|
|
||
|
Font
Unicode

BÙI GIÁNG
Kẻ cuồng sĩ trong vuờn
cây
PHẠM XUÂN ĐÀI
Hiện nay có lẽ không có một người nào
trong giới văn nghệ trước đây ở miền
Cuộc
sống của anh tại Sài Gòn là của một cuồng sĩ,
khi thì thu mình trong túp lều của anh tại
một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định
trong cơn điên. Những cơn điên như là dưỡng
chất cho cuộc sống và đặc tính của anh,
nó làm cho anh bùng cháy lên, phát tiết một cách thê thảm những
gì có trong anh, sống với anh, là chính anh, mà anh không nói ra
được. Ngôn ngữ đời thường
bất lực. Chỉ có thơ và những cơn
điên. Thơ Bùi Giáng tung hoành bên trên lề
thói thi ca, cũng như ngôn ngữ và cử chỉ điên
khùng vượt ra khỏi khung khổ của cuộc sống
xã hội. Bây giờ anh ít làm thơ lắm,
còn các cơn điên thì viếng anh gần như định
kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi,
nhưng thường xuất hiện vùng chợ
Trương Minh Giảng (chỗ Ðại Học Vạn Hạnh
là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ), đứng giữa
đường vung tay điều khiển xe cộ, cử
chỉ rất linh động, đặc biệt là đôi
mắt sáng quắc bừng bừng. Anh
đang thể hiện một năng lực nào đấy
đầy ắp trong người anh. Có khi anh múa may
trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ
chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt
nộ với một đối tượng vô hình đang
hiện diện ngay trước mặt mình. Ðêm khuya một
hai giờ sáng người ta nghe thấy một người
vừa đi vừa tranh luận với chính mình, lời lẽ
khó hiểu, thì ai nấy đều biết đó là Bùi
Giáng. Chỉ có các em nhỏ là im thin thít. Ðối với chúng, "ông Bùi Giáng" là ông ba bị
thực sự hiện diện trên cõi đời này. Gầy
gò, dơ bẩn, tóc hoa râm có khi dài chấm vai, quần áo tả
tơi, hay múa may la hét, đôi mắt sáng rực một cách
ma quái sau cặp kính trắng, tất cả thành viên các nhà
trẻ vùng chợ Trương Minh Giảng đều thất
kinh với hình ảnh ấy. Hình như nhà nào
ở khu vực này cũng biết dọa con nít khóc nhè bằng
câu "Ông Bùi Giáng đó, nín đi" và câu dọa có hiệu
lực tức thì. Nhưng nhiều người lớn
khi nói câu ấy thì cảm thấy một nỗi xót xa vô hạn,
thương cho một người mà họ biết trí thức
và tài hoa, nhưng định mệnh đã buộc anh phải
tự thể hiện một cách dữ dội và khác
thường như thế. Chính Bùi Giáng sau những cơn
điên đều kiệt sức vì đã phung phí năng lực
quá nhiều, anh nằm im trong một thời gian, tinh thần
tỉnh táo nhưng suy sụp và cảm thấy một nỗi
buồn vô bờ bến.
Bùi
Giáng sinh năm 1926, con cháu họ Bùi là một tộc lớn
gốc ở Vĩnh Trinh, tỉnh Quảng
Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa
rừng sim
...
Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc với trời đất mang
mang
Với bò giữa rừng
hoang đương gặm cỏ.
Cuộc đình chiến năm 1954 là một vận
hội đối với anh. Sài Gòn, thủ đô thời
ấy, đang chuyển mình để thành một trung tâm
chính trị văn hóa kinh tế lớn, cùng với cuộc
di cư của đồng bào miền Bắc, bao nhiêu tinh
hoa của cả miền Nam đang dồn về đây. Các trường đại học được
thành lập, không khí văn hóa khởi sắc trước một
vận hội mới. Bùi Giáng đến
Sài Gòn, hòa nhập ngay vào không khí ấy. Sau chín năm cắt
đứt với học vấn đích thực để
thả hồn trong đồi sim với bầy bò hoặc
sống "Nỗi lòng Tô Vũ" cạnh bầy dê, giờ
đây Bùi Giáng trở lại với chữ nghĩa. Thoạt đầu, anh đến với Ðại
Học Văn Khoa, nhưng rồi anh tự học.
Anh đọc rộng về triết học và văn học,
thậm chí tự học tiếng Ðức để có thể
đọc nguyên văn các tác giả Ðức, đi dạy
Việt Văn, viết sách giảng luận về văn học
(các luận đề văn chương), về triết
học (Tư Tưởng Hiện Ðại 1962; Heidegger
và Tư Tưởng Hiện Ðại I, II - 1963...) dịch
sách và viết văn, làm thơ (Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn,
Ngàn Thu Rớt Hột, Màu Hoa Trên Ngàn, xuất bản trong
các năm 1962, 63). Nghe nói có thời gian anh vẽ
tranh. Ðó là một con người sung mãn sáng tạo. Các
bản dịch của anh dù là triết học hay văn học
đều là các sáng tạo đẹp đẽ để
nuôi sống được tinh thần nguyên bản. Trong
vòng hai mươi năm (1955-1975) Bùi Giáng đã tạo nên một
văn nghiệp đồ sộ, và cũng trong thời
gian ấy, lúc nhặt lúc thưa, khi nặng khi nhẹ, các
cơn điên vẫn đến với anh. Anh
không có gia đình.
Từ sau năm 1975, cuộc sống của Bùi
Giáng suy sụp xuống một bực, các cơn điên có
vẻ mạnh và thường xuyên hơn. Trong vòng
đùm bọc của bà con, anh được cư ngụ
trong một căn lều nhỏ làm riêng cho anh giữa một
khu vườn đầy cây lá. Chỗ ở
thích hợp với anh lạ lùng. Nó như một cái
am của ẩn sĩ, như "túp lều lý tưởng"
cho một nhà thơ, lại cũng là nơi nương náu
đầy may mắn của một kẻ không vợ không
con không sản nghiệp. Ở đấy anh được
yên tĩnh và tự do. Cái góc xanh tươi kín đáo ấy
giữa đất Sài Gòn hỗn độn sau 1975 là một
món quà đặc biệt mà số phận dành cho một kẻ
tài hoa lận đận nhưng rõ ràng là cũng có phước
có phần.
Cái
ông già gầy gò ngoài sáu mươi ấy lấy đâu ra sức
lực để trải qua các cơn điên dữ dội
của mình? Ðấy là một điều bí ẩn.
Ði lang thang hàng chục cây số bất kể
nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ
lực sĩ chưa chắc đã làm được. Hay là
anh được "tiếp dẫn" một lực
nào từ bên ngoài? Nhìn anh lúc giữa "cơn" sẽ thấy
rõ ràng một mãnh lực trào dâng không thể kềm chế,
đôi mắt lấp lánh vừa điên dại vừa thông
minh như muốn nói nhiều điều, như đã hiểu
thấu nhiều điều. Những giây phút
thăng hoa cực điểm. Giây phút một con
người có thể thành thần.
Bây giờ Bùi Giáng không bao giờ nói về những
gì mình đã trước tác. Với anh những cái
đó hình như chỉ có giá trị khi anh đang sáng tạo
ra chúng. Xong rồi, quên rồi. Anh là một khối tinh thần đang chuyển
hóa chứ không phải là một tác giả thỏa mãn với
một sự nghiệp. Nay lo tái bản cuốn này,
mai được mời thuyết trình về cuốn kia, anh hoàn toàn chẳng biết một tí gì về
những điều như thế. Nếu nói
là nói cái bây giờ, mặc dù đó có thể là điều
rất cũ nhưng nó phải đang tươi roi rói
trong tâm thức của anh. Ðó là chỗ Bùi Giáng rất
khác chúng ta, những "người phàm," được
hiểu là những con người bám chặt lấy đời
sống xã hội với tất cả các hệ lụy của
nó. Anh không có gia đình nên chẳng bận tâm
về vợ con; không có của cải riêng nên chẳng bận
tâm chuyện mất còn; không màng tới địa vị danh
vọng (dù là trong văn giới) nên chẳng khổ tâm chuyện
hơn thua. Phải chăng như thế anh đã có
được các điều kiện căn bản của
một bậc chân tu? Bao nhiêu người thực
sự thoát khỏi tham sân si như anh? Tinh thần,
đời sống, văn thơ anh là một khối không
phân biệt, anh đạt đến chỗ nhất quán một
cách hồn nhiên. Không biết đó có phải
là trạng thái của các bậc hiền triết thời
xưa khi tất cả sự sống là một nguyên khối
chưa đi vào thế giới ý niệm chẻ nhỏ mọi
thứ ra khiến xã hội loài người vừa văn
minh vừa điêu đứng? Bùi Giáng hay nói về cõi
"lãng đãng phiêu bồng," phải chăng muốn
diễn đạt một cách tương đối cái chỗ
ngọn nguồn ấy? Trong thơ của anh Bùi Giáng cũng
hay dùng hai chữ "cố quận".
Ðất hoa khóc vĩnh biệt người
Ngàn cây cố quận đổi
lời sương thâu.
Người đọc dần dần cảm
thấy cố quận không còn là một thực thể
địa lý của một thời đã qua mà chính là một
vùng tâm thức xa xưa nào đấy trong ý thức tập
thể của loài người.
Ðây là một hình tượng gợi cảm rất Việt
Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố
quận muôn trùng ta đi.
nẻo quê
chung, cố quận, luôn luôn là một nỗi niềm
trong thâm sâu mỗi chúng ta?
Có lẽ vì tinh thần không vương hệ
lụy, thơ của Bùi Giáng tràn đầy một loại
ngôn ngữ tài hoa, bình dị, táo bạo, bất ngờ. Ðôi khi như là lời lẽ
dân gian nhưng mang tính chất cực kỳ bác học.
Ðôi khi như một lời văng tục
nhưng lại cực kỳ tài hoa. Và nhất là không theo một đường mòn nào cả. Mỗi câu thơ Bùi Giáng là một lối lạ mới
phá nhưng luôn luôn mang đầy đủ bản sắc
của anh. Trong tâm thức lãng đãng
phiêu bồng, anh nói ra những ngữ, những điệu
thuộc về thế giới của anh. Anh xa lạ với những diễn dịch của
trí tuệ, lý luận chẻ sợi tóc làm tư của cung
cách học giả. Lời thơ của anh lắm khi
kỳ lạ đối với chúng ta, nhưng chúng ta luôn
luôn thích thú với sự tập hợp chữ nghĩa ấy,
vì thấy nó "hay", gần giống như khi đọc
âm chữ Hán một bài thơ Ðường, có khi không hiểu
hết nghĩa nhưng tâm hồn vẫn bàng bạc một
nỗi cảm hoài. Có thể thơ Bùi Giáng nói được
đôi điều rất chân thật với tâm hồn ta,
và ta được hưởng ít giây phút sung sướng
phiêu bồng mà hầu hết chúng ta đã đánh mất,
đã rời quá xa trong cuộc sống đầy phân chia
đến chỗ cằn cỗi này. Ta có thể chia sẻ
chút nào chăng trong các câu thơ Bùi Giáng viết đã lâu rồi
để tự giới thiệu mình:
Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu
đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi
tâm.
Ngày nay, một cách đùa cợt cho mình là
đười ươi, kiểu cách khác hẳn xưa,
nhưng điều anh muốn nói hình như không khác:
Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười
ươi
Lời rằng quyết tuyệt và
tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay...
Bùi Giáng chịu ảnh hưởng sâu đậm
của Nguyễn Du và truyện Kiều. Nguyễn Du và truyện Kiều
đã hóa thân vào anh. Ngôn ngữ Nguyễn Du đã
biến thành ngôn ngữ của anh tự nhiên như thức
ăn biến thành sự sống của
sinh vật. Anh gọi Terre Des Hommes của
Saint Exupéry là Cõi Người Ta, tài tình đến sửng
sốt nhưng lại tự nhiên như dùng một tiếng
Việt vốn có từ nghìn xưa. Không
phải là anh "lẩy Kiều" mà là tạo ra một
"ngôn ngữ Kiều." Khắp mọi nơi
trong thơ anh, ngôn ngữ ấy luôn luôn lãng đãng như gần
như xa:
Chiêm bao hội thoại ngân dài
Ý trong tờ mộng nhớ ngày Việt Nam
Trăng Gò Vấp sương Ða Kao
Huệ lan sực nức
niềm khao khát chờ
Tưởng bây giờ là bao giờ
Sát na niệm tưởng
chép thơ tặng người...
Dấu bèo phong vận nguy nga
Sống phơi trường mộng đầu
hoa cuối cành
Dập dìu quân nhạc đại doanh
Ngàn thu rớt hột thập
thành trở cơn.
Về sau chẳng biết vân mồng
Ra sao thế nọ phiêu bồng thế kia...
Gần đây một hôm đang trò chuyện
với vài người bạn trong khu vườn cây, đột
nhiên anh la lớn: "Nguyễn Du đâu phải như Trần
Trọng Kim 'phân tích', vẽ ra cuộc đời Kiều
để nhằm gởi gắm tâm sự này nọ của
mình! Nguyễn Du khác hơn nhiều, không phải
như thế, không phải như thế!"
Tuy
anh không nói rõ về Nguyễn Du là như thế nào -thời
gian sau này ít khi anh nói mọi điều một cách khúc chiết-
nhưng qua mạch câu chuyện cùng là nhìn anh và nghe anh trong
lúc ấy, người đối diện phải hiểu
rằng theo anh, Nguyễn Du đâu có bận tâm về những
chuyện biện minh cho mình về chuyện thị phi ở
đời như trung với triều đại hay làm quan
với triều đại khác, Nguyễn Du vượt xa
cao hơn những cái đó, muốn trình với đời
nỗi đau khổ của con người trong thiên thu.
Nỗi đau như là bản chất vĩnh viễn của
cuộc sống, của vô minh nhưng được miêu tả
trong thân phận một con người và một hoàn cảnh
lịch sử xã hội cụ thể. Cũng cụ thể
như những cảnh sinh, lão, bệnh, tử mà thái tử
Tất Ðạt Ða chứng kiến trong những lần du
hành của mình để làm khởi điểm cho một
chứng nghiệm cứu đời vĩ đại. Rõ
ràng tác phẩm Nguyễn Du cũng là một phơi bày
như thế, một đánh động thê thiết đầy
nhân bản về thân phận con người, đồng
thời cũng hé lộ cho thấy khả năng đầy
lạc quan của nó. (Tìm cách diễn dịch Bùi Giáng như
thế có thể là... liều mạng, nhưng biết sao,
đành phải cố gắng "hiểu" anh với
khả năng trí óc và ngôn ngữ hạn chế đời
thường của mình thôi).
Người đọc Bùi Giáng trước năm 1975 tất
nhiên rất quen thuộc với các "nhân vật nữ"
của anh: Kim Cương, Marilyn Monroe, Phùng Khánh..., toàn là những
nhân vật có thật của đương thời. Tuy thật
nhưng họ hiện diện trong văn thơ anh, như
một hư cấu, như một tượng trưng.
Tuy được nhắc đến lúc nào cũng như với
chút bông đùa, cái mà họ tượng trưng lại vô
cùng nghiêm trang: mẫu thân, mẹ. Phải
chăng Bùi Giáng muốn nhắc đến cái nguyên lý sinh
sôi và êm dịu -yếu tố Nữ- vốn có trong trời
đất qua tên những người đàn bà quen thuộc
nổi tiếng ấy? Nhưng đây là thuộc phạm
vi tư tưởng. Từ
sau năm 1975 thơ anh có nhắc đến một người
đàn bà khác nhưng với một cung cách khác hẳn.
Không bông đùa mà thân mật. Không tượng trưng mà đầy cảm mến.
Và vẫn bàng bạc một tâm tư sùng bái như trước
kia.
Tâm tùy thị hiện sát na
Căn do Hoàng thị đầu hoa Chiên Ðàn
Cội trồng ánh ngọc cưu mang
Tờ rung Hoa Tạng dư vang vô ngần.
Hoàng thị... Ðó là một
người có thật, trong họ hàng bên ngoại mà Bùi
Giáng gọi bằng dì (nhưng tuổi nhỏ hơn Bùi
Giáng ít nhất một giáp). Cũng vốn là giòng dõi
thi văn, người dì từ lâu đã lấy làm khâm phục
ông cháu tài hoa họ Bùi, và nhà thơ của chúng ta, trong những
cơn vật vã sau 1975, luôn luôn nhắc đến người
dì một cách trìu mến. Ðây lại là một "nhân vật
nữ" nữa của Bùi Giáng, nhưng nhờ sự gần
gũi họ hàng, nhờ sự chăm nom thăm hỏi từ
xa của người dì, nhân vật nữ này trong thơ
Bùi Giáng không thăng hoa để thành một tượng
trưng của ý niệm triết học mà lại thành một
tình thương mến pha nhiều màu sắc trân trọng
nặng tính chất đời thường.
Giữ ngọc gìn vàng trân trọng chút
Nghìn thu cổ lục sẽ
mai sau
Hoàng Trang Thy Thỵ còn vang mãi
Cùng điểm quần thoa điểm
điểm màu
Ân lộc nghìn kho lả lướt chào
Chùm chùm xuân sắc hộ xuân trao
Hồ Hương Ðoàn Ðiểm Thanh Quan huyện
Cùng xiết bao quần cân quắc cao.
Rõ ràng phong cách thơ Bùi Giáng bỗng chững
chạc lại trước dì Trang. Hình như
đã lâu lắm thơ anh phóng túng như một chàng
đãng tử không nhà, bỗng trở nên lễ giáo như một
thời nào trẻ trung chàng còn đang vòng kèm cặp của
nghiêm đường. Người dì
đã làm nhà thơ nhớ lại nếp xưa? Ta hãy
đọc bài Hoàng Hoa Giữa Phố mà tác giả làm
để riêng tặng dì Trang, để thấy thêm một
chút phong cách xưa của anh:
(Màu con mắt bên mùa xuân xiêu đổ
Ở bên kia nhìn ngó lại
bên này
Gió lắt lay bốn
phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi
với hai tay)
Hoàng Hoa phố chợ niệm tình
Chép câu ủy tạ chưa đành bởi
đâu
Hoàng Hoa Phố Thị hương màu
Ði thiêm thiếp cõi mai sau lạ lùng
Hoàng hoa tinh thể não nùng
Từ mai hậu với vô
cùng Hôm Nay
(Kính tặng Dì Trang)
Và bài Tưởng Niệm,
cảm hứng từ một câu thơ của dì Trang:"Mừng
mãi chưa quên nỗi bẽ bàng" (Hoàng Trang Thị)
Chim xa cất cánh bay vù
Nhớ Lâm Tuyền Mộng
đất phù du hoa
(Hồi sinh hồng lệ
trao quà
Từ bình nguyên rộng lại
nhà thăm nhau)
(Em về mấy thế kỷ
sau)
Ngồi bên gốc cây
Ngủ trên ngọn sóng
Ði giữa trời mây
Tần ngần nghe ngóng
(Buồn vui như thể
thân mình
Ai chia nửa máu ai giành nửa
xương)
Cũng trong khu vườn
ấy, một lần Bùi Giáng kể: "Khi ta còn nhỏ,
khoảng bốn năm tuổi, mỗi khi mẹ đi vắng,
ta nhớ ghê lắm, ngồi một mình đầu hè trông
ngóng mẹ về. Nhưng khi mẹ ta về, bà không ngó tới
ta, mà chạy thẳng vào nhà ôm lấy thằng em của
ta!..." Trong Bùi Giáng, niềm khát khao Mẹ không lúc nào
vơi, dù là lúc còn thơ hay khi tóc đã bạc. Dù niềm khao khát có thể
thăng hoa thành nguyên lý Mẹ phổ quát, nhưng trong đời
sống của anh lúc nào cũng cần có những "mẫu
thân" nâng đỡ suốt đường đi. Dù các mẫu thân ấy có thực một
cách hư cấu hay hư cấu một cách rất thực,
thì vẫn là một niềm an ủi êm dịu
cho tâm hồn dằng dặc khao khát vỗ về của
nhà thơ.
Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục
mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca của
anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đốm nhỏ, có
khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay,
nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ
đầu cho đến bây giờ. Anh không bao giờ tự
phủ nhận mình để bắt đầu lại từ
đầu -nghĩa là tắt ngọn lửa của mình
đi để thắp lên một ngọn theo
kiểu khác hẳn. Anh cũng thoát khỏi các
hệ lụy của đời thường để
không lâm vào cảnh lúng túng hoặc đối đầu khi
hoàn cảnh hoàn toàn thay đổi. Ở
giữa đời mà quả thực anh không dính dáng với
cõi trần. Nếu đừng hiểu chữ ung dung
tự tại một cách quá chặt chẽ thì quả là anh
đã đạt tình trạng ấy, theo
kiểu của anh. Trước sau anh nguyên vẹn.
Có thi nhân nào của Việt

Phạm
Xuân Đài
(Trich tu
http://www.lebichson.net/Quehuong/06BuiGiang.htm)