|
|
||
|
Từ
"Cái Chết Của Tây Phương" Đến
Tuyệt Sinh, Vô Tính Và Nhân Chủ Đông Phương
Cao
Thế Dung
-
Con người
"đang chết" ở tây phương
Cố giáo hoàng
Gioan Phaolồ II hơn một lần cảnh tỉnh Tây phương
về một nền văn hóa chế. Nhà báo lănh thành
Patrick J. Buchanan, từng là cố vấn cho ba đời
tổng thống Hoa Kỳ, năm 2002, ông cho xuất
bản cuốn "Cái Chết Của Tây Phương - The
Death of the West" - một trong những sách bán chạy
nhất của Nữu Ước Thời Báo (The NY Times best
seller - Thomas Dunne Books, N.Y 2002, 310pp).
Văn hóa Tây phương,
trong đó có Hoa Kỳ, đang băng hoại một cách
trầm trọng và có thể tan ră không bao xa nếu không
chận đứng. Thứ nhất là
Tây phương không chĩu đẻ. Phong trào nuôi con
nuôi ở Mỹ đang lên cao. Thỏa
hiệp nuôi con nuôi Việt-Mỹ kư kết tại Ṭa
Bạch -c ngày 21-06-2005 vừa qua, chắc hẳn sẽ tăng
"dân số" con nuôi Việt Nam ở Mỹ vào
những năm tới. Hiện nay con nuôi Việt Nam đang
được ưa chuộng ở Mỹ và Canada. Lấy nước Ư và Đức Quốc làm thí
dụ. Nếu cứ đà gioảm sinh
như hiện nay và không có di dân, cuối thế kỷ này,
dân số Đức chỉ c̣n 38.5 triệu so với 82
triệu hiện nay, giảm 53%. Ư là một nước
Công Giáo đa số chủ thể, cuộc thăm ḍ
của tạp chí Noi Donna cho biết, 52% phụ nữ Ư
tuổi từ 16 đến 24, quyết định không có
con. Thủ đô Luân Đôn tràn ngập di dân,
năm 2010, dân Anh da trắng Luân Đôn sẽ trở thành
thiểu số. Số sinh ở Anh năm 2001 giảm
3% so với năm 2000 (xem: The Death of the West, sđd, pp 11-19).
Năm 1966, khoảng 6.000 vụ phá thai
một năm ở Mỹ. Năm 1970 tăng lên 200.000
vụ. Năm 1973, tăng lên 600.000 (Terry
teachout, "The 49 percent nation" - National Journal, June 9-2001,
dẫn bởi P. J. Buchanan).
Đầu thế kỷ 21
này, khoảng 40 triệu vụ phá thai ở Mỹ. Số
phá thai gia tăng không ngừng, mang bầu 5, 6 tháng vẫn
phá thai. Năm 2000, cục Thực Phẩm và Thuốc Liên
Bang Hoa Kỳ (The Food và Drug) chấp thuận loại
thuốc phá thai RU-486 tự mỗi cá nhân xử dụng
"do-it youself abortion drug" để phá thai 7 tuần
lễ đầu. Không một hăng thuốc
Mỹ nào muốn liên hệ với loại thuốc RU-486.
Một hăng bào chế Trung Quốc lao vào
ngay, sản xuất bán cho Mỹ loại RU-486. Buchanan mai
miả rằng đây là hành động Trung Quốc giúp
một quốc gia tự tử khi quốc gia ấy
(tức Mỹ) đang ngăn chận con đường
của Bắc Kinh tiến lên bá chủ Á Châu, cường
quốc thế giới (sđd, p. 27). Theo Buchanan Tây phương
đang lao vào cuộc chiến hủy hoại con người,
đang tàn phá cái gốc của con người". Nhân
loại ở Tây phương đang mất quá khứ hay đúng
hơn, tự xóa bỏ quá khứ, đánh bật gốc
rễ con người. Năm 1984, George Orwell, nhân vật
danh tiếng Mỹ (Big brother) lên tiếng cảnh cáo dân
Mỹ: "Ai kiểm soát được dỹ văng là
kiểm soát được tương lai. Ai
kiểm soát được hiện tại là kiểm soát được
quá khứ" (Who controls the past controls the future. Who
controls the present controls the past). Trong bài diễn
văn nổi tiếng của cố TT Reagan giă từ Ṭa
Bạch -c và dân Mỹ, cụ cảnh cáo dân Mỹ
"Nếu chúng ta quên những ǵ chúng ta đă làm, chúng ta
sẽ không biết chúng ta là ai". (If we forget what we
did, we won't know who we are)... Cụ nói tiếp: "Tôi báo động
để (quốc dân) biết rằng, đang có sự làm
tiêu ṃn kư ức Mỹ (the eradication of the American memory) có
thể đưa đến kết quả ngay tức
khắc là làm tiêu ṃn tinh thần Mỹ (an erosion pf the American
spirit - xem: AP Jan-12-1989, Text of Pr. Reagan's Farewell address).
***
Con người đă và đang
chết ở Tây phương và ở cả Á Châu, như
Việt Nam và Trung Quốc. Năm 2004, khoảng 1.500.000
vụ phá thai ở Việt Nam không
kể lén lút. TQ là một thế giới tử thần thai nhi. Thêm một bước
nữa, Tây phương đang tiến đến hợp
pháp hóa hôn nhân đồng giống. Ngày
28-06-2005, Quốc Hội Canada (The House of Commons) đă bỏ
phiếu chấp thuận bảo đảm đầy đủ
quyền hôn phối cùng giống (guarantee full mariage rights).
Nghĩa là chấp nhận sự tuyệt sinh
trên pháp luật (không c̣n từ vợ chồng - không có
vợ, không có chồng, chỉ c̣n hai phối ngẫu nam
với nam, nữ với nữ). Con người đă
quên quá khứ "đấu tranh sinh tồn". Không biết đến tương lai tuyệt
chủng. Quên quá khứ của chính con người do cha
và mẹ lấy nhau, năm - nữ ăn
nằm với nhau, yêu nhau, giao t́nh với nhau để sinh
ra ḿnh. Muôn loài đều như thế.
Ái nam ái nữ là do tiên thiên thụ tạo, không có tội
t́nh ǵ. Nhưng "gay" và "lesbian" ở Tây phương
lại là một "mốt" (fashion) hay một hiện
tượng (phenomenon) thời thượng. Con người
đă quên di sản từ khi con người được
sinh ra ở trên trái đất này. Con người đă quên
cả đất nước của ḿnh do những thế
hệ kế tiếp nhau xây dựng, tài bồi, phát
triển và bảo vệ. Tuyệt sinh là không
c̣n lịch sử, không c̣n tương lai. "Gay" và "Lesbian" ở Tây phương
không hẳn là "tiên thiên bất túc" từ trong
bụng mẹ. đa số lại
do lối sống tuyệt sinh. Tây Ban Nha theo
chân Canada (The Washington Post, July-01-2005, "Spain legalizes same sex
marriage". Canada theo chân Ḥa Lan... Và cứ như thế, tuyệt sinh là tuyệt
chủng.
-
Một vài sơ dẫn về nền nhân chủ Việt
Nam
Đáp án
của Tây phương về tuyệt sinh và vô sinh -
"cloning" như thế nào? Không có đáp án nào cho tuyệt sinh và vô sinh. Con người
là con người. Con người là nhân đạo, nhân
chủ. Cố giáo hoàng Gioan Phaolồ II đă đề ra
chủ thuyết nhân chủ - Antropocracy, một giáo sư
triết học gọi là "Nhân chủ chi đạo"
(xem: Trần Văn Đoàn, Ph.D Việt Triết Luận, T.
Thượng. The Univ. press of VN, Washington DC 2000,
chương VI "Nhân chủ chi đạo - Từ
triết lư Nhân Chủ của Gioan Phaolồ II tới Nhân đạo,
tt 252-273).
Thế kỷ
thứ 11 dưới triều Lư, hai chữ Nhân Chủ đă
được các thiền sư Việt Nam đề
cập tới. Thiền sư Viên Thông (1080-1151), làm tăng
quan dưới triều vua Lư Nhân Tông, được phong
quốc sư (quê làng Cổ Hiền, Nam Định, tu
ở chùa Quốc Ân). Năm
Đại Thuận thứ 3 (1130), vua Lư Thần Tông mời
quốc sư vào điện Sùng Khai. Vua hỏi về
lư trị loạn hưng vong trong thiên hạ. Sư đáp:
"Thiên hạ cũng như đồ dùng, để
chỗ yên th́ được yên, để cho nguy th́ bị
nguy, xin đấng nhân chủ hăy làm sao được như
thế. Dùng đức hiếu sinh hợp
với ḷng dân, cho nên dân yêu thương như cha mẹ,
trông ngóng như trời trăng. Đó là
để thiên hạ vào chỗ yên vậy." (Lê
Mạnh Thát (Thượng tọa Pháp Siêu, giáo sư - Nghiên
cứu về Thiền Uyển Tập Anh, "Quốc Sư
Viên Thông, tt. 300-302). Các vua triều Lư thường
được tôn là đấng Nhân Quân.
Đă có một chủ đạo
con người, một cách khác Nhân Chủ trong tư tưởng
của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Người CSVN gần đây
đă vinh tôn Nguyễn Bỉnh Khiêm, người là tác
giả chủ nghĩa Nhân Đạo, đúng ra phải
gọi là Nhân Chủ. Sau nhiều năm câu thúc dưới
chế độ cộng sản và chủ nghĩa duy
vật Mác-Lê, một học giả tỉnh thức, t́m
về Nguyễn Bỉnh Khiêm với truyền thống
chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam: "Các nhà sử
học cũng như các nhà văn hóa Việt Nam đều
nhất trí nhận định rằng: nội dung cơ
bản của lịch sử dân tộc ta, xa th́ từ
thời Văn Lang, Âu Lạc (trước CN) gần hơn
th́ thời họ Khúc, nhà Ngô (thế kỷ X) là giữ nước
và dựng nước; và truyền thống cơ bản
về văn hóa của dân tộc ta - tức toàn bộ các
giá trị tinh thần, đạo đức thể
hiện trong mọi h́nh thái văn hóa như triết
học, tư tưởng, nghệ thuật, văn chương,
v.v... là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân
đạo. Hai truyền thống đó gắn bó chặt
chẽ với nhau: thương nước tức là thương
dân, thương dân tức là thương người.
Truyền thống đó được đúc kết trong
hai khái niệm của Nho gia Trung Quốc song được
đồng hóa theo tinh thần Việt
Nam, đó là "Nhân nghĩa". (Trần
Thanh Đạm (GS) "Nguyễn Bỉnh Khiêm trong
truyền thống của chủ nghĩa Nhân Đạo
Việt Nam", Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử
phát triển văn hóa dân tộc. Viện KHXH - Trung tâm
NC Hán Nôm. Nxb Đà Nẵng 2000, tr. 117-124).
Hơn ba thế kỷ rưỡi
sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, một thiên tài xuất hiện,
Thái Dịch Lư Đông A đưa Nhân Chủ và chủ
thuyết với ư thức hệ vượt ra khỏi biên
giới quốc gia, dân tộc đi vào nhân loại. Thái
Dịch đă mở ra con đường mới cho cả
loài người. Đó là con đường Nhân Chủ.
"Loài người
trên giai đoạn mới mở ra đây, đă tự
phụ là văn minh và giác ngộ, không thể công nhận được
cái mi hệ của tự nhiên vận động (luật
cạnh tranh và thiên diễn) được nữa.
Bao nhiêu những vinh quang chỉ là những hư hăo dưới
một cơn băo táp hối hận...
.... Cho nên văn
minh nhân đạo bằng không có nhân chủ bác ái là giả
dối. Lịch sử nhân đạo
bằng không có nhân chủ trách nhiệm là phi nhân.
Một công cuộc ǵ của nhân loại không có nhân chủ
tự giác là thất bại lịch sử... Nhân
chủ là thế nào? Bằng chủ đạo
của loài người, có thực tự giác lănh đạo
loài người, cùng chung sống được
vô cùng măi măi trên Thái B́nh và Vạn Xuân, mục tiêu trên chính
trị của chủ nghĩa nhân chủ. Một cuộc
cách mạng nhân chủ phải ra đời để đả
phá lịch sử cũ đă thối nát, bắt trách
nhiệm các ṇi giống đi tiêu diệt ṇi giống khác,
tu chính lại lịch sử bằng sự dẫn dắt
tương lai của nhân chủ cương thường,
phục hoạt lại cả loài người." (Lư Đông A).
Chỉ có nhân chủ tức
nhân đạo, nhân nghĩa và t́nh thương giữa con người
với người, giữa xă hội này đất nước
này với xă hội khác, đất nước khác mới
cứ nguy được thảm kịch "con người
đang chết", một nền "văn hóa
chết" đang lan rộng.
- Từ
"cloning" con người và khoa học.
Con người đă cướp
cả quyền Thượng Đế, vô tính hóa (cloning)
loài có vú và cả con người, tức tạo sinh vô tính
(asexual, c̣n dịch là hệ vô tính), Con người đă t́m
ra cấu tử cơ bản của gien, đă khám phá ra
những huyền bí của gien (DNA hay là Deoxyribonuclec - acid -
the genetic material found all living things; contain the inherited
characteristics of every living organism). Nhưng khoa
học chưa t́m ra thần, chưa thấy được
thần khí. Cái huyền bí tận cùng
của DNA cũng chưa t́m thấy. Dầu con người
chưa thể làm Thượng Đế nhưng con người
đă tiếp cận với Thượng Đế. Chú
cừu vô tính hóa ra đời ngày 23-02-1997, gây chấn động
nhân loại - không cần nam nữ, đực cái giao
cấu, con người vẫn tạo được chú
cừu Dolly do khoa học gia người Tô Cách Lan, Anh
Quốc Ivan Wilmut và Keith Campell tại Viện Nghiên Cứu
Roslin ở Edingburg sau 277 lần thí nghiệm. Chú cừu
Dolly ra đời có tất cả đặc tính của
một con cừu sinh ra b́nh thường nghĩa là
giống như có cha mẹ giao hợp mà sinh ra. Tháng 7-1998,
một nhóm khoa học gia Haiwaii, trong đó có Terunhiko Waykaya
và Ryuzo Yanagimachi đă nhân bản hóa ba thế hệ
chuột bằng phương pháp tạo sinh vô tính. Dù "cướp quyền Thượng Đế"
khoa học vẫn phải dừng lại ở những
giới hạn huyền bí. Chú cừu Dolly đă
chết lúc 6 tuổi, tức là chỉ sống được
nửa đời do lấy tế bào của cha nó lúc cha nó đă
sống được nửa đời (Time, Feb 24-2003
"Dolly, 6, the world first cloned sheep"). Các khoa
học gia đang thi đua vượt nhau về
"cloning".
Một bác sĩ Nam Triều
Tiên, Woo Suk Hwang đầu năm 2005 đă đạt được
mục tiêu "kỳ diệu cloning" từ tế báo
cuống vô tính (stem cells) chỉ một bước ngắn
là có thể "cướp" quyền Thượng Đế
tạo nên một con người vô tính (xem: Inside Korean
cloning lab - growing your own stem cells - 4 steps - by Alic
Park & Christine Gorman - TIME, May-30-2005). Bác sĩ Griffin,
viện trưởng Viện Roslin phát biểu: 97% thất
bại trong các lần thí nghiệm mới thành công nhưng
hầu như phân nửa các sinh vật (trong đó chuột
và cừu) được tạo bằng phương pháp
nhân bản vô tính, khi sinh ra đều là quái thai hoặc
chết trước, hoặc sau khi ra đời một
thời gian ngắn, chú cừu đầy bệnh tật
và lăo hóa trước tuổi nhân bản vô tính v́ chú được
tạo dựng bằng cái bào của cha chú đă 6 tuổi
nên chú vừa ra đời, chú đă được 6
tuổi. Cuối cùng, người ta đă
không thể "làm Thượng Đế". Tháng
11 năm 2001, các khoa học gia Viện Kỹ Thuật
tiền tiến thai bào "Advanced Cell
Technology" ở Worcester, bang Massachsetts Hoa Kỳ đă
thành công tạo được phôi bào người (nam)
hợp với trứng người nữ (the creation made
from the fusion of a single cell and human egg). Và như vậy, khoa
học đă tạo tác được một thai nhi. Từ khi một tế bào người
kết tụ với trứng cho đến 3 tháng sau
gọi là phôi (embrys), sau 3 tháng gọi là bào thai
(fetus). Nhưng với Việt Nam và Đông phương xưa
th́ không phân ra như vậy, từ khi thụ tinh (fertilized
hay fertilized egg, ovum) đă thành mầm người. Lẽ
tự nhiên thai nhi học (fetology) Tây y và Đông
y khác nhau. Nhưng sự tăng trưởng của thai nhi (fetation) không khác... từ phôi rồi
thành h́nh người trong bụng mẹ. Vô tính hóa, khoa
học tạo ra nhau; tạo ra bụng mẹ ở pḥng thí
nghiệm, nghĩa là khoa học có thể tạo được
từ A đến Z thành một con người nhưng chắc
là khoa học không thể tạo được cái tế
bào đầu tiên ấy, cái trứng đầu tiên ấy.
Khoa học gia cần hai tế bào: một tế bào
hiến tặng của người (hay lấy từ loài
vật như bố chú cừu Dolly) và một tế bào
trứng, c̣n gọi là tế bào oocyte (trứng c̣n non). Khoa học biệt lập (isolate) tế
bào trứng nhưng tự ở tế bào trứng đă có
khả năng của sự cấu tạo và phát triển
của trứng (oogenesis). Cái bản chất
nguyên ủy này là một bí nhiệm hoàn toàn. Khoa học gia đă có thể tách nhân bào ra khỏi
tế bào trứng, tế bào ấy đă mất đi
hết những đặc tính về mặt di truyền.
Khoa học đă dư khả năng làm
biến đi hoặc mất đi đặc tính di
truyền nhưng khoa học không thể tạo ra được
đặc tính di truyền. Khoa học
gia làm mất đi, làm biến đi nhiễm sắc
thể (chromatid - chromatin) trong nhân bào (tạo nên chromosomes và
có chứa genes) nhưng khoa học không tạo được
chrmosomes và genes trong nhân bào. Đó là
một bí nhiệm khác. Khoa học gia đă có thể
cô lập tế bào người hiến tặng hay lấy
từ loài vật, đặt vào t́nh trạng "nằm im
đấy", không phát triển để chờ cơ
hội, nó vẫn sống đấy, có thể phục
hồi (gọi là gap-zero). Khoa học điều khiển được
tế bào trứng và tế bào tinh trùng (human), con người
đă rất tiếp cận với Thượng Đế
"the nucleus is removed from the cell". Thật
là kỳ diệu của khoa học. Nhưng
khoa học đă không thể tạo được cái nhân
bào. Necleus, bộ ohận trung tâm của
một nguyên tử (gồm có neutro và proton). Khoa học không tạo được cái nhân nguyên
sơ ấy. Khoa học có thể tạo được
nguyên tử lực (nuclear force) giữa các "nucleons" để
giữ các nhân nguyên tử với nhau, không tạo nhân bào,
vẫn là bí nhiệm với proton và nutron (proton, dương
điện tử, t́m thấy trong tất cả nhân
của nguyên tử, có tích điện dương
"positive charge" bằng tính điện âm "negative
charge" của điện tử "electron" và có
trọng khối (mass) bằng khoảng 1.672x10-24 gam,
gần bằng 1836 trọng khối của electron. Newtron, trung ḥa tử, không có điện tính, có
trọng khối gần bằng trọng khối của
proton).
Khoa học gia như
là Thượng Đế, đem tế bào người
hiến tặng (tinh trùng) hay lấy từ súc vật
cấy vào tế bào trứng qua phương pháp giao
phối hay cấy ghép tế bào. Tế
bào trứng (nữ) luôn luôn có xu hướng tiếp
nhận nhân của tế bào tiếp nhận (tinh trùng).
Tế bào trứng giao hợp với tế
bào tinh trùng (hiến tặng) sẽ phát triển thành phôi
(embryo) một cách nhanh chóng. Phôi sẽ được
lấy ra để cấy vào tử cung của người
mẹ mang thai dùm. Đó là
phương pháp đă tạo ra được chú cừu
Dolly. Khoa học chắc không thể giải thích
nổi, một người đàn ông già 70 tuổi giao
hợp (intercourse) với một phụ nữ 30-40
tuổi, trong một "tích tắc", sinh thực khí
của ông già bắn vào tử cung của người
nữ 300 triệu tinh trùng, chỉ một tinh trùng "may
mắn" gặp trứng giao phối với nhau rồi
phát triển thành phôi rồi thành thai nhi và ra đời sau 9
tháng, thành người, em bé này được một
tuổi, có thể sống đến 80, 90 tuổi. Tại sao lại không như chú cừu Dolly?
Một con cừu đực c̣n sung sức, 5-6 tuổi, giao
cấu với con cừu cái 4-5 tuổi, chú cừu đẻ
từ bụng mẹ ra đời vẫn là một
tuổi, có thể sống đến 12 tuổi. Đó là bí
nhiệm, khoa học gia có thể "vô tính hóa" làm
một phiên bản khác cho loài chuột, loài cừu và loài người
nhưng khoa học gia không tạo được cái tế
bào tinh trùng và cái nhân của trứng. Cho dù các khoa học gia
có thể điều chỉnh những khiếm khuyết
nêu trên, nghĩa là đứa bé hay chú cừu "vô tính
hóa" thành một phên bản cũng như sinh ra theo
tự nhiên th́ rốt ráo, cái ban đầu nguyên ủy,
tức cái nhân của tế bào, khoa học vẫn không
thể tạo được. Do vậy, nếu lấy bào
của một cụ già 70 tuổi rồi "cloning"
th́ "con người vô tính" thành h́nh đă có 70
tuổi như chú cừu Dolly vậy. Nhưng vẫn chưa
thể tiên liệu 10 năm, 20 năm, 100 năm nữa, con
người, "cloning" và nhân loại sẽ như
thế nào.
- Tinh -
khí - thần
Dù khoa học thành công tạo được
một con người (vô tính hóa và phiên bản) th́ khoa
học vẫn không thể vượt được y
dịch lư Đông phương, do con người là một
hợp thể tinh - khí - thần. Con người là một
tiểu vũ trụ. Thái cực của
vũ trụ người là ở nơi mệnh môn
(cửa vào đời). Bản mệnh thành h́nh từ
đó (xem: Hải Thượng Lăn Ông Lê Hữu Trác, Đạo
Lưu Dư Vận, tr. 137; Y Trung Quan Kiện, tr. 39).
Thứ nhất là
tinh-khí. Tây y chỉ nói đến tinh như
tinh trùng chẳng hạn. Đông y không thể vi phân tinh trùng để biết rằng trong
tinh gịch (sperm) có chứa các chất spermatozoa để
kết hợp với trứng của giống cái tạo
nên sự thụ thai. Tây y vi phân đến
một tinh bào "spermatocyte" của tinh trùng ở giai đoạn
phát triển cuối cùng để thành "spermatozoon
(spermatozoa) tinh trùng của mầm bào (germ cell) của
giống đực t́m thấy trong tinh dịch (để
kết hợp với trứng tạo sự thụ thai, có
đầu to và đuôi dài giống như cây roi). Nhưng
khoa học đă không tạo được cái mầm bào đầu
tiên, dù khoa học tinh vi có thể vi phân
cái tầng ba lớp của tế bào mầm đầu
tiên của phôi bào. Đó là ectoderm tức là tầng
ngoại phôi bào (lớp tế bào bên ngoài của phôi bào) nơi
mà thần kinh hệ, da lông, răng được phát
triển; rồi đến mioderm tức trung phôi bào
nằm giữa ectoderm và entoderm của phôi bào, tạo nên các
mô (tissus) liên kết, bắp thịt, cơ quan sinh dục
và hệ thống mạch quan. Endoderm, nội phân bào,
tức lớp tế bào bên trong của phôi thai,
sẽ tạo nên cơ quan tiêu hóa, các hạch, các nội
quan khác của nhân thể. Y khoa có thể vi
phân tế bào di truyền (germ plasm) t́m thấy trong chromosomes
(nhiễm sắc thể có chứa các đơn vị di
truyền và đặc tính di truyền tức germs và
hereditary characteristics. Giai đoạn này, khoa học có
thể "cloning" từng phần, như
"cloning" tạo ra phôi bào tim, gan, lá lách và các nội
quan khác của nhân thể, rồi đặt vào t́nh
trạng "gap zero", tuy vẫn c̣n sống nhưng
nằm im, chờ "cơ hội" sẽ cho phục
hồi, phát triển... nhưng không cho phát triển toàn
thể để thành một thai bào và thành người.
Nhờ vậy, có thể cloning tim, gan, lá
lách, thận, v.v... để phục
vụ y khoa (thay tim, thay phổi...) (The Washington Post, "From
clones to stem cells to tissue", Nov-26-2001).
Đến đây th́ con người
khoa học đă là "trời" ở trần gian. Nhưng
vẫn thua trời v́ không tạo được khí và
thần trong con người. Với Đông y
không có tinh riêng mà là tinh khí. Tinh-khí-yjần
không thể tách rời. Với Đông y,
y là dịch, nói như Hải Thượng Lăn Ông (đọc
Lưu Dư Vận) và Nguyễn Đ́nh Chiểu (Ngư
Tiều Vấn Đáp).
Dịch là
"siêu khoa học", là đỉnh văn minh của
loài người. Rút lại, có âm và dương
là có đủ, là có người.
Người là âm dương
hay càn khôn (trời và đất -
trời cha, mẹ đất). Thế kỷ 17 Tây phương
sửng sốt, kinh ngạc trước một Đông phương
với dịch, với Nho, Phật và Lăo trong đó con người
lừng lững xuất hiện, một chủ thể nhân
gian. Trời tuy ở trong con người (Phật tại
tâm). Con người là tiểu vũ trụ trong đại
vũ trụ.
- Từ
khoa học đến dịch, y dịch và sinh mệnh
Tri thức và sự sáng
tạo của con người thật gần gụi
với trời là do có trí tuệ và bàn tay
của trời nơi con người. Khoa
học có thể từ một tế bào hiến tặng (a
donor cell) như của chú cừu Finn Dorset, có thể nhân
tạo hóa ra nhiều phiên bản có cùng một nhân bào.
Tế bào hiến dâng được đặt trong
một cái dĩa, dĩa cấy ghép, nuôi dưỡng trong
một hợp chất chỉ vừa đủ năng lượng
để cho tế nào này sống nhưng đặt nó
ở trong t́nh trạng "gap zero". Tách
nhân tế bào trứng của cừu black face ra khỏi
tế bào, đặt nó bên cạnh tế bào hiến dâng.
Từ 1 đến 8 giờ, từ lúc nhân bào được
tách ra khỏi tế bào trứng, người ta dùng cơ năng
điện tử xúc tác, phối hợp hai tế bào
lại với nhau, đồng thời khích động
sự phát triển của phôi. Con người đă
trở thành bậc sáng tạo (the creator). Nhưng xin được
nhắc lại, c̣n bao nhiêu những bí nhiệm khác, con người
không sáng tạo nổi. Người ta có thể tách một
tế bào ra khỏi phôi thai (trường
hợp sinh đôi). Một khi trứng đă
kết hợp với tinh trùng th́ khởi sự là tiến
tŕnh phân bào. Nếu trứng thụ tinh phân chia thành 8
tế bào phôi chẳng hạn, 8 tế bào này được
tách ra khỏi nhau và cấy trứng tế bào một vào trong
tử cung của 8 phụ nữ. Sự thụ thai (firtilization) thành công. 8 em
bé ra chào đời, chúng giống y hệt nhau về nhân
thể và gien di truyền. Dù vậy, khoa học vẫn không
thể sáng tạo ra được cái căn nguyên, cái
nguồn gốc của gien, gọi là "genesis".
Chắc hẳn cái căn nguyên ấy là độc quyền
sinh tạo của Hóa Công. Tám em bé "cloning" là 8
cuộc đời, Đông phương gọi là mệnh
rồi 8 cái mệnh ấy sẽ như thế nào? Vẫn
là bí nhiệm như hai em bé sinh đôi, nếu lấy
tử vi cho hai em th́ hai em có chung một
tử vi, nhân thể và di truyền như nhau, cùng cha cùng
mẹ. Nhưng vẫn là hai cuộc đời
khác nhau, tâm tính khác nhau rồi lớn lên thân thể cũng
khác nhau. Tám em bé "cloning", nếu tử vi cho
cả 8 em th́ sẽ có 8 bản tử vi khác nhau v́ 8 bà
mẹ thụ thai dùm chắc là sẽ đẻ vào ngày
giờ khác nhau (ở đây tôi không lạm bàn về tử
vi).
-
con
người - dịch lư và khoa học
Nhân loại là đồng
dạng, là đại đồng. Đại đồng
và đồng dạng (homo, like, same, equal) là bản thể
của nhân chủ nhưng cái gốc, cái căn nguyên từ
đâu th́ khoa học không thể t́m ra được,
cũng như là cái căn nguyên của nhân bào trong tế bào
tinh trùng và tế bào trứng. Đông phương
vượt xa. Tác phẩm lẫy lừng của
Dịch Trung Hoa là Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu
Ung (Thiệu Ung tức Thiệu Khang Tiết) đă sáng
tỏ khá rơ cái nguyên đầu tiên ấy "Thiên do đạo
nhi sinh, địa do đạo nhi thành, vật do đạo
nhi h́nh, nhân do đạo vi hành. Thiên, địa,
nhân, vật tắc dị hĩ, kỳ ư đạo
nhất dă". Nghĩa là: Trời do đạo mà sinh
ra (trời đây là vũ trụ, không phải là ông
trời, thượng đế), đất do đạo
mà thành ra, vật do đạo mà có h́nh, người
do đạo mà hành động (sinh sống). Trời,
đất, người, vật, tuy khác nhau nhưng đối
với đạo th́ tất cả chỉ là một. Từ cái một ấy mà phân ra, trời và đất,
âm và dương, cơ và ngẫu (chẵn và lẻ).
Dịch gọi là "tham (tam) thiên lưỡng địa",
tác giả Hoàng Cực Kinh Thế giải thích: Dịch
hữu chân số tam nhi dĩ. Tham thiên
giả, tam tam nhi cửu. Lưỡng địa
giả, bội tam nhi lục. Tham thiên lưỡng
địa nhi ỷ số. Phi thiên địa chi chính số dă. Ỷ giả, nghĩ dă. Nghĩ
thiên địa chính số nhi sinh dă." Nghĩa là dịch chỉ có 3 số mà thôi. Và là chân số. Tham thiên là 3 x 3 =
9. Lưỡng địa là 3 x 2=6. Tham thiên lưỡng địa mà đặt vào
số, đó chẳng phải chính số của trời đất.
Dựa vào đó có nghĩa là bắt chước,
bắt chước chính số của trời đất
mà sinh ra. (Thiệu Ung, Hoàng Cực Kinh Thế, Q. V, tr.
8; Q. VII - thượng, tr. 2; 26).
Dịch là
luật tự nhiên của vũ trụ mà Lăo Tử gọi
là Đạo. Cả những ngàn năm sau, hai nhà bác
học nguyên tử Lư Chính Đạo và Dương Chấn
Ninh đă khám phá ra qua luật bất đồng đẳng
(law of non-parity) là do từ Dịch. Dịch gọi là
luật cơ ngẫu (chẵn-lẻ). Trong cái nhân (nucleous)
của tế bào tinh trùng và tế bào trứng đă theo luật tự nhiên âm dương bất đồng
đẳng (ly tử dương 3, ly tử âm 2, tỷ
lệ 3/2). Ai tạo ra cái luật thiên nhiên
ấy? Lăo Tử gọi là Đạo.
Khoa học hiện đại khám phá ra
chất hydrocarbured CH là nguồn gốc của sự
sống trên trái đất khi trái đất c̣n tinh nguyên và
vị thành niên (junile). Y dịch lư
gọi là thủy hỏa tiên thiên (inné). Trong hydrocarbures
có hydrogene H thành phần quan trọng của nước
(nguyên tố hóa học ở thể khí, nhẹ nhất so
với các nguyên tố khác, không mầu sắc, không mùi
vị, dễ cháy, kư hiệu là H, trọng lượng
nguyên tử 1.00797, số nguyên tử 1, tỷ trọng
0.0899/g/l.) Nước mang công thức H20,
vẫn là chẵn lẻ. Nhà bác học
Pháp Antoine Laurent Lavoisin (1743-1794) gọi hydrogène là sinh
thủy (water former). Carbon là lửa, là
hỏa (kư hiệu C, trọng lượng nguyên tử
12.01115, số nguyên tử 6, có trong nhiều trong hợp
chất vô cơ, và trong tất cả hợp chất
hữu cơ. Carbon có có các nguyên tố đồng
vị carbon-12, carbon 13, 14). Hydrocarbures
lại biến hóa thành chất azotes (azotized - hóa hợp
với nitrogene hoặc với hợp chất của
nitrogene) và oxy (dưỡng khí). Dưỡng
khí là sự sống (có vào khoảng 1/5 trong không khí). Oxy là phong, Azote là thổ. Nước,
lửa, không khí, đất là tứ nguyên đại
của y khoa.
Dịch có
thể gọi là Đạo của vật lư "The Tao of
physic". Rốt ráo, quanh co, đi
về, sinh-hóa vẫn là Đạo. Dù là
"cloning" th́ chú cừu Dolly hay em bé Eve ra đời, nó
bắt đầu từ thái dịch (làm cho nhân bào tinh trùng
và trứng tách ra rồi cho giao phối với nhau, đó là
sự chuyển dịch đầu tiên gọi là thái
dịch. Khi cái phôi thành h́nh đó là thái sơ.
Cái phôi phải sống trong một môi trường hoạt
dịch là thái thủy, cho đến khi thành thai nhi rồi ra đời, nhịp tim đập,
máu luân lưu đó là thái tố (mạch thái tố - y
dịch). Khởi đầu của sự sinh là mệnh,
không biết khởi đầu từ lúc nào nên gọi là vô
thủy (không khởi đầu), do lẽ không có thời
(the time) thực và nếu có th́ đó là thời của luân
hồi, cùng một nghĩa với chu lưu.
Ai biết được cái mệnh của con người
khởi từ lúc nào ở mệnh môn? (trong
tử cung của mẹ), chu kỳ của thời gian
nhỏ nhất là một sát-na. Và 99, 980 sát-na tương
đương với 2 tỷ 444 triệu hốt-mang-vi.
Sự sinh xuất hiện trong một sát na.
Nhịp đập của tim như
một chu kỳ của một sinh cơ tiểu vũ
trụ khi con người c̣n là bào thai trong ḷng mẹ.
Do vậy mệnh khởi
từ lúc không thời từ một sát-na hay từ một
hốt mang vi, từ cái "mảy
may" vi, vi ty. Có sinh mới có sinh mệnh.
Sinh là do hiếu hay háo (do chữ tử (nam) một nên và
chữ nữ một bên), nghĩa là thích, ham.
Kỹ thuật "cloning" cho ta biết đem
nhân của tế bào trứng để cạnh nhân của
tế bào tinh trùng, 2 nhân kích động là sáp vào nhau ngay để
giao phối.
Sự sinh của dân tộc
Việt Nam ta theo huyền thoại là
một cặp âm dương, Lạc Long - Âu Cơ. Tất
cả khởi nguồn là thủy hỏa âm dương. Đó
là cái căn nguyên đầu tiên (genesis), là một bào. Dù là
do người "cloning" nhưng ai tạo ra cái căn
nguyên đầu tiên ấy? Tổ Tiên ta từ những ngàn
năm trước đă trả lời: Trời, Đấng
Tạo Hóa chỉ có một (L'Unique - The only One). Cái căn
nguyên đầu tiên ấy là cái một bọc Mẹ Âu Cơ,
bỏ qua huyền thoại, theo y
dịch lư đó là cái sinh mệnh đă sẵn thủy hỏa,
tương sinh tương khắc. Cha
Rồng mệnh thủy mà rồng lại là dương.
Mẹ Tiên mệnh hỏa mà Tiên lại là âm.
Trong nhân thể vẫn là thủy hỏa.
Hỏa sinh ra thần. Hỏa là ánh sáng,
hỏa là năng lượng. Vật chất
và tinh thần đồng nhất thể trong thủy và
hỏa. Thủy từ khí mà ra. Hải Thượng Lăn Ông và Lê Qúy Đôn đă nói
rất rơ về thủy hỏa tương khắc tương
sinh.
- Khi tây
phương t́m về đông phương
Thế kỷ thứ 18 và 19
cùng với cuộc cách mạng kỹ nghệ của Âu Châu
và cao trào duy vật vô thần, Âu Châu lại le lói ánh sáng
lạ lùng từ phương Đông qua James Legge (1815-1897),
một giáo sĩ Anh giáo người Anh đă đến
Trung Quốc truyền giáo và ở lại trên 30 năm,
với tên Tầu là Lư Nhă Các, ông uyên bác Nho học và Dịch
lư. Kể từ năm 1840, J. Legge đến Malacca rồi
làm viện trưởng Anh-Hoa Học Viện sau qua Hương
Cảng, rồi về Anh làm giáo sư Hán Học tại ĐH
Oxford, cho đến lúc qua đời. Legge
"ch́m đắm vào biển học Nho và Lăo và Dịch
học. Trước Legge đă có nhiều học
giả Tây phương đến Ấn Độ và Trung
Hoa để nghiên cứu như Antonius Goubil một
thừa sai Pháp đă đến Tầu truyền giáo năm
1723 với tên họ Tầu là Tống Quân Vinh tự Kỳ
Anh, ông nghiên cứu kinh Dịch và dịch ra tiếng Pháp.
Nhà bác học Đức Gottfried Wilhelm Leibniz (1646-1716) cha đẻ
của khoa toán học vi tích phân (the infinitesimal calculus),
viện trưởng đầu tiên của Phố quốc
(Đức) Khoa Học Viện (The Prussian academy of Science).
Ông là một triết gia nhân bản vĩ
đại của Âu Châu thế kỷ 18 qua tác phẩm
"Essais de Théodicée sur la bonté de Diêu, La liberté de l'homme et
l'origine du Mal (1710). Nouveaux essais sur l'entendement humain, Monadology
(1714, Principles of Nature and Grace (1714 - Những nguyên tắc
của thiên nhiên và ân sủng). Về
Leibniz, xem: Hidé Ishiguro, Leibniz's philosophy of logic and language. NY 1972; G.H Parkinson, Logic and reality in Leibniz's Metaphysics.
NY 1965 - (Lozich và thực tại trong Leib siêu
h́nh học).
Leibniz là nhà bác học Tây phương
đầu tiên quan tâm nghiên cứu kinh Dịch qua người
bạn của ông, giáo sĩ Ḍng Tên Joachim Bouvet, người
Pháp, tên Tầu là Bạch Tấn truyền đạo ở
Tầu, thấm nhuần kinh Dịch, ông gửi cho Leibniz 2
bộ sách Dịch dịch ra Đức ngữ
"Phục Hy lục thập tứ quái (64 quả) thứ
tự đồ" (Bản Anh ngữ: Gegregation table) và
"Phục Hy tứ quái phương" (Square and circular
arrangement). Nói chung, qui lại đó là
nguyên lư của hệ thống nhị phân trong kinh Dịch
(binary system). Leibniz ảnh hưởng kinh
Dịch rất xâu xa. Khởi từ
số 0 (không) là hào âm, rồi đến dương là 1.
Thứ tự 64 quẻ là thứ tự
từ 0 đến 63 quẻ. Về siêu
h́nh, Leibniz cho rằng, vũ trụ được tạo
dựng bởi những tâm vật mà ông gọi là
"monad". Mỗi thứ đều
phản ảnh vũ trụ nơi chính ḿnh. Không khác Nho giáo "vũ trụ giai bị ư
ngă, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên".
Nghĩa là vũ trụ ở ngay trong ta,
trở về với ta với đạo thành th́ đều
đại yên cả." Leibniz phát
kiến rằng có một hệ giai (hierarchy) của
những monads dẫn đến chỗ tối cao là
một monad tối cao (supreme monad), đó là Thượng Đế.
Đi xa hơn thời Leibniz,
học giả James Legge c̣n nghiên cứu về Đạo
Giáo với Lăo Tử và Trang Tử, ông dịch qua Anh ngữ
hai bộ Đạo Đức Kinh tức Tao Teh King
"The Text of Taoism" (Đạo Giáo kinh văn) và Trang
Tử "The writings of Kwang-Zee in the text of Taoism - Oxford 1891). Legge c̣n dấu xâu vào huyền học, ông tổng
hợp và dịch bộ "Thái thượng cảm
ứng thiên", (The Thai-shang tracte of actions and their retributions
- Oxford 1891. Legge c̣n dịch ra Anh ngữ các bộ
Lễ Kư, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung
Dung, Đại Học, Kinh Thư, Kinh Thi, Xuân Thu Tả
thị truyện... Giáo sĩ Legge đă
thấy Trời (God) ở Nho-Lăo. Legge đă thấy
trời trong con người ở Nho-Lăo. Và Legge đă
thấy một Đông phương thật vĩ
đại qua Nho-Lăo.
Linh mục Ḍng Tên Joachim Bouvet (1656-1730)
mới là người tiên khởi đi xâu vào Dịch kinh
(năm 1685, Bouvet (Bu-Vê) đến Trung Hoa, ở Ninh Ba, năm
1688 lên Bắc Kinh triều kiến vua Khang Hy rồi được
bổ nhiệm làm quan Thị Giảng cho Hoàng Đế.) Cha Bouvet soạn bộ Dịch Học Tổng
Chỉ. Năm 1712 ông soạn bộ Dịch Kinh Đại
Ư (Thư viện quốc gia Paris hiện lưu trữ
bộ này, kư hiệu 17239). Với tên tự là Minh
Viễn, năm 1694, cha Bạch Tấn được vua
Khang Hy cử làm sứ thần về La Mă và Ba Lê tặng
qúy phẩm lên đức Giáo Hoàng và vua Louis XIV (Pháp). Uyên thâm
Dịch kinh và Nho giáo, cha Bouvet đi đến kết
luận: "Thiên chúa giáo và Nho giáo không có ǵ mâu thuẫn
với nhau." Các giáo sĩ Ḍng Tên ở Trung Hoa cùng
thời cũng một quan điểm với linh mục
Bouvet: Thượng Đế ở trong Kinh Thi và Kinh Thư,
không khác Thiên Chúa trong Ki-tô giáo. J. Legge dịch Thượng Đế
trong Kinh Thi và Kinh Thư là GOD (xem: J. Legge. The Sooking, Part II,
Book IV - p. 79 - Xem: Cao Thế Dung, Việt Nam Công Giáo Sử
Tân Biên, Q. II - Cơ sở Dân Chúa xb, 2002, chương XIV
"Quan hệ Công Giáo Trung Hoa và Việt Nam, tt. 719-757).
Từ linh mục Bouvet đến
Leibniz và J. Legge đă thấy Trời trong Người
ở phương Đông qua Nho, qua kinh Dịch và đặc
biệt với J. Legge qua Đạo Đức Kinh, Lăo
Tử và Trang Tử.
-
Nhân
chủ và con người tuyệt diệu qua thần
lực - khí công pháp
Khi Lăo giáo
biến thể để thành Đạo Giáo (tôn giáo) th́ tôn
giáo này cho đến nay ít có học giả Âu - Mỹ nào
nghiên cứu một cách xâu rộng. Bỏ qua những
dị đoan như đồng cốt, luyện tiên đan...
Đạo Giáo tôn Trời là đấng
tối cao (Hoàng Thiên Thượng Đế) và Người
là một khả năng kỳ diệu (qua khí công). Lăo
Giáo và Phật Giáo không khác nhau về sức mạnh siêu
việt của con người. Chữ chỉ trong Phật
và Lăo Giáo là chữ rất động năng, tập trung
nhất, mạnh mẽ nhất, tiếng Phạn là Samatha,
thường đi với chữ định, chữ
Phạn gọi là Samàdhi, Tầu dịch là đẳng tŕ,
Việt dịch âm là tam-ma-địa hay tam muội. Chỉ thường đi với quán, tiếng
Phạn gọi là Vipasyanà, nghĩa là chỉ nhắm đến
một mục tiêu nào đó. Quán là
thuật ngữ khí công của Phật Giáo. Kinh Dịch có quẻ Quán (quẻ thứ 20 -
bản Chu Dịch hiện hành). Nhà Dịch học Đức
quốc Wilhelm b́nh giảng quẻ quán như là chiêm ngưỡng,
quan sát (contemplating) được nh́n thấy (being seen). "Gió thổi trên mặt đất là h́nh tượng
của qủe Quán". (Tượng viết: Phong hành
địa thượng, Quán) Quẻ này,
nghĩa rất rộng. Quán chỉ là
thuật ngữ của Phật Giáo, "Phật chi chân
truyền, tại ư quán chỉ". (chân
truyền của Phật là ở quán chỉ). Quán tưởng,
thuật ngữ khí công của Phật giáo, dùng ư niệm
tập trung quan sát. Quán vô lượng, chữ Phạn là
Amitayurd hyana sùtra, một trong ba bộ kinh lớn của
Tịnh Độ Tông, "nếu tu niệm A-Di-Đà-Phật"
hay quán niệm "Nam Mô A Di Đà
Phật" th́ có thể tiêu tai diệt họa, sau khi
chết có thể văng sinh lên cơi cực lạc tịnh độ".
Quán chỉ là khả năng siêu việt của con người,
c̣n gọi là chỉ quán.
Do tu tập, con người
nắm được chỉ quán pháp, có thể: điều
thân (ngồi ở tư thế tự nhiên hay xếp
bằng, có thể điều động nhân thể). Có
thể điều khí: ngồi yên, mở miệng, hít
thở hoặc mũi hít, mũi thở hoặc mũi hít
miệng thở. Hô hấp bụng hoặc hô
hấp tự nhiên, không thể dùng sức. Tu tập đến
khi để khí ra vào cực nhỏ, sâu và dài, làm thế nào
để tai không nghe thấy tiếng hô
hấp. Sau khi luyện hô hấp kiểu bụng đă đạt
được kết quả như thế th́ hô hấp
kiểu thân (trở lại điều thân, hô hấp). Điều
thần: sau khi đạt được khí điều
ḥa, th́ có thể điều thần, bài trừ mọi
tạp niệm (nghĩ vớ vẩn, bậy bạ, phù
phiếm). Vẫn hít vào thở ra tự nhiên.
Hít thở từ mũi, vào bụng cứ như một đường
thẳng góc (từ mũi thông đến bụng), đạt
đến điểm "thể chân chỉ", không c̣n
tạp niệm nữa, tức là chân thực, tư tưởng
dừng ở đây nên gọi là thể chân chỉ. Con người
có khả năng thánh thần đạt đến mức
đó, người trở thành Phật. Tự trong con người
đă có 16 đại lực: 1.- chí lực; 2.- ư lực; 3.-
hành lực; 4.- tàm lực; 5.- cường lực; 6.- tri
lực; 7.- tuệ lực; 8.- sức lực; 9.- biện
lực; 10.- sắc lực; 11.- thân lực; 12.- tài lực;
13.- tâm lực; 14.- thần túc lực; 15.- hoàng pháp lực;
16.- hoàng ma lực, gọi là "thập lục đại
lực". Con người trong Phật giáo hay nói một
cách khác, Phật ở trong con người, có tới 10
loại trí lực. Theo kinh Câu Xá Luận và Đại Trí Độ
Luận th́ cái biết đầu tiên là tri giác (phân biệt
rơ lư và phi lư - tri giác xứ phi xứ trí lực)... Khởi từ đó để đạt đến
cái trí biết rơ nhân quả chuyển sinh tới các cơi nhân,
thiên và đạt tới Niết Bàn. Tri
thứ 7 "tri nhất thiết chi xứ đạo trí
lực). Cái biết thứ 8 là trí
lực dùng thiên nhăn mà biết rơ sự sinh tử cùng
nghiệp duyên thiện ác của chúng sinh "tri thiên nhăn vô
ngại trí lực". Cái biết thứ 9 là trí
tuệ đạt đến chỗ biết rơ đầy đủ
"túc mệnh" của chúng sinh và Niết Bàn vô lậu.
(tri túc mệnh vô lậu trí lực). Cái biết cuối cùng (thứ 10) là biết rơ
vĩnh viễn, dứt phiền năo và nghiệp, không c̣n lưu
chuyển trong ṿng sinh tử nữa. "Tri
vĩnh đoạn tập khí trí lực". Thành
Bồ Tát, tiến lên thành Phật.
Nhân Chủ đă
tự tại trong Phật Giáo. C̣n người
là khả năng siêu phàm, siêu linh trong Đạo giáo.
Con người là chủ vị trong Thiên Chúa Giáo. Tư tưởng
truyền thống Việt Nam là do thần Đế Minh. tế thần Đế Minh cùng với
tế Trời ở đàn Nam Giao: qua khí công từ Lăo Giáo đến
Phật Giáo, con người đă đạt đến
tuyệt đỉnh của sức mạnh con người,
cả thân xác lẫn tinh thần. Mà nhục
thể và tinh thần cũng là một. Nói theo nhà bác học Lê Qúy Đôn, vật chất
cũng là động năng. Nói theo nhà
bác học vật lư lượng tử Einstein, vật
chất là động năng và là năng lượng, y như
Lê Qúy Đôn trong luận điểm về hỏa và khí. Hết hỏa, con người chết.
Con người là h́nh ảnh
Thượng Đế. Đức Kitô xuống thế làm
người nên Ki-tô Giáo là đạo thờ Đức Chúa
Trời c̣n là đạo làm người với tôn chỉ cơ
bản: công b́nh và bác ái. Trí tuệ con người được
Thánh Linh nhiệm thể, quan pḥng, soi sáng: Kitô Giáo thờ
Thánh Linh, ánh sáng nhiệm mầu của siêu trí tuệ đă
đưa con người lê chủ vị. Khởi
từ cố Giáo Hoàng Gioan Phalồ II, Tây phương đang
tở về với "Antropocracy", "Nhân Chủ chi đạo".
Thái Dịch Lư Đông A tuyên dương Nhân Chủ cách đây trên 60
năm:
"Một siêu đăng
hiện địa trổ ngành hoa
Phải đem nền Nhân
Chủ đắp xây ra
Phải đă
thắng, bằng thắng qua thắng trận.
Phải nhân gian
bốn bể lẫn một nhà".
Cao Thế Dung, Ph. D
Vào hè, 2005