đoàn xe
hơi sang trọng chạy quanh khắp thành phố với
những cửa hàng to lớn đầy ắp hàng hóa và màu
sắc hai bên đường.
Lư do của
sự thay da đổi thịt này là từ cuối thập
niên 1980, các chính quyền Ấn Độ đă thay đổi
chính sách quản trị đất nước bằng cách
chấm dứt chế độ kinh tế chỉ huy để
tư hữu hóa sản xuất và khuyến khích phát huy sáng
kiến và ư kiến. Sau 15 năm áp dụng, tỷ
lệ phát triển kinh tế của Ấn tăng trên
6%/năm và sẽ c̣n tăng cao hơn nữa.
Đặc
điểm của chính sách kinh tế mới này là: giảm
thiểu vai tṛ của công nghiệp quốc doanh từ 17
ngành xuống c̣n 8 ngành ; giải tư thật nhanh những
xí nghiệp quốc doanh có năng suất cao và có lời;
khuyến khích đầu tư tư nhân vào các ngành sản
xuất, trừ các ngành kỹ nghệ nguy hiểm có thể
gây ô nhiễm; ban hành luật cấm độc quyền và cho
phép tư bản di chuyển tự do ; tư bản nước
ngoài có thể làm chủ 51% vốn đầu tư. Với chính sách mới này, kinh tế của Ấn
Độ không những đă tăng trưởng trở lại
mà đồng rúppi (rupees) c̣n được tôn trọng trên
các thị trường chứng khoán quốc tế. Nền nông nghiệp lạc hậu cũng nhờ
đó được phục hồi, nạn thiếu
đói triền miên ở những vùng nghèo khó cũng chấm
dứt. Ngành sinh vật học cũng
đă góp phần đáng kể trong việc bảo tồn
môi sinh và sinh thái trong nước và khu vực.
Tuy vậy, Ấn Độ vẫn dành ưu tiên
phát triển ngành công nghệ nội địa, dựa trên
nền dân chủ đại nghị do toàn dân đầu
phiếu chọn dân biểu và nghị sĩ từ nhiều
đảng chính trị. Điều này khác với mô
h́nh phát triển theo kiểu "công
trường thế giới" của Trung Quốc. Nhưng từ khi chính sách kinh tế mới
được áp dụng, hàng hóa của Ấn Độ
cũng đă xuất hiện tại khắp nơi và chiếm
lĩnh một vài thị trường quan trọng như
tin học, hạch nhân nhẹ và dược phẩm.
Tỷ lệ xuất khẩu phần mềm (software) của
Ấn Độ trong năm 2004 đă lên đến 17,2 tỷ
USD tăng 35% so với năm trước, công nghệ kỹ
thuật cao cấp hạch nhân chiếm 20% tổng ngạch
xuất khẩu.
Tại sao người Ấn có khiếu về
ngành tin học? Tại v́ Ấn Độ
biết áp dụng một chính sách giáo dục thích hợp với
nhu cầu của thời đại. Nhờ
nắm vững tiếng Anh (quốc ngữ chính), nhân tài Ấn
Độ hấp thụ rất nhanh các ngành khoa học của
phương Tây, nhờ đó đă thích ứng nhanh với
những đ̣i hỏi mới của nhu cầu công nghệ
tin học và điện tử. Hiện
nay một số công ty tin học của Ấn dẫn
đầu thế giới về phần mềm cũng
như về dịch vụ khai thác. Khác
với Nhật Bản, một nửa nhân tài tập trung
vào các ngành dịch vụ như thương nghiệp, ngân
hàng, gần phân nửa nhân tài tại Ấn tập trung vào toán
học và tin học.
Nhờ có
sinh hoạt kinh tế tự do, tư bản Ấn đầu
tư rất nhiều vào nghiên cứu khoa học, đặc
biệt là ngành chế biến dược phẩm. Hiện
nay, 8 công ty sản xuất dược phẩm quốc nội
không những đă cung cấp đầy đủ thuốc
men cho dân chúng trong nước mà c̣n xuất khẩu sản
phẩm y dược sang những quốc gia khác tại
châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-Tinh. Đặc điểm của
các công ty dược phẩm Ấn là chờ đến lúc
các bằng sáng chế y dược Âu Mỹ vừa hết
hạn là tập trung vào sản xuất với giá rẻ
hơn rồi bán ra thị trường. Sự
bộc phát của công nghệ này đang đe dọa sự
sống c̣n của các công ty dược phẩm lớn của
phương Tây.
Như
một phản ứng dây chuyền, nhờ có tỷ lệ
phát triển cao, Ấn Độ có đủ tiền để
đầu tư vào nghiên cứu khoa học trong mục
đích kinh doanh. Các cố vấn kỹ
thuật của Ấn hiện đang có mặt khắp
nơi tại các quốc gia thuộc thế giới thứ
ba để buôn bán và giúp đỡ các chính quyền địa
phương.
Một công
nghệ đầy triển vọng khác là ngành chế tạo
xe hơi, mà Nhật Bản đang rất
quan tâm. Đầu năm 2005, công ty Mitsubishi
đă mua xí nghiệp SRS Tools của Ấn để chiếm
lĩnh thị trường trên một tỷ người
này. Công ty sản xuất xe hơi
Lotte của Nam Hàn cũng đă có mặt tại New Dehli. Tuy
có hơi lỗi thời, ngành sản xuất đầu máy
xe lửa của Ấn vẫn chiếm
lĩnh thị trường các quốc gia chậm tiến.
Tuy vậy,
sinh hoạt kinh tế của Ấn vẫn c̣n nhiều khuyết
điểm như cơ sở hạ tầng c̣n yếu
kém, khả năng cung cấp điện lực chưa
đáp ứng được nhu cầu trong nước, tỷ
lệ người biết đọc biết viết c̣n
thấp (65%), sự phân biệt nam nữ và sự phân chia
đẳng cấp vẫn c̣n tồn tại. Để
vượt qua những khó khăn vật chất này, Nhật
Bản là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Ấn
Độ qua các chương tŕnh viện trợ ODA, hơn
một tỷ USD mỗi năm.
Nói tóm lại, với một dân số trên một
tỷ người với hơn gần một ngàn ngôn ngữ
và phong tục tập quán khác nhau, Ấn Độ đă
thành công trên đường tiến về tương lai.
Nguyên do chính của những thành công này là dân chủ. Như một phép mầu, chỉ trong ṿng 15 năm
áp dụng dân chủ Ấn Độ đă trở thành một
cường quốc kinh tế và đang được mời
gọi nắm giữ những vai tṛ quốc tế quan trọng.
Nguyễn Minh (Tokyo)