|
|
||
|
QUÊ NGƯỜI NGHE CHIM HÓT...
BÙI THÚC KHÁN
Trời
lạ bâng khuâng một cánh chim
Ðường
xa nẻo mới chẳng mong tìm
Chuyện
xưa nhiều lúc nao nao nhớ
Mong
gặp người xưa tỏ nỗi niềm!
B.T.K.
Sáng nay trời nhiều mây và se se lạnh.
Nắng chưa lên nhưng tiếng chim trên những vòm cây
cao trước nhà đã vang vọng rộn ràng. Ở đây sống giữa phố phường
mà vẫn nghe được tiếng chim như đang sống
ở một vùng quê trên đất nước nhà. Cali có nhiều loại chim nhưng nhiều và dễ
nhận ra nhất là chim quạ. Trên các
công viên, trên những khoảnh đất trống, hàng
đàn chim quạ quây quần, bay lượn và gọi nhau
rộn rã.
Tiếng chim đất khách gợi nhớ quê
hương. Tôi vẩn vơ nghĩ
về loài chim quạ.
Thủa thiếu thời tôi đã có cái nhìn thiếu
thiện cảm, bất công với giống chim này.
Tôi cho nó là họ hàng, bè nhóm với lũ
diều hâu, chim cắt... Chuyên bắt gà con, chuyên ăn thịt sống. Càng thương mến
bầy gà con mới nở đang tung
tăng theo mẹ tìm mồi, tôi càng oán giận lũ chim
đen rình rập đâu đó thình lình ụp xuống bắt
lấy một chú gà con rồi vụt bay đi mất.
Chiều chiều quạ
nói với diều
Vườn cau kia rậm lại nhiều gà con
Tôi nghĩ đây là sự
thông báo tin tức, sự cấu kết giữa quạ và
diều để hãm hại đám gà con
Con quạ đậu nóc
chuồng heo
Nó kêu bớ mẹ bánh xèo
chín chưa
Câu hát khiến tôi ám ảnh
bóng dáng chim quạ rình rập bắt chú gà con mới nở
hoặc cắp lén quả trứng gà vụt bay đi. Ở quê ta ổ gà thường lót dưới mái
chuồng heo. Quạ còn có tên là ác.
Người ta thường nói "giao trứng cho ác"
hoặc "gửi gà con cho quạ" thì đó là việc
làm không còn gì sai lầm bằng!
Dân gian còn bảo tiếng quạ kêu là báo hiệu điềm
gở: Ðau ốm, chết chóc. Ngày xưa ở chòm xóm nào có
người qua đới thì thế nào cũng có kẻ
nói: "Hèn chi mấy hôm nay quạ kêu dữ quá!" Từ
Hán Việt gọi Ô là con quạ, Ô là màu đen. Nói về mặt trời ta có các chữ Kim Ô, Ô
Luân. Kim Ô là con quạ vàng. Ô Luân là bánh xe
có con quạ, vì tương truyền trong mặt trời có
con quạ lửa. Lại có chữ Ô thố để chỉ
mặt trời và mặt trăng cũng vì tương truyền
trong mặt trời có con quạ lửa và trong mặt
trăng có con thỏ ngọc. "Trải bao
thỏ lặn, ác tà" là nói tháng ngày đi qua.
Một từ Hán Việt khác cũng có nghĩa là con quạ:
Nha hoặc Ô Nha. Con quạ có sắc đen như một chấm
mực điểm thêm một nét buồn cho phong cảnh buổi
chiều tà:
Ngàn non ngậm kín bóng tà
Lá cây xào xạc, bóng nha
điểm sầu
(Hoa Tiên)
Nói về một đám người tụ họp lại một
cách lộn xộn như bầy quạ, dễ tan rã nhanh
chóng, ta thường dùng các từ như ô hợp, ô tập
hay ô tạp. Sau này tôi nghe nói trong muôn loài chỉ
có chim quạ là có hiếu với mẹ nhất. Quạ
mẹ già nua, đầu rụng sạch lông không còn tự
đi kiếm ăn được, các
quạ con bay đi tìm và tha mồi về tổ mớm cho
mẹ ăn. Từ Hán Việt "Ô bổ" mang ý nghĩa:
Quạ con tha mồi về mớm cho quạ mẹ. Trong
văn thơ người ta cũng thường mượn
hình tượng đó để nói về người con
có hiếu, biết phụng dưỡng cha mẹ. Bình Định quê ta còn truyền lại nhiều
câu chuyện đời xưa nói về người con
định trốn bỏ cha mẹ già ra đi hòng tìm cuộc
sống khấm khá hơn nơi đất khách, nhưng
đã hối tâm khi chứng kiến cảnh quạ con mớm
mồi cho quạ mẹ già nua, yếu đuối.
Từ đó tôi dần dần có thiện cảm
với chim quạ. Và, mối cảm tình đầy
đặn hơn khi nghe sự tích chim quạ bắc cầu
qua sông Ngân để cho Ngưu Lang, Chức Nữ gặp
nhau trong đêm thất tịch - mồng 7 tháng 7 âm lịch
- hàng năm. Người ta gọi Ô kiều (cầu Ô) là
cái cầu do chim quạ làm thành.
Lọ là oanh yến hẹn
hò
Cầu đông sẵn
đó, cầu Ô đó mà
(BCKN)
Có khi còn gọi là cầu Ô thước hoặc
nói Ô thước bắc cầu sông Ngân. Ô
là chim quạ, Thước là chim khách; hai loại chim này
đêm Thất tịch kết cánh làm thành cây cầu cho
Ngưu Lang, Chức Nữ gặp nhau (Ô thước kiều).
Gọi thước là chim khách vì nó thường
cất tiếng kêu báo tin khách xa tới hoặc người
xa về. "Ngoài rèm thước chẳng
mách tin" diễn tả tâm trạng người vợ
mong đợi tin tức chồng chinh chiến xa xôi (CPNK).
Một người đang cảm thấy trơ trọi, bơ vơ, mong chờ tin tức của
người thân nhưng chẳng thấy đã bức rức
hờn trách:
Hỏi thăm tin tức
bao giờ lại
Con thước qua song lại
ỡm ờ
(Q.T.)
Trên kia có nói Ô là con quạ và Ô cũng là màu đen, Và, Nha cũng
là con quạ, cũng là màu đen. (Như thuốc phiện
thường gọi là Ô hương hay Nha phiến). Các em
bé thích Ô mai là quả mơ phơi khô đen lại. Còn
người già thì thích ô cốt kê (gà xương đen, thịt
đen, lông trắng) hầm với thuốc Bắc ăn rất
bổ! Có chữ Ô dưới đây đã một thời
gây nhiều tranh cãi và đã đi vào... văn học sử.
Ðó là Ô Hạng, nghĩa là Ngõ áo thâm hay Xóm áo đen. Ðời Nam Tấn bên Tàu có họ Vương, họ
Tạ là hai họ lớn, tộc thuộc ở vào cả
xóm và đều mặc áo thâm là kiểu y phục quí phái thời
ấy. Người ta gọi cửa ngõ
của xóm này là Ô y hạng. Ở nước
ta trong thời Lê mạt, họ Nguyễn làng Tiên điền
cũng là một họ đời đời khoa bảng
và làm quan to. Khu dinh thự của Xuân Quốc công Nguyễn
Nghiễm và con trai là Tham tụng Nguyễn Lệ ngoài cổng
cũng đề mấy chữ Ô y hạng. Họ Phan ở
làng Ðông thái, tỉnh Hà tĩnh từ ông thủy tổ đời
nhà Lê đến Phan Ðình Phùng là 12 đời, đời nào
cũng có người đỗ đại khoa, làm quan to
cho nên thuở trước người ta đã từng gọi
xóm họ Phan là Ô y hạng. Nhiều người trong chúng
ta chắc có biết bài thơ "Ðêm thu
nghe quạ kêu" của nhà thơ Quách Tấn trong thi phẩm
Mùa Cổ Ðiển xuất bản năm 1941, nguyên văn
như sau:
Từ Ô y hạng rủ rê
sang
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng
Trời bến Phong kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang
Người đương thời đã nói
nhiều về mấy chữ Ô y hạng. Như trên
thì tiếng quạ nghe được trong đêm thu là từ Ngõ áo đen (ở Tàu hay ở ta)
đưa sang, hay Ô y là áo đen cũng có thể chỉ vào
bộ lông con quạ. Trong "Nhà Văn Hiện Ðại",
nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan cho rằng nhà
thơ đã dùng điển tích quá cầu kỳ, và cũng
khí nhạo đời khi bảo bầy quạ xuất xứ
từ Ô y hạng, nhất là hai chữ rủ rê có cái ý không
hay. Nhiều người cũng cho rằng việc dùng
điển như trên là "gượng ép", nhưng
nhìn chung toàn cục thì đây là một
bài thơ hay. Có người còn bảo đó là "đó là
một bài tuyệt tác nhất trong văn chương Việt
nam"...
Về sau (1963) tác giả có cho biết về sự ra đời
của bài thơ trên, đại ý: Một buổi tối
cuối thu Ðinh Mão (1927) trăng mờ mờ, từ bến
đò An Thái ven bờ sông Côn trở về nhà, qua một
khúc đường vắng, nghe một bầy quạ thình
lình cất tiếng kêu, vừa rùng rợn vừa lạnh
lùng. Từ đó tiếng quạ ám ảnh nhà thơ... Năm 1939, một đêm trăng nhưng dịu
dàng chứ không rùng rợn, não nùng như trước.
Ðêm đó tác giả thao thức nhớ lại
rất nhiều ký ức. Do chữ quạ mà tác giả
liên tưởng đến màu đen, đến chữ Ô
và nhớ bài Ô y hạng của Lưu Vũ Tích đời
Ðường:
Chu tước kiều biên
dã thảo hoa
Ô y hạng khẩu, tịch dương tà...
Rồi nhớ đến
bến đò An Thái đã qua năm 1927 mà liên tưởng
đến bến Phong kiều của Trương Kế
trong bài Phong Kiều Dạ Bạc:
Nguyệt lạc ô đề
sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu
miên
Cô tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Lại nhớ tới con
sông Côn mà liên tưởng đến dòng sông Xích Bích với
con thuyền của Tô Ðông Pha, nhớ bài Tiền Xích Bích Phú
trong đó có dẫn câu "Nguyệt minh tinh hi, ô thước
nam phi" của Tào Tháo. Ðiển này đến
điển khác nối nhau đưa nhà thơ vào cõi mộng.
Lúc đầu câu 6 được viết: "Thắc thỏm
riêng ai quả ấn vàng", và câu 8 là: "Tình lang mang gợi tứ lang mang". Năm 1941,
khi sắp in tập Mùa Cổ Ðiển, nhà thơ thấy
không vừa ý về hai câu đó nên sửa lại là: "Lạnh
lẽo sầu ai rụng giếng vàng" và Tình hoang mang gợi
tứ hoang mang".
Học giả Nguyễn Hiến Lê (trong "Hồi ký của
Nguyễn Hiến Lê") có nhắc lại việc trên và
ghi thêm: "Sửa như vậy hay hơn thật,
nhưng tôi ngờ không hợp với "tình" ông
đêm trăng 1927. Ðêm đó, ông nghĩ nhớ
miên man chứ không có nỗi lòng hoang mang". Trước
có nhắc đến câu:
Chiều chiều quạ
nói với diều
Vườn cau kia rậm lại nhiều
gà con
Một bậc trí giả của
Bình Định (đã quá cố) bảo câu này là sản phẩm
của miền trung Trung phần Việt nam ra đời
lúc nhà Tây Sơn dấy nghiệp, ám chỉ việc Nguyễn
Hữu Chỉnh mấy lần khuyên Nguyễn Huệ ra lấy
Phú xuân và Thăng long. Dùng con quạ để
ví với Nguyễn Hữu Chỉnh, con diều để
ví với Nguyễn Huệ, và "chiều, vườn cau
rậm, nhiều gà con" để cụ thể hóa lời
nói của Chỉnh về "Thời, Thế, Cơ".
Cũng có thể nói rằng: Buổi chiều trời
đã nhá nhem rất hợp với thiên thời. Vườn
cau rậm là hợp với địa lợi, và nhiều
gà con là hợp với nhân hòa!
Một câu ca dao nữa cũng được bảo là ám
chỉ việc Nguyễn Huệ đem Nguyễn Hữu Chỉnh
ra Bắc rồi bỏ Chỉnh ở lại Nghệ an khiến
Chỉnh lo sợ phải kết vây cánh, chiêu binh mãi mã để
thủ thân, rồi gặp được cơ hội kéo
quân về Thăng long giúp vua Chiêu Thống, thay chúa Trịnh
mà lộng quyền:
Ai đem con sáo sang sông
Ðể cho con sáo sẩy lồng bay xa
Vì sao con sáo sẩy lồng?
Vì gặp điều bất trắc nếu
không thì lẽ tất nhiên là vô sự. Ðể
diễn ý "bất trắc" cổ nhân mượn chữ
"sông" cho được kín đáo. Bởi, có sông thì tức có nước, mà có nước
là có sóng, sóng nổi lên là vì gió thổi. Sóng
gió là phong ba. Tục ngữ có câu: "Phong ba bất trắc".
Nếu không đem con sáo sang sông nghĩa là không đem nó vào
nơi sóng gió hãi hùng thì chắc chi nó đã sẩy lồng.
Và có sẩy lồng cũng không đến nỗi sợ
hãi phải bay đi xa. Chữ "sông" tượng
trưng cho sự bất trắc và làm nguồn cho sự sẩy
lồng, sự bay xa của con sáo...
Chúng tôi ghi lại các ý kiến trên để
chúng ta cùng suy gẫm luận cứ sai, đúng như thế
nào? Việc "con sáo sẩy lồng" chúng ta có thể
nhhiều hay ít đồng thuận với lý giải nêu
trên, dĩ nhiên không thể hoàn toàn tin cậy vì có nhiều
cách hiểu về câu ca dao đó. Còn việc
"quạ nói với diều" thì cái nghĩa rõ rệt
nhất là ám chỉ sự cấu kết của bọn xấu
để ám hại người lương thiện, kẻ
yếu thế mà thôi. Dùng con quạ để ví Nguyễn
Hữu Chỉnh cũng tạm được, còn dùng con diều
để ví với Nguyễn Huệ thì sao? Chấp
nhận được không? Chắc chắn là sự
ví von đó có ác ý chứ không phải xuất phát từ những
tấm lòng ngưỡng vọng Nguyễn Huệ mà vội
bàn xa đến chuyện hợp thiên thời, địa lợi
và nhân hoà!
Ở đây, tuy không nhìn thấy bóng dáng những con chim
quyên, chim cuốc... ở ngoài trời, nhưng có lẽ
trong lòng người Việt ly hương đã nhiều lần
nghe văng vẳng tiếng kêu buồn thương, thảm
thiết của các giống chim này! Ðỗ vũ, đỗ
quyên hay chim cuốc luôn khơi dậy trong ta những nỗi
đau và những niềm nhớ khôn nguôi...
Chim quyên xuống đất
ăn trùn
Anh hùng lỡ vận... lên nguồn đốt than!
Những hiện tượng
này, những nghịch cảnh này ta đã gặp rất là
nhiều sau ngày... tan đàn, xẻ nghé! Tôi lại nghĩ về
những con chim nhỏ nhắn, hiền hòa: chim sâu, chim én
chim nhạn... Khi đặt chân lên vùng rừng núi quận
Hoài ân (Bình Định) vào một buổi chiều tà, ta
được chim én nhắc nhở chàng Lía, một kiểu
Từ Hải Việt nam:
Chiều chiều én liệng
Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành
Nhắc đến chim én, chim nhạn, chim cắt... tôi lại
nhớ đến câu viết của một nhà văn Tây
phương cách đây vài thế kỷ mà ngày trước
chúng tôi thường lấy làm quan niệm sống của
mình: "Thà làm một con chim nhạn bay là là trên mặt
đất còn hơn là làm một con chim cắt bay trên tầm
cao quá mức để rồi từ đó bổ xuống
làm những việc xấu xa đê hèn". Chim câu, chim sâu
và chim quạ vẫn hót, vẫn kêu ở quanh đây, tôi lẩm
nhẩm câu "Chim chuyền buội ớt líu lo..." và
muốn đổi lại:
"Tiếng chim đất
khách líu lo...
Nhớ thương quê cũ, ốm o gầy
mòn!"
BÙI THÚC KHÁN