Vol. 27  10/2005            Đặc San Vietvodao năm thứ năm              5th year edition

 

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

Từ "Cái Chết Của Tây Phương" Đến Tuyệt Sinh, Vô Tính Và Nhân Chủ Đông Phương

 

Cao Thế Dung

 

-         Con người "đang chết" ở tây phương

 

      Cố giáo hoàng Gioan Phaolồ II hơn một lần cảnh tỉnh Tây phương về một nền văn hóa chế. Nhà báo lănh thành Patrick J. Buchanan, từng là cố vấn cho ba đời tổng thống Hoa Kỳ, năm 2002, ông cho xuất bản cuốn "Cái Chết Của Tây Phương - The Death of the West" - một trong những sách bán chạy nhất của Nữu Ước Thời Báo (The NY Times best seller - Thomas Dunne Books, N.Y 2002, 310pp).

 

       Văn hóa Tây phương, trong đó có Hoa Kỳ, đang băng hoại một cách trầm trọng và có thể tan ră không bao xa nếu không chận đứng. Thứ nhất là Tây phương không chĩu đẻ. Phong trào nuôi con nuôi ở Mỹ đang lên cao. Thỏa hiệp nuôi con nuôi Việt-Mỹ kư kết tại Ṭa Bạch -c ngày 21-06-2005 vừa qua, chắc hẳn sẽ tăng "dân số" con nuôi Việt Nam ở Mỹ vào những năm tới. Hiện nay con nuôi Việt Nam đang được ưa chuộng ở Mỹ và Canada. Lấy nước Ư và Đức Quốc làm thí dụ. Nếu cứ đà gioảm sinh như hiện nay và không có di dân, cuối thế kỷ này, dân số Đức chỉ c̣n 38.5 triệu so với 82 triệu hiện nay, giảm 53%. Ư là một nước Công Giáo đa số chủ thể, cuộc thăm ḍ của tạp chí Noi Donna cho biết, 52% phụ nữ Ư tuổi từ 16 đến 24, quyết định không có con. Thủ đô Luân Đôn tràn ngập di dân, năm 2010, dân Anh da trắng Luân Đôn sẽ trở thành thiểu số. Số sinh ở Anh năm 2001 giảm 3% so với năm 2000 (xem: The Death of the West, sđd, pp 11-19). Năm 1966, khoảng 6.000 vụ phá thai một năm ở Mỹ. Năm 1970 tăng lên 200.000 vụ. Năm 1973, tăng lên 600.000 (Terry teachout, "The 49 percent nation" - National Journal, June 9-2001, dẫn bởi P. J. Buchanan).

 

          Đầu thế kỷ 21 này, khoảng 40 triệu vụ phá thai ở Mỹ. Số phá thai gia tăng không ngừng, mang bầu 5, 6 tháng vẫn phá thai. Năm 2000, cục Thực Phẩm và Thuốc Liên Bang Hoa Kỳ (The Food và Drug) chấp thuận loại thuốc phá thai RU-486 tự mỗi cá nhân xử dụng "do-it youself abortion drug" để phá thai 7 tuần lễ đầu. Không một hăng thuốc Mỹ nào muốn liên hệ với loại thuốc RU-486. Một hăng bào chế Trung Quốc lao vào ngay, sản xuất bán cho Mỹ loại RU-486. Buchanan mai miả rằng đây là hành động Trung Quốc giúp một quốc gia tự tử khi quốc gia ấy (tức Mỹ) đang ngăn chận con đường của Bắc Kinh tiến lên bá chủ Á Châu, cường quốc thế giới (sđd, p. 27). Theo Buchanan Tây phương đang lao vào cuộc chiến hủy hoại con người, đang tàn phá cái gốc của con người". Nhân loại ở Tây phương đang mất quá khứ hay đúng hơn, tự xóa bỏ quá khứ, đánh bật gốc rễ con người. Năm 1984, George Orwell, nhân vật danh tiếng Mỹ (Big brother) lên tiếng cảnh cáo dân Mỹ: "Ai kiểm soát được dỹ văng là kiểm soát được tương lai. Ai kiểm soát được hiện tại là kiểm soát được quá khứ" (Who controls the past controls the future. Who controls the present controls the past). Trong bài diễn văn nổi tiếng của cố TT Reagan giă từ Ṭa Bạch -c và dân Mỹ, cụ cảnh cáo dân Mỹ "Nếu chúng ta quên những ǵ chúng ta đă làm, chúng ta sẽ không biết chúng ta là ai". (If we forget what we did, we won't know who we are)... Cụ nói tiếp: "Tôi báo động để (quốc dân) biết rằng, đang có sự làm tiêu ṃn kư ức Mỹ (the eradication of the American memory) có thể đưa đến kết quả ngay tức khắc là làm tiêu ṃn tinh thần Mỹ (an erosion pf the American spirit - xem: AP Jan-12-1989, Text of Pr. Reagan's Farewell address).

                    

***

 

        Con người đă và đang chết ở Tây phương và ở cả Á Châu, như Việt Nam và Trung Quốc. Năm 2004, khoảng 1.500.000 vụ phá thai ở Việt Nam không kể lén lút. TQ là một thế giới tử thần thai nhi. Thêm một bước nữa, Tây phương đang tiến đến hợp pháp hóa hôn nhân đồng giống. Ngày 28-06-2005, Quốc Hội Canada (The House of Commons) đă bỏ phiếu chấp thuận bảo đảm đầy đủ quyền hôn phối cùng giống (guarantee full mariage rights). Nghĩa là chấp nhận sự tuyệt sinh trên pháp luật (không c̣n từ vợ chồng - không có vợ, không có chồng, chỉ c̣n hai phối ngẫu nam với nam, nữ với nữ). Con người đă quên quá khứ "đấu tranh sinh tồn". Không biết đến tương lai tuyệt chủng. Quên quá khứ của chính con người do cha và mẹ lấy nhau, năm - nữ ăn nằm với nhau, yêu nhau, giao t́nh với nhau để sinh ra ḿnh. Muôn loài đều như thế. Ái nam ái nữ là do tiên thiên thụ tạo, không có tội t́nh ǵ. Nhưng "gay" và "lesbian" ở Tây phương lại là một "mốt" (fashion) hay một hiện tượng (phenomenon) thời thượng. Con người đă quên di sản từ khi con người được sinh ra ở trên trái đất này. Con người đă quên cả đất nước của ḿnh do những thế hệ kế tiếp nhau xây dựng, tài bồi, phát triển và bảo vệ. Tuyệt sinh là không c̣n lịch sử, không c̣n tương lai. "Gay" và "Lesbian" ở Tây phương không hẳn là "tiên thiên bất túc" từ trong bụng mẹ. đa số lại do lối sống tuyệt sinh. Tây Ban Nha theo chân Canada (The Washington Post, July-01-2005, "Spain legalizes same sex marriage". Canada theo chân Ḥa Lan... Và cứ như thế, tuyệt sinh là tuyệt chủng.

 

- Một vài sơ dẫn về nền nhân chủ Việt Nam

       Đáp án của Tây phương về tuyệt sinh và vô sinh - "cloning" như thế nào? Không có đáp án nào cho tuyệt sinh và vô sinh. Con người là con người. Con người là nhân đạo, nhân chủ. Cố giáo hoàng Gioan Phaolồ II đă đề ra chủ thuyết nhân chủ - Antropocracy, một giáo sư triết học gọi là "Nhân chủ chi đạo" (xem: Trần Văn Đoàn, Ph.D Việt Triết Luận, T. Thượng. The Univ. press of VN, Washington DC 2000, chương VI "Nhân chủ chi đạo - Từ triết lư Nhân Chủ của Gioan Phaolồ II tới Nhân đạo, tt 252-273).

 

     Thế kỷ thứ 11 dưới triều Lư, hai chữ Nhân Chủ đă được các thiền sư Việt Nam đề cập tới. Thiền sư Viên Thông (1080-1151), làm tăng quan dưới triều vua Lư Nhân Tông, được phong quốc sư (quê làng Cổ Hiền, Nam Định, tu ở chùa Quốc Ân). Năm Đại Thuận thứ 3 (1130), vua Lư Thần Tông mời quốc sư vào điện Sùng Khai. Vua hỏi về lư trị loạn hưng vong trong thiên hạ. Sư đáp: "Thiên hạ cũng như đồ dùng, để chỗ yên th́ được yên, để cho nguy th́ bị nguy, xin đấng nhân chủ hăy làm sao được như thế. Dùng đức hiếu sinh hợp với ḷng dân, cho nên dân yêu thương như cha mẹ, trông ngóng như trời trăng. Đó là để thiên hạ vào chỗ yên vậy." (Lê Mạnh Thát (Thượng tọa Pháp Siêu, giáo sư - Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, "Quốc Sư Viên Thông, tt. 300-302). Các vua triều Lư thường được tôn là đấng Nhân Quân.

 

       Đă có một chủ đạo con người, một cách khác Nhân Chủ trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Người CSVN gần đây đă vinh tôn Nguyễn Bỉnh Khiêm, người là tác giả chủ nghĩa Nhân Đạo, đúng ra phải gọi là Nhân Chủ. Sau nhiều năm câu thúc dưới chế độ cộng sản và chủ nghĩa duy vật Mác-Lê, một học giả tỉnh thức, t́m về Nguyễn Bỉnh Khiêm với truyền thống chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam: "Các nhà sử học cũng như các nhà văn hóa Việt Nam đều nhất trí nhận định rằng: nội dung cơ bản của lịch sử dân tộc ta, xa th́ từ thời Văn Lang, Âu Lạc (trước CN) gần hơn th́ thời họ Khúc, nhà Ngô (thế kỷ X) là giữ nước và dựng nước; và truyền thống cơ bản về văn hóa của dân tộc ta - tức toàn bộ các giá trị tinh thần, đạo đức thể hiện trong mọi h́nh thái văn hóa như triết học, tư tưởng, nghệ thuật, văn chương, v.v... là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. Hai truyền thống đó gắn bó chặt chẽ với nhau: thương nước tức là thương dân, thương dân tức là thương người. Truyền thống đó được đúc kết trong hai khái niệm của Nho gia Trung Quốc song được đồng hóa theo tinh thần Việt Nam, đó là "Nhân nghĩa". (Trần Thanh Đạm (GS) "Nguyễn Bỉnh Khiêm trong truyền thống của chủ nghĩa Nhân Đạo Việt Nam", Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Viện KHXH - Trung tâm NC Hán Nôm. Nxb Đà Nẵng 2000, tr. 117-124).

 

     Hơn ba thế kỷ rưỡi sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, một thiên tài xuất hiện, Thái Dịch Lư Đông A đưa Nhân Chủ và chủ thuyết với ư thức hệ vượt ra khỏi biên giới quốc gia, dân tộc đi vào nhân loại. Thái Dịch đă mở ra con đường mới cho cả loài người. Đó là con đường Nhân Chủ.

 

       "Loài người trên giai đoạn mới mở ra đây, đă tự phụ là văn minh và giác ngộ, không thể công nhận được cái mi hệ của tự nhiên vận động (luật cạnh tranh và thiên diễn) được nữa. Bao nhiêu những vinh quang chỉ là những hư hăo dưới một cơn băo táp hối hận...

 

         .... Cho nên văn minh nhân đạo bằng không có nhân chủ bác ái là giả dối. Lịch sử nhân đạo bằng không có nhân chủ trách nhiệm là phi nhân. Một công cuộc ǵ của nhân loại không có nhân chủ tự giác là thất bại lịch sử... Nhân chủ là thế nào? Bằng chủ đạo của loài người, có thực tự giác lănh đạo loài người, cùng chung sống được vô cùng măi măi trên Thái B́nh và Vạn Xuân, mục tiêu trên chính trị của chủ nghĩa nhân chủ. Một cuộc cách mạng nhân chủ phải ra đời để đả phá lịch sử cũ đă thối nát, bắt trách nhiệm các ṇi giống đi tiêu diệt ṇi giống khác, tu chính lại lịch sử bằng sự dẫn dắt tương lai của nhân chủ cương thường, phục hoạt lại cả loài người." (Lư Đông A).

 

        Chỉ có nhân chủ tức nhân đạo, nhân nghĩa và t́nh thương giữa con người với người, giữa xă hội này đất nước này với xă hội khác, đất nước khác mới cứ nguy được thảm kịch "con người đang chết", một nền "văn hóa chết" đang lan rộng.

 

- Từ "cloning" con người và khoa học.

        Con người đă cướp cả quyền Thượng Đế, vô tính hóa (cloning) loài có vú và cả con người, tức tạo sinh vô tính (asexual, c̣n dịch là hệ vô tính), Con người đă t́m ra cấu tử cơ bản của gien, đă khám phá ra những huyền bí của gien (DNA hay là Deoxyribonuclec - acid - the genetic material found all living things; contain the inherited characteristics of every living organism). Nhưng khoa học chưa t́m ra thần, chưa thấy được thần khí. Cái huyền bí tận cùng của DNA cũng chưa t́m thấy. Dầu con người chưa thể làm Thượng Đế nhưng con người đă tiếp cận với Thượng Đế. Chú cừu vô tính hóa ra đời ngày 23-02-1997, gây chấn động nhân loại - không cần nam nữ, đực cái giao cấu, con người vẫn tạo được chú cừu Dolly do khoa học gia người Tô Cách Lan, Anh Quốc Ivan Wilmut và Keith Campell tại Viện Nghiên Cứu Roslin ở Edingburg sau 277 lần thí nghiệm. Chú cừu Dolly ra đời có tất cả đặc tính của một con cừu sinh ra b́nh thường nghĩa là giống như có cha mẹ giao hợp mà sinh ra. Tháng 7-1998, một nhóm khoa học gia Haiwaii, trong đó có Terunhiko Waykaya và Ryuzo Yanagimachi đă nhân bản hóa ba thế hệ chuột bằng phương pháp tạo sinh vô tính. Dù "cướp quyền Thượng Đế" khoa học vẫn phải dừng lại ở những giới hạn huyền bí. Chú cừu Dolly đă chết lúc 6 tuổi, tức là chỉ sống được nửa đời do lấy tế bào của cha nó lúc cha nó đă sống được nửa đời (Time, Feb 24-2003 "Dolly, 6, the world first cloned sheep"). Các khoa học gia đang thi đua vượt nhau về "cloning".

 

      Một bác sĩ Nam Triều Tiên, Woo Suk Hwang đầu năm 2005 đă đạt được mục tiêu "kỳ diệu cloning" từ tế báo cuống vô tính (stem cells) chỉ một bước ngắn là có thể "cướp" quyền Thượng Đế tạo nên một con người vô tính (xem: Inside Korean cloning lab - growing your own stem cells - 4 steps - by Alic Park & Christine Gorman - TIME, May-30-2005). Bác sĩ Griffin, viện trưởng Viện Roslin phát biểu: 97% thất bại trong các lần thí nghiệm mới thành công nhưng hầu như phân nửa các sinh vật (trong đó chuột và cừu) được tạo bằng phương pháp nhân bản vô tính, khi sinh ra đều là quái thai hoặc chết trước, hoặc sau khi ra đời một thời gian ngắn, chú cừu đầy bệnh tật và lăo hóa trước tuổi nhân bản vô tính v́ chú được tạo dựng bằng cái bào của cha chú đă 6 tuổi nên chú vừa ra đời, chú đă được 6 tuổi. Cuối cùng, người ta đă không thể "làm Thượng Đế". Tháng 11 năm 2001, các khoa học gia Viện Kỹ Thuật tiền tiến thai bào "Advanced Cell Technology" ở Worcester, bang Massachsetts Hoa Kỳ đă thành công tạo được phôi bào người (nam) hợp với trứng người nữ (the creation made from the fusion of a single cell and human egg). Và như vậy, khoa học đă tạo tác được một thai nhi. Từ khi một tế bào người kết tụ với trứng cho đến 3 tháng sau gọi là phôi (embrys), sau 3 tháng gọi là bào thai (fetus). Nhưng với Việt Nam và Đông phương xưa th́ không phân ra như vậy, từ khi thụ tinh (fertilized hay fertilized egg, ovum) đă thành mầm người. Lẽ tự nhiên thai nhi học (fetology) Tây y và Đông y khác nhau. Nhưng sự tăng trưởng của thai nhi (fetation) không khác... từ phôi rồi thành h́nh người trong bụng mẹ. Vô tính hóa, khoa học tạo ra nhau; tạo ra bụng mẹ ở pḥng thí nghiệm, nghĩa là khoa học có thể tạo được từ A đến Z thành một con người nhưng chắc là khoa học không thể tạo được cái tế bào đầu tiên ấy, cái trứng đầu tiên ấy. Khoa học gia cần hai tế bào: một tế bào hiến tặng của người (hay lấy từ loài vật như bố chú cừu Dolly) và một tế bào trứng, c̣n gọi là tế bào oocyte (trứng c̣n non). Khoa học biệt lập (isolate) tế bào trứng nhưng tự ở tế bào trứng đă có khả năng của sự cấu tạo và phát triển của trứng (oogenesis). Cái bản chất nguyên ủy này là một bí nhiệm hoàn toàn. Khoa học gia đă có thể tách nhân bào ra khỏi tế bào trứng, tế bào ấy đă mất đi hết những đặc tính về mặt di truyền. Khoa học đă dư khả năng làm biến đi hoặc mất đi đặc tính di truyền nhưng khoa học không thể tạo ra được đặc tính di truyền. Khoa học gia làm mất đi, làm biến đi nhiễm sắc thể (chromatid - chromatin) trong nhân bào (tạo nên chromosomes và có chứa genes) nhưng khoa học không tạo được chrmosomes và genes trong nhân bào. Đó là một bí nhiệm khác. Khoa học gia đă có thể cô lập tế bào người hiến tặng hay lấy từ loài vật, đặt vào t́nh trạng "nằm im đấy", không phát triển để chờ cơ hội, nó vẫn sống đấy, có thể phục hồi (gọi là gap-zero). Khoa học điều khiển được tế bào trứng và tế bào tinh trùng (human), con người đă rất tiếp cận với Thượng Đế "the nucleus is removed from the cell". Thật là kỳ diệu của khoa học. Nhưng khoa học đă không thể tạo được cái nhân bào. Necleus, bộ ohận trung tâm của một nguyên tử (gồm có neutro và proton). Khoa học không tạo được cái nhân nguyên sơ ấy. Khoa học có thể tạo được nguyên tử lực (nuclear force) giữa các "nucleons" để giữ các nhân nguyên tử với nhau, không tạo nhân bào, vẫn là bí nhiệm với proton và nutron (proton, dương điện tử, t́m thấy trong tất cả nhân của nguyên tử, có tích điện dương "positive charge" bằng tính điện âm "negative charge" của điện tử "electron" và có trọng khối (mass) bằng khoảng 1.672x10-24 gam, gần bằng 1836 trọng khối của electron. Newtron, trung ḥa tử, không có điện tính, có trọng khối gần bằng trọng khối của proton).

 

      Khoa học gia như là Thượng Đế, đem tế bào người hiến tặng (tinh trùng) hay lấy từ súc vật cấy vào tế bào trứng qua phương pháp giao phối hay cấy ghép tế bào. Tế bào trứng (nữ) luôn luôn có xu hướng tiếp nhận nhân của tế bào tiếp nhận (tinh trùng). Tế bào trứng giao hợp với tế bào tinh trùng (hiến tặng) sẽ phát triển thành phôi (embryo) một cách nhanh chóng. Phôi sẽ được lấy ra để cấy vào tử cung của người mẹ mang thai dùm. Đó là phương pháp đă tạo ra được chú cừu Dolly. Khoa học chắc không thể giải thích nổi, một người đàn ông già 70 tuổi giao hợp (intercourse) với một phụ nữ 30-40 tuổi, trong một "tích tắc", sinh thực khí của ông già bắn vào tử cung của người nữ 300 triệu tinh trùng, chỉ một tinh trùng "may mắn" gặp trứng giao phối với nhau rồi phát triển thành phôi rồi thành thai nhi và ra đời sau 9 tháng, thành người, em bé này được một tuổi, có thể sống đến 80, 90 tuổi. Tại sao lại không như chú cừu Dolly? Một con cừu đực c̣n sung sức, 5-6 tuổi, giao cấu với con cừu cái 4-5 tuổi, chú cừu đẻ từ bụng mẹ ra đời vẫn là một tuổi, có thể sống đến 12 tuổi. Đó là bí nhiệm, khoa học gia có thể "vô tính hóa" làm một phiên bản khác cho loài chuột, loài cừu và loài người nhưng khoa học gia không tạo được cái tế bào tinh trùng và cái nhân của trứng. Cho dù các khoa học gia có thể điều chỉnh những khiếm khuyết nêu trên, nghĩa là đứa bé hay chú cừu "vô tính hóa" thành một phên bản cũng như sinh ra theo tự nhiên th́ rốt ráo, cái ban đầu nguyên ủy, tức cái nhân của tế bào, khoa học vẫn không thể tạo được. Do vậy, nếu lấy bào của một cụ già 70 tuổi rồi "cloning" th́ "con người vô tính" thành h́nh đă có 70 tuổi như chú cừu Dolly vậy. Nhưng vẫn chưa thể tiên liệu 10 năm, 20 năm, 100 năm nữa, con người, "cloning" và nhân loại sẽ như thế nào.

 

- Tinh - khí - thần

       Dù khoa học thành công tạo được một con người (vô tính hóa và phiên bản) th́ khoa học vẫn không thể vượt được y dịch lư Đông phương, do con người là một hợp thể tinh - khí - thần. Con người là một tiểu vũ trụ. Thái cực của vũ trụ người là ở nơi mệnh môn (cửa vào đời). Bản mệnh thành h́nh từ đó (xem: Hải Thượng Lăn Ông Lê Hữu Trác, Đạo Lưu Dư Vận, tr. 137; Y Trung Quan Kiện, tr. 39).

 

     Thứ nhất là tinh-khí. Tây y chỉ nói đến tinh như tinh trùng chẳng hạn. Đông y không thể vi phân tinh trùng để biết rằng trong tinh gịch (sperm) có chứa các chất spermatozoa để kết hợp với trứng của giống cái tạo nên sự thụ thai. Tây y vi phân đến một tinh bào "spermatocyte" của tinh trùng ở giai đoạn phát triển cuối cùng để thành "spermatozoon (spermatozoa) tinh trùng của mầm bào (germ cell) của giống đực t́m thấy trong tinh dịch (để kết hợp với trứng tạo sự thụ thai, có đầu to và đuôi dài giống như cây roi). Nhưng khoa học đă không tạo được cái mầm bào đầu tiên, dù khoa học tinh vi có thể vi phân cái tầng ba lớp của tế bào mầm đầu tiên của phôi bào. Đó là ectoderm tức là tầng ngoại phôi bào (lớp tế bào bên ngoài của phôi bào) nơi mà thần kinh hệ, da lông, răng được phát triển; rồi đến mioderm tức trung phôi bào nằm giữa ectoderm và entoderm của phôi bào, tạo nên các mô (tissus) liên kết, bắp thịt, cơ quan sinh dục và hệ thống mạch quan. Endoderm, nội phân bào, tức lớp tế bào bên trong của phôi thai, sẽ tạo nên cơ quan tiêu hóa, các hạch, các nội quan khác của nhân thể. Y khoa có thể vi phân tế bào di truyền (germ plasm) t́m thấy trong chromosomes (nhiễm sắc thể có chứa các đơn vị di truyền và đặc tính di truyền tức germs và hereditary characteristics. Giai đoạn này, khoa học có thể "cloning" từng phần, như "cloning" tạo ra phôi bào tim, gan, lá lách và các nội quan khác của nhân thể, rồi đặt vào t́nh trạng "gap zero", tuy vẫn c̣n sống nhưng nằm im, chờ "cơ hội" sẽ cho phục hồi, phát triển... nhưng không cho phát triển toàn thể để thành một thai bào và thành người. Nhờ vậy, có thể cloning tim, gan, lá lách, thận, v.v... để phục vụ y khoa (thay tim, thay phổi...) (The Washington Post, "From clones to stem cells to tissue", Nov-26-2001).

 

       Đến đây th́ con người khoa học đă là "trời" ở trần gian. Nhưng vẫn thua trời v́ không tạo được khí và thần trong con người. Với Đông y không có tinh riêng mà là tinh khí. Tinh-khí-yjần không thể tách rời. Với Đông y, y là dịch, nói như Hải Thượng Lăn Ông (đọc Lưu Dư Vận) và Nguyễn Đ́nh Chiểu (Ngư Tiều Vấn Đáp).

 

      Dịch là "siêu khoa học", là đỉnh văn minh của loài người. Rút lại, có âm và dương là có đủ, là có người.

 

       Người là âm dương hay càn khôn (trời và đất - trời cha, mẹ đất). Thế kỷ 17 Tây phương sửng sốt, kinh ngạc trước một Đông phương với dịch, với Nho, Phật và Lăo trong đó con người lừng lững xuất hiện, một chủ thể nhân gian. Trời tuy ở trong con người (Phật tại tâm). Con người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ.

 

- Từ khoa học đến dịch, y dịch và sinh mệnh

       Tri thức và sự sáng tạo của con người thật gần gụi với trời là do có trí tuệ và bàn tay của trời nơi con người. Khoa học có thể từ một tế bào hiến tặng (a donor cell) như của chú cừu Finn Dorset, có thể nhân tạo hóa ra nhiều phiên bản có cùng một nhân bào. Tế bào hiến dâng được đặt trong một cái dĩa, dĩa cấy ghép, nuôi dưỡng trong một hợp chất chỉ vừa đủ năng lượng để cho tế nào này sống nhưng đặt nó ở trong t́nh trạng "gap zero". Tách nhân tế bào trứng của cừu black face ra khỏi tế bào, đặt nó bên cạnh tế bào hiến dâng. Từ 1 đến 8 giờ, từ lúc nhân bào được tách ra khỏi tế bào trứng, người ta dùng cơ năng điện tử xúc tác, phối hợp hai tế bào lại với nhau, đồng thời khích động sự phát triển của phôi. Con người đă trở thành bậc sáng tạo (the creator). Nhưng xin được nhắc lại, c̣n bao nhiêu những bí nhiệm khác, con người không sáng tạo nổi. Người ta có thể tách một tế bào ra khỏi phôi thai (trường hợp sinh đôi). Một khi trứng đă kết hợp với tinh trùng th́ khởi sự là tiến tŕnh phân bào. Nếu trứng thụ tinh phân chia thành 8 tế bào phôi chẳng hạn, 8 tế bào này được tách ra khỏi nhau và cấy trứng tế bào một vào trong tử cung của 8 phụ nữ. Sự thụ thai (firtilization) thành công. 8 em bé ra chào đời, chúng giống y hệt nhau về nhân thể và gien di truyền. Dù vậy, khoa học vẫn không thể sáng tạo ra được cái căn nguyên, cái nguồn gốc của gien, gọi là "genesis". Chắc hẳn cái căn nguyên ấy là độc quyền sinh tạo của Hóa Công. Tám em bé "cloning" là 8 cuộc đời, Đông phương gọi là mệnh rồi 8 cái mệnh ấy sẽ như thế nào? Vẫn là bí nhiệm như hai em bé sinh đôi, nếu lấy tử vi cho hai em th́ hai em có chung một tử vi, nhân thể và di truyền như nhau, cùng cha cùng mẹ. Nhưng vẫn là hai cuộc đời khác nhau, tâm tính khác nhau rồi lớn lên thân thể cũng khác nhau. Tám em bé "cloning", nếu tử vi cho cả 8 em th́ sẽ có 8 bản tử vi khác nhau v́ 8 bà mẹ thụ thai dùm chắc là sẽ đẻ vào ngày giờ khác nhau (ở đây tôi không lạm bàn về tử vi).

 

-          con người - dịch lư và khoa học

      Nhân loại là đồng dạng, là đại đồng. Đại đồng và đồng dạng (homo, like, same, equal) là bản thể của nhân chủ nhưng cái gốc, cái căn nguyên từ đâu th́ khoa học không thể t́m ra được, cũng như là cái căn nguyên của nhân bào trong tế bào tinh trùng và tế bào trứng. Đông phương vượt xa. Tác phẩm lẫy lừng của Dịch Trung Hoa là Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung (Thiệu Ung tức Thiệu Khang Tiết) đă sáng tỏ khá rơ cái nguyên đầu tiên ấy "Thiên do đạo nhi sinh, địa do đạo nhi thành, vật do đạo nhi h́nh, nhân do đạo vi hành. Thiên, địa, nhân, vật tắc dị hĩ, kỳ ư đạo nhất dă". Nghĩa là: Trời do đạo mà sinh ra (trời đây là vũ trụ, không phải là ông trời, thượng đế), đất do đạo mà thành ra, vật do đạo mà có h́nh, người do đạo mà hành động (sinh sống). Trời, đất, người, vật, tuy khác nhau nhưng đối với đạo th́ tất cả chỉ là một. Từ cái một ấy mà phân ra, trời và đất, âm và dương, cơ và ngẫu (chẵn và lẻ). Dịch gọi là "tham (tam) thiên lưỡng địa", tác giả Hoàng Cực Kinh Thế giải thích: Dịch hữu chân số tam nhi dĩ. Tham thiên giả, tam tam nhi cửu. Lưỡng địa giả, bội tam nhi lục. Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số. Phi thiên địa chi chính số dă. Ỷ giả, nghĩ dă. Nghĩ thiên địa chính số nhi sinh dă." Nghĩa là dịch chỉ có 3 số mà thôi. Và là chân số. Tham thiên là 3 x 3 = 9. Lưỡng địa là 3 x 2=6. Tham thiên lưỡng địa mà đặt vào số, đó chẳng phải chính số của trời đất. Dựa vào đó có nghĩa là bắt chước, bắt chước chính số của trời đất mà sinh ra. (Thiệu Ung, Hoàng Cực Kinh Thế, Q. V, tr. 8; Q. VII - thượng, tr. 2; 26).

 

       Dịch là luật tự nhiên của vũ trụ mà Lăo Tử gọi là Đạo. Cả những ngàn năm sau, hai nhà bác học nguyên tử Lư Chính Đạo và Dương Chấn Ninh đă khám phá ra qua luật bất đồng đẳng (law of non-parity) là do từ Dịch. Dịch gọi là luật cơ ngẫu (chẵn-lẻ). Trong cái nhân (nucleous) của tế bào tinh trùng và tế bào trứng đă theo luật tự nhiên âm dương bất đồng đẳng (ly tử dương 3, ly tử âm 2, tỷ lệ 3/2). Ai tạo ra cái luật thiên nhiên ấy? Lăo Tử gọi là Đạo. Khoa học hiện đại khám phá ra chất hydrocarbured CH là nguồn gốc của sự sống trên trái đất khi trái đất c̣n tinh nguyên và vị thành niên (junile). Y dịch lư gọi là thủy hỏa tiên thiên (inné). Trong hydrocarbures có hydrogene H thành phần quan trọng của nước (nguyên tố hóa học ở thể khí, nhẹ nhất so với các nguyên tố khác, không mầu sắc, không mùi vị, dễ cháy, kư hiệu là H, trọng lượng nguyên tử 1.00797, số nguyên tử 1, tỷ trọng 0.0899/g/l.) Nước mang công thức H20, vẫn là chẵn lẻ. Nhà bác học Pháp Antoine Laurent Lavoisin (1743-1794) gọi hydrogène là sinh thủy (water former). Carbon là lửa, là hỏa (kư hiệu C, trọng lượng nguyên tử 12.01115, số nguyên tử 6, có trong nhiều trong hợp chất vô cơ, và trong tất cả hợp chất hữu cơ. Carbon có có các nguyên tố đồng vị carbon-12, carbon 13, 14). Hydrocarbures lại biến hóa thành chất azotes (azotized - hóa hợp với nitrogene hoặc với hợp chất của nitrogene) và oxy (dưỡng khí). Dưỡng khí là sự sống (có vào khoảng 1/5 trong không khí). Oxy là phong, Azote là thổ. Nước, lửa, không khí, đất là tứ nguyên đại của y khoa.

 

        Dịch có thể gọi là Đạo của vật lư "The Tao of physic". Rốt ráo, quanh co, đi về, sinh-hóa vẫn là Đạo. Dù là "cloning" th́ chú cừu Dolly hay em bé Eve ra đời, nó bắt đầu từ thái dịch (làm cho nhân bào tinh trùng và trứng tách ra rồi cho giao phối với nhau, đó là sự chuyển dịch đầu tiên gọi là thái dịch. Khi cái phôi thành h́nh đó là thái sơ. Cái phôi phải sống trong một môi trường hoạt dịch là thái thủy, cho đến khi thành thai nhi rồi ra đời, nhịp tim đập, máu luân lưu đó là thái tố (mạch thái tố - y dịch). Khởi đầu của sự sinh là mệnh, không biết khởi đầu từ lúc nào nên gọi là vô thủy (không khởi đầu), do lẽ không có thời (the time) thực và nếu có th́ đó là thời của luân hồi, cùng một nghĩa với chu lưu. Ai biết được cái mệnh của con người khởi từ lúc nào ở mệnh môn? (trong tử cung của mẹ), chu kỳ của thời gian nhỏ nhất là một sát-na. Và 99, 980 sát-na tương đương với 2 tỷ 444 triệu hốt-mang-vi. Sự sinh xuất hiện trong một sát na. Nhịp đập của tim như một chu kỳ của một sinh cơ tiểu vũ trụ khi con người c̣n là bào thai trong ḷng mẹ.

 

      Do vậy mệnh khởi từ lúc không thời từ một sát-na hay từ một hốt mang vi, từ cái "mảy may" vi, vi ty. Có sinh mới có sinh mệnh. Sinh là do hiếu hay háo (do chữ tử (nam) một nên và chữ nữ một bên), nghĩa là thích, ham. Kỹ thuật "cloning" cho ta biết đem nhân của tế bào trứng để cạnh nhân của tế bào tinh trùng, 2 nhân kích động là sáp vào nhau ngay để giao phối.

 

      Sự sinh của dân tộc Việt Nam ta theo huyền thoại là một cặp âm dương, Lạc Long - Âu Cơ. Tất cả khởi nguồn là thủy hỏa âm dương. Đó là cái căn nguyên đầu tiên (genesis), là một bào. Dù là do người "cloning" nhưng ai tạo ra cái căn nguyên đầu tiên ấy? Tổ Tiên ta từ những ngàn năm trước đă trả lời: Trời, Đấng Tạo Hóa chỉ có một (L'Unique - The only One). Cái căn nguyên đầu tiên ấy là cái một bọc Mẹ Âu Cơ, bỏ qua huyền thoại, theo y dịch lư đó là cái sinh mệnh đă sẵn thủy hỏa, tương sinh tương khắc. Cha Rồng mệnh thủy mà rồng lại là dương. Mẹ Tiên mệnh hỏa mà Tiên lại là âm. Trong nhân thể vẫn là thủy hỏa. Hỏa sinh ra thần. Hỏa là ánh sáng, hỏa là năng lượng. Vật chất và tinh thần đồng nhất thể trong thủy và hỏa. Thủy từ khí mà ra. Hải Thượng Lăn Ông và Lê Qúy Đôn đă nói rất rơ về thủy hỏa tương khắc tương sinh.

 

- Khi tây phương t́m về đông phương

      Thế kỷ thứ 18 và 19 cùng với cuộc cách mạng kỹ nghệ của Âu Châu và cao trào duy vật vô thần, Âu Châu lại le lói ánh sáng lạ lùng từ phương Đông qua James Legge (1815-1897), một giáo sĩ Anh giáo người Anh đă đến Trung Quốc truyền giáo và ở lại trên 30 năm, với tên Tầu là Lư Nhă Các, ông uyên bác Nho học và Dịch lư. Kể từ năm 1840, J. Legge đến Malacca rồi làm viện trưởng Anh-Hoa Học Viện sau qua Hương Cảng, rồi về Anh làm giáo sư Hán Học tại ĐH Oxford, cho đến lúc qua đời. Legge "ch́m đắm vào biển học Nho và Lăo và Dịch học. Trước Legge đă có nhiều học giả Tây phương đến Ấn Độ và Trung Hoa để nghiên cứu như Antonius Goubil một thừa sai Pháp đă đến Tầu truyền giáo năm 1723 với tên họ Tầu là Tống Quân Vinh tự Kỳ Anh, ông nghiên cứu kinh Dịch và dịch ra tiếng Pháp. Nhà bác học Đức Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716) cha đẻ của khoa toán học vi tích phân (the infinitesimal calculus), viện trưởng đầu tiên của Phố quốc (Đức) Khoa Học Viện (The Prussian academy of Science). Ông là một triết gia nhân bản đại của Âu Châu thế kỷ 18 qua tác phẩm "Essais de Théodicée sur la bonté de Diêu, La liberté de l'homme et l'origine du Mal (1710). Nouveaux essais sur l'entendement humain, Monadology (1714, Principles of Nature and Grace (1714 - Những nguyên tắc của thiên nhiên và ân sủng). Về Leibniz, xem: Hidé Ishiguro, Leibniz's philosophy of logic and language. NY 1972; G.H Parkinson, Logic and reality in Leibniz's Metaphysics. NY 1965 - (Lozich và thực tại trong Leib siêu h́nh học).

 

     Leibniz là nhà bác học Tây phương đầu tiên quan tâm nghiên cứu kinh Dịch qua người bạn của ông, giáo sĩ Ḍng Tên Joachim Bouvet, người Pháp, tên Tầu là Bạch Tấn truyền đạo ở Tầu, thấm nhuần kinh Dịch, ông gửi cho Leibniz 2 bộ sách Dịch dịch ra Đức ngữ "Phục Hy lục thập tứ quái (64 quả) thứ tự đồ" (Bản Anh ngữ: Gegregation table) và "Phục Hy tứ quái phương" (Square and circular arrangement). Nói chung, qui lại đó là nguyên lư của hệ thống nhị phân trong kinh Dịch (binary system). Leibniz ảnh hưởng kinh Dịch rất xâu xa. Khởi từ số 0 (không) là hào âm, rồi đến dương là 1. Thứ tự 64 quẻ là thứ tự từ 0 đến 63 quẻ. Về siêu h́nh, Leibniz cho rằng, vũ trụ được tạo dựng bởi những tâm vật mà ông gọi là "monad". Mỗi thứ đều phản ảnh vũ trụ nơi chính ḿnh. Không khác Nho giáo "vũ trụ giai bị ư ngă, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên". Nghĩa là vũ trụ ở ngay trong ta, trở về với ta với đạo thành th́ đều đại yên cả." Leibniz phát kiến rằng có một hệ giai (hierarchy) của những monads dẫn đến chỗ tối cao là một monad tối cao (supreme monad), đó là Thượng Đế.

 

     Đi xa hơn thời Leibniz, học giả James Legge c̣n nghiên cứu về Đạo Giáo với Lăo Tử và Trang Tử, ông dịch qua Anh ngữ hai bộ Đạo Đức Kinh tức Tao Teh King "The Text of Taoism" (Đạo Giáo kinh văn) và Trang Tử "The writings of Kwang-Zee in the text of Taoism - Oxford 1891). Legge c̣n dấu xâu vào huyền học, ông tổng hợp và dịch bộ "Thái thượng cảm ứng thiên", (The Thai-shang tracte of actions and their retributions - Oxford 1891. Legge c̣n dịch ra Anh ngữ các bộ Lễ Kư, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại Học, Kinh Thư, Kinh Thi, Xuân Thu Tả thị truyện... Giáo sĩ Legge đă thấy Trời (God) ở Nho-Lăo. Legge đă thấy trời trong con người ở Nho-Lăo. Và Legge đă thấy một Đông phương thật đại qua Nho-Lăo.

 

      Linh mục Ḍng Tên Joachim Bouvet (1656-1730) mới là người tiên khởi đi xâu vào Dịch kinh (năm 1685, Bouvet (Bu-Vê) đến Trung Hoa, ở Ninh Ba, năm 1688 lên Bắc Kinh triều kiến vua Khang Hy rồi được bổ nhiệm làm quan Thị Giảng cho Hoàng Đế.) Cha Bouvet soạn bộ Dịch Học Tổng Chỉ. Năm 1712 ông soạn bộ Dịch Kinh Đại Ư (Thư viện quốc gia Paris hiện lưu trữ bộ này, kư hiệu 17239). Với tên tự là Minh Viễn, năm 1694, cha Bạch Tấn được vua Khang Hy cử làm sứ thần về La Mă và Ba Lê tặng qúy phẩm lên đức Giáo Hoàng và vua Louis XIV (Pháp). Uyên thâm Dịch kinh và Nho giáo, cha Bouvet đi đến kết luận: "Thiên chúa giáo và Nho giáo không có ǵ mâu thuẫn với nhau." Các giáo sĩ Ḍng Tên ở Trung Hoa cùng thời cũng một quan điểm với linh mục Bouvet: Thượng Đế ở trong Kinh Thi và Kinh Thư, không khác Thiên Chúa trong Ki-tô giáo. J. Legge dịch Thượng Đế trong Kinh Thi và Kinh Thư là GOD (xem: J. Legge. The Sooking, Part II, Book IV - p. 79 - Xem: Cao Thế Dung, Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên, Q. II - Cơ sở Dân Chúa xb, 2002, chương XIV "Quan hệ Công Giáo Trung Hoa và Việt Nam, tt. 719-757).

 

      Từ linh mục Bouvet đến Leibniz và J. Legge đă thấy Trời trong Người ở phương Đông qua Nho, qua kinh Dịch và đặc biệt với J. Legge qua Đạo Đức Kinh, Lăo Tử và Trang Tử.

 

-          Nhân chủ và con người tuyệt diệu qua thần lực - khí công pháp

 

       Khi Lăo giáo biến thể để thành Đạo Giáo (tôn giáo) th́ tôn giáo này cho đến nay ít có học giả Âu - Mỹ nào nghiên cứu một cách xâu rộng. Bỏ qua những dị đoan như đồng cốt, luyện tiên đan... Đạo Giáo tôn Trời là đấng tối cao (Hoàng Thiên Thượng Đế) và Người là một khả năng kỳ diệu (qua khí công). Lăo Giáo và Phật Giáo không khác nhau về sức mạnh siêu việt của con người. Chữ chỉ trong Phật và Lăo Giáo là chữ rất động năng, tập trung nhất, mạnh mẽ nhất, tiếng Phạn là Samatha, thường đi với chữ định, chữ Phạn gọi là Samàdhi, Tầu dịch là đẳng tŕ, Việt dịch âm là tam-ma-địa hay tam muội. Chỉ thường đi với quán, tiếng Phạn gọi là Vipasyanà, nghĩa là chỉ nhắm đến một mục tiêu nào đó. Quán là thuật ngữ khí công của Phật Giáo. Kinh Dịch có quẻ Quán (quẻ thứ 20 - bản Chu Dịch hiện hành). Nhà Dịch học Đức quốc Wilhelm b́nh giảng quẻ quán như là chiêm ngưỡng, quan sát (contemplating) được nh́n thấy (being seen). "Gió thổi trên mặt đất là h́nh tượng của qủe Quán". (Tượng viết: Phong hành địa thượng, Quán) Quẻ này, nghĩa rất rộng. Quán chỉ là thuật ngữ của Phật Giáo, "Phật chi chân truyền, tại ư quán chỉ". (chân truyền của Phật là ở quán chỉ). Quán tưởng, thuật ngữ khí công của Phật giáo, dùng ư niệm tập trung quan sát. Quán vô lượng, chữ Phạn là Amitayurd hyana sùtra, một trong ba bộ kinh lớn của Tịnh Độ Tông, "nếu tu niệm A-Di-Đà-Phật" hay quán niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" th́ có thể tiêu tai diệt họa, sau khi chết có thể văng sinh lên cơi cực lạc tịnh độ". Quán chỉ là khả năng siêu việt của con người, c̣n gọi là chỉ quán.

 

       Do tu tập, con người nắm được chỉ quán pháp, có thể: điều thân (ngồi ở tư thế tự nhiên hay xếp bằng, có thể điều động nhân thể). Có thể điều khí: ngồi yên, mở miệng, hít thở hoặc mũi hít, mũi thở hoặc mũi hít miệng thở. Hô hấp bụng hoặc hô hấp tự nhiên, không thể dùng sức. Tu tập đến khi để khí ra vào cực nhỏ, sâu và dài, làm thế nào để tai không nghe thấy tiếng hô hấp. Sau khi luyện hô hấp kiểu bụng đă đạt được kết quả như thế th́ hô hấp kiểu thân (trở lại điều thân, hô hấp). Điều thần: sau khi đạt được khí điều ḥa, th́ có thể điều thần, bài trừ mọi tạp niệm (nghĩ vớ vẩn, bậy bạ, phù phiếm). Vẫn hít vào thở ra tự nhiên. Hít thở từ mũi, vào bụng cứ như một đường thẳng góc (từ mũi thông đến bụng), đạt đến điểm "thể chân chỉ", không c̣n tạp niệm nữa, tức là chân thực, tư tưởng dừng ở đây nên gọi là thể chân chỉ. Con người có khả năng thánh thần đạt đến mức đó, người trở thành Phật. Tự trong con người đă có 16 đại lực: 1.- chí lực; 2.- ư lực; 3.- hành lực; 4.- tàm lực; 5.- cường lực; 6.- tri lực; 7.- tuệ lực; 8.- sức lực; 9.- biện lực; 10.- sắc lực; 11.- thân lực; 12.- tài lực; 13.- tâm lực; 14.- thần túc lực; 15.- hoàng pháp lực; 16.- hoàng ma lực, gọi là "thập lục đại lực". Con người trong Phật giáo hay nói một cách khác, Phật ở trong con người, có tới 10 loại trí lực. Theo kinh Câu Xá Luận và Đại Trí Độ Luận th́ cái biết đầu tiên là tri giác (phân biệt rơ lư và phi lư - tri giác xứ phi xứ trí lực)... Khởi từ đó để đạt đến cái trí biết rơ nhân quả chuyển sinh tới các cơi nhân, thiên và đạt tới Niết Bàn. Tri thứ 7 "tri nhất thiết chi xứ đạo trí lực). Cái biết thứ 8 là trí lực dùng thiên nhăn mà biết rơ sự sinh tử cùng nghiệp duyên thiện ác của chúng sinh "tri thiên nhăn vô ngại trí lực". Cái biết thứ 9 là trí tuệ đạt đến chỗ biết rơ đầy đủ "túc mệnh" của chúng sinh và Niết Bàn vô lậu. (tri túc mệnh vô lậu trí lực). Cái biết cuối cùng (thứ 10) là biết rơ vĩnh viễn, dứt phiền năo và nghiệp, không c̣n lưu chuyển trong ṿng sinh tử nữa. "Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực". Thành Bồ Tát, tiến lên thành Phật.

 

    Nhân Chủ đă tự tại trong Phật Giáo. C̣n người là khả năng siêu phàm, siêu linh trong Đạo giáo. Con người là chủ vị trong Thiên Chúa Giáo. Tư tưởng truyền thống Việt Nam là do thần Đế Minh. tế thần Đế Minh cùng với tế Trời ở đàn Nam Giao: qua khí công từ Lăo Giáo đến Phật Giáo, con người đă đạt đến tuyệt đỉnh của sức mạnh con người, cả thân xác lẫn tinh thần. Mà nhục thể và tinh thần cũng là một. Nói theo nhà bác học Lê Qúy Đôn, vật chất cũng là động năng. Nói theo nhà bác học vật lư lượng tử Einstein, vật chất là động năng và là năng lượng, y như Lê Qúy Đôn trong luận điểm về hỏa và khí. Hết hỏa, con người chết.

 

       Con người là h́nh ảnh Thượng Đế. Đức Kitô xuống thế làm người nên Ki-tô Giáo là đạo thờ Đức Chúa Trời c̣n là đạo làm người với tôn chỉ cơ bản: công b́nh và bác ái. Trí tuệ con người được Thánh Linh nhiệm thể, quan pḥng, soi sáng: Kitô Giáo thờ Thánh Linh, ánh sáng nhiệm mầu của siêu trí tuệ đă đưa con người lê chủ vị. Khởi từ cố Giáo Hoàng Gioan Phalồ II, Tây phương đang tở về với "Antropocracy", "Nhân Chủ chi đạo".

 

     Thái Dịch Lư Đông A tuyên dương Nhân Chủ cách đây trên 60 năm:

 

    "Một siêu đăng hiện địa trổ ngành hoa

    Phải đem nền Nhân Chủ đắp xây ra

    Phải đă thắng, bằng thắng qua thắng trận.

    Phải nhân gian bốn bể lẫn một nhà".

 

Cao Thế Dung, Ph. D

Vào hè, 2005 

 

Home