|
|
||
|
|
|
CÂU HÁT TÌM NHAU (Khuyết danh)
|
Tôi gặp lão lần đầu trong quán thịt
chó của bà Tư béo, nơi tôi đến bỏ rượu
gạo hàng chiều sau giờ đi làm. Lão xuất hiện
với bộ dạng một người lỡ đường,
tay bị, tay mũ cối, gương mặt
rỗ hoa lấm tấm bụi đường và mồ
hôi. Tưởng lão là người ăn
xin, bà Tư đuổi như đuổi tà:
-
Ði ra! Ðể người ta bán, đừng có
hãm tài.
-
Thưa bà, tôi không xin. Tôi tận Hà Bắc vào
đây tìm người quen. Bà cho tôi hỏi...
bà có biết người này.
Lão
chìa ra mảnh giấy bọc ép nylon như thẻ căn
cước, ghi dòng chữ: Hai Xuân, người Bắc Ninh,
có chồng tên Tuất. Sau 1975 có người gặp
sinh sống ở Ðà Nẵng.
-
Mơ hồ thế có trời biết! Không đường,
không số nhà... Già rồi lẩm cẩm.
Con cháu sáng suốt không sai đi tìm. Thôi đi
chỗ khác. Ðây cũng là dân ngụ cư thôi! Không biết!
Bà chủ quay ngoắt, dềnh ngang bộ
mông núng nính đi vào bếp. Lão lẩm bẩm:
-
Cả tuần nay... hỏi ai cũng trả lời chừng
đó!
Thương
hại lão, tôi gợi chuyện:
-
Thế bà Xuân người như thế nào?
-
Cô ấy người dong dỏng. Trắng
tươi. Hát hay. Xinh
đẹp.
Bàn
thịt chó bên cạnh lập tức nhao lên:
-
ồ ! Cháu lão hả? Bao nhiêu tuổi? Ðể tụi
này tìm giúp coi có “xơ múi” chi không?
-
Cô ấy thua tui một tuổi?
Cái quán ven đường bỗng òa vỡ
tiếng cười. Tiếng đập
bàn, la ó, huýt gió, hô hố... náo loạn.
-
Thế thì "cố" chứ "cô" gì! Làm tụi
này tưởng bở bố ạ! Cỡ ấy
ra nghĩa địa tìm dễ hơn.
-
Mà cố Xuân là gì của lão? - Gã để râu xồm xoàm vừa
nhai vừa hỏi.
-
Xưa cô ấy là bạn hát quan họ của tôi.
-
Lão vượt đường dài ở tuổi này để
tìm một bạn hát xưa già khú đế à?
-
Vâng.
-
Trời ơi... là trời... ở mô rớt xuống ông ngố
đa tình như ri hở trời! - Gã giọng
Huế cùng bàn cúi gập người rên giữa một
tràng cười. Còn lão điềm tĩnh, kiên định
hỏi tiếp:
-
Mua bản đồ thành phố ở đâu mấy chú?
-
Thôi lão ơi, có khát tợp ít ngụm rồi mua vé về nhà
nằm nghỉ. Kiếp sau yêu cho dài ngày rộng
tháng.
Rồi
để thưởng câu nói mà gã tự cho là ý vị ấy,
gã để râu ngửa mặt lên trời, ném điệu
nghệ một miếng dồi chó vào miệng, nhai nghiến
ngấu, tợp một ngụm rượu, khà một tiếng
khoái trá.
-
Ngoài tôi, chỉ có món xào và rựa mận là để bát
đĩa. Còn các món khác đựng trong lá tất... Ăn bốc mới đúng điệu. - Ðột
ngột lão góp ý.
-
Coi bộ cũng là dân nghiện mộc tồn.
-
Phải thật thoải mái, không cần giữ ý tứ. Bữa
ăn phải đượm mùi hoang
sơ của những người lục lâm tứ chiếng.
-
Mở đầu được đấy !
Mần ly rượu nói tiếp đi!
Câu
chuyện xoay quanh chó: cách chọn chó, nấu chó, ăn chó... Lão sành đến nỗi
những cái mặt đỏ gay, những cái miệng bóng
nhẫy đều quay về phía lão hóng chuyện. Cái mông núng nính của bà Tư cũng yên vị trên
chiếc ghế dựa hồi nào. Bà chủ
đang há hốc miệng nghe lão bày cách chế biến từ
bảy món cầy cơ bản thành mười món hoặc
hơn nữa. Lạ là lão sành món
“hương nhục” đến thế lại từ chối
động đũa vào đĩa chó. bà
Tư đích thân bưng đến đặt trước
mặt lão để mong thụ giáo. Lão giải thích hễ
lão cầm đũa là phải ăn no mới
thôi. Cái thứ này hễ ăn là say,
ăn mãi... ăn thì phải đúng điệu với bạn
tri ân để say còn khóc cười cho hả...
-
Khách của tui đủ giới, ở khắp thành phố
này - bà chủ lên tiếng - Dò tìm một cố Xuân nói giọng
Bắc, vấn khăn, cao dong dỏng, biết hát quan họ
không phải là khó. Tui sẽ nhờ anh em... sẽ để
lão ăn thịt chó thỏa thuê không lấy
tiền... với điều kiện lão giúp tôi tiếp khí
sắc cho quán. Dãy này bốn quán... phải có ngón nghề
đặc biệt mới kéo khách về mình...
Quán thịt cầy của bà Tư béo từ
độ có lão bỗng đông khách hẳn. Thịt bao giờ
cũng lớn bùi, bé mềm, cả tơ cả cứng cho
đủ vị cuộc đời. Lá sen, lá
dong riềng, lá chuối được thay đĩa men.
Quán có đến mười hai món “hương nhục”, thơm điếc mũi. Buổi tối quán
tắt đèn điện thắp đèn cầy ăn thịt cầy... âm âm u u thế mà gọi
mời đáo để. Những câu chuyện về đời,
về chó của lão dưới ánh nến bao giờ cũng
khiến khách ăn cảm thấy bữa
rượu thịt đậm đà. Bữa nào lão không tới,
họ lại ăn uể oải đòi
lão có mặt. Bọn họ gọi lão là
"lão Tầm Xuân". Cái quán ven đường rôm rả
hẳn lên khi ông lão mặt rỗ hoa, ăn
mặc nhếch nhác bước vào. Họ hát ong ỏng
đón lão:
“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em
đi lấy chồng anh tiếc lắm thay. Già rồi tiếc vẫn chưa nguôi. Xắn
quần anh lội suối, khòm lưng anh vượt
đèo...”.
Có hôm, men rượu không giải được
nỗi sầu vô vị, họ lại đem lão ra giải
buồn. Họ đổi những tin “dỏm”
về cố Xuân bằng những câu chuyện của lão hoặc
một cú tẩm quất sướng ê người. Nếu quán vắng khách, họ nằm ườn
ngay trên nền quán, ưỡn tấm thân trẻ trung rã rời
cho lão tẩm. Xương bật giòn tan, còn bọn họ
lè lưỡi: “Hồi trẻ, lão phải vật trâu!”
-
Hồi trẻ, tôi giật đến hai giải thi vật
- Hứng chí lão khoe.
-
Thế mà không vật nổi cô Xuân dong dỏng, trắng
tươi, hát hay xinh đẹp.
Cả
bọn cười ồ còn lão bỗng tiu
nghỉu. Lão ngừng đấm hỏi:
-
Lần này "dỏm" không đó?
-
Dỏm 50%. 50% có thể thật. Ðứa
nào nói dối 100% hộc bia ra ngay.
Chân
dung cố Xuân thay đổi xoành xoạch. Khi
thì cố Xuân ở tận bên làng biển An Hải, mù vì
khóc lão. Khi thì ở trên Hòa Khánh, điếc
đặc. Khi thì ở tận Hòa Cường, suốt
ngày ho sù sụ...
Có
lúc bọn trẻ kéo vào quán một bà già nghễnh ngãng, ré
lên: "Lão Tầm Xuân ơi, cố Xuân đây nè!". Bà già chửi te tua
còn bọn chúng cười hô hố. Chỉ có
lão không nói một lời. Tôi có cảm tưởng có
cái gì nặng hơn chiếc lá khô vỡ tan tành trong lòng lão.
Ôi lão Tầm Xuân! Lão tìm trong cuộc đời
nước chảy mây trôi như một hình bóng của ký ức
thì tìm sao đặng? Những cuộc
"gặp" ấy để lại trong lòng lão dư vị
cay đắng. Lão ngồi uống rượu
suông, mắt mờ đục như có khói và lão hát. Dĩ
nhiên không phải để cho chúng tôi nghe! Lão
hát hay lắm. Hay đến nỗi có lần
tôi phải chở vợ đến nghe. Nàng đứng
ở ngưỡng cửa nghe lão hát bài ruột: "Khi
tương phùng, khi tương ngộ. Xuôi
lên bộ, văng vẳng tơ tình. Chiêm
bao lần chẵn năm canh. Bao lần
anh ngồi tựa trăng thanh. Thương
nhớ sâu oanh. Lẻ loi chim nhạn.
Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ
gặp mặt sánh đôi. Suốt năm
họa là. Duyên bén ngãn, văng vẳng
tơ tình. Trước không phải, sau
đền duyên ba sinh".
Khó
tưởng tượng một giọng hát say đắm
ngọt ngào dường kia lại thoát
ra từ một lồng ngực hom hem phô những giẻ
sườn. Vợ tôi bảo không phải lão
hát mà tình yêu lão hát. Nàng có đôi chút học vấn
để nhận xét: đằng sau vẻ ngù ngờ, xấu
xí, già nua kia là một trái tim thực có một
cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp
trên đời. Cô Xuân ấy không bao giờ già, không bao giờ
xấu, không bao giờ chết trong lão!
Sau lần nghe lão hát và những câu chuyện
tôi kể về lão, vợ tôi bỗng trở nên “ái mộ”
lão.
Nàng bảo tôi chở lão đến nhà chơi
rồi lão trở thành khách quen thuộc của cả nhà.
Họ cũng bị lão “mê hoặc” như cả
quán cầy tơ của bà béo. Lũ con tôi quý lão vô
cùng. Lão bày chúng hát nghêu ngao những bài quan họ.
“Sớm đi chơi hội, tối về
quay tơ. Dải yếm phất phơ.
Miếng trầu, mồi mốc. Miếng ăn, miếng buộc. Miếng gối đầu giường. Muốn tìm người thương. Tìm đâu cho thấy?”... Lão cho chúng những
đồ chơi thật ngộ - những con vật bằng
lá dừa biết ngúc ngắc, con gà trống bằng đất
sét lòe loẹt xanh đỏ tím vàng kẹp chiếc kèn lá có
thể cất tiếng gáy... Bếp nhà ấm
áp khi có lão. Lão nếm rượu chính xác như đo,
hàn giúp cái xoong, cái nồi rất khéo. Lão mơ màng kể cho
chúng tôi nghe những ngày hội Lim, những liền anh áo
the khăn xếp, liền chị thắt lưng hoa lý, yếm
đào con nhạn, mắt lá răm lúng liến hát thâu
đêm. Tôi ngồi nghe lão tả những làn điệu quan
họ đắm say miên man dìu dặt và yêu cầu lão hát
nhưng thường lão lắc đầu. Lão
bảo hát quan họ phải có đôi, có bạn, có chỗ.
Ký ức lão còn giữ nguyên vẹn những ngày hội quê
lão: Hội làng, Hội Xuân, Hội mùa... Trai
thi mạnh, gái thi mềm. Thi hoa, thi vật, kéo co, hát
chèo, nấu cơm, đánh đu, cờ người...
-
Lão gặp cố Xuân ở những ngày hội đó à?
-
Vâng. Ðó cũng là ngày hội quan họ, cả
vùng như ngấm men say, phát cuồng vì hội lễ.
Năm ấy anh cu Rỗ là tôi tròn 18 tuổi, được
cử vào bọn quan họ làng để luyện giọng
thi hát với bọn quan họ làng bên kia
sông. Nhà tôi ba đời hát quan họ. Tôi luyện trên dưới 200 giọng, thế mà
khi hát đôi với cô ấy tôi run. Tâm hồn
tôi lơ lửng không đặt hết vào lời. Cô ấy là tiên quan họ. Ngày xưa cô Tấm
cũng đẹp thế là cùng! Giọng hát
sóng sánh. Mắt đen lóng lánh. Môi cắn chỉ đỏ thắm. Cần
cổ như cuống hoa huệ... Tôi say, say lời hát, say
cô ấy, quên cả ngón ruột phải tung
ra vào phút chót để thắng dứt điểm. Cuộc thi kéo dài đến ba ngày. Tiếng trống dứt mới giật mình
ngơ ngẩn. Dĩ nhiên tôi thua...
-
Ða tình thế sao không lấy?
-
Lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn
quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy
sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời
hát. Kết nghĩa quan họ như kết
nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp
nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời
mình mà có khi còn đến đời sau. Làng tôi có nhiều cặp
quan họ khi đầu bạc răng long, tình yêu trong câu
hát xưa vẫn không tàn. Có dịp gặp nhau
trên chiếu quan họ, họ lại sống lại thời
xuân sắc. Anh em kết nghĩa quan họ gặp nhau
“xuân thu nhị kỳ”, đến thăm nhau, ăn uống,
vui chơi, ca hát với nhau. Mỗi bên có chuyện
vui buồn đều tổ chức đi lại thăm
viếng. Tôi nhận ra một điều: người
ta có thể cho nhau niềm hạnh phúc to lớn biết
dường nào và chẳng lần nào giống lần nào... Rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng.
Bọn quan họ chúng tôi đến chia vui.
Tôi đau lòng hát miên man...
Mắt lão bỗng mơ màng xa vắng. Rồi một
giọng hát trẻ trung đằm thắm da diết cất
lên: "Ăn quả nhãn lồng. Ước
sao người ấy tôi bồng trên tay...”.
Không phải lão Tầm Xuân tóc bạc da mồi hát mà anh cu Rỗ
tóc đen như mun, da mầu đồng, có giọng hát
Trương Chi hát! Cô ấy hiểu lòng tôi, chú ạ! -
Lão
lại ngưng hát, kể: Tôi hát bài "Khi tương
phùng, khi tương ngộ" ngang nửa bài thì cô ấy
xen ngang, hát tiếp: "Bạn tình ơi! Em biết đến
bao giờ họp mặt sánh đôi... Trước
không phải, sau đền duyên ba sinh". Chúng tôi cắt câu quan họ làm đôi, mỗi
đứa giữ một nửa. Hẹn
kiếp sau chắp lại.
Sau
đó là chiến tranh... nạn đói... Câu quan họ tan tác
trăm phương. Tôi vào Vệ quốc quân, tham gia kháng
chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại,
tôi về làng thì nghe cô ấy đã theo chồng... nghe nói vào
Nam .
Rồi tuổi già đến. Già buồn lắm
chú ạ! Cô đơn và bất lực. Chết
không đáng sợ bằng tuổi già. Sống
đến đó, người ta mới nếm tận cùng
chén đắng cay của đời. Tôi
sợ hình ảnh ông hàng xóm ngày nắng được bế
cả người lẫn chăn ra hong nắng. Nắng
rực rỡ đọng thành từng vũng quanh ông ấy,
còn ông ấy nhăn nhúm trong cái chăn rách... Tôi có cảm
tưởng ông được đem phơi cho chết vi trùng. Có bà, được mua
cho một cỗ hậu sự thật tốt. Lâu không chết, áo quan bị mọt đục.
Ngày nắng con cháu đem ra phơi, trở qua lật lại
rửa ráy càu nhàu... Luật đời chú ạ! Già thì lụi tàn, phải chết. Sống lâu
thành nợ của mọi người ngay con cái cũng
chán... Một lần tôi ốm, trận ấy
ốm thương hàn, thập tử nhất sinh.
Trong những cơn mê, tôi cứ nghe một giọng hát lảnh
lót níu tôi lại trần thế: "Người về bỏ
bạn sao đành. Người về em vẫn đinh ninh
tấm lòng...". Giọng cô ấy! Chỉ
có cô ấy mới có cái giọng la đà sát ngọn cỏ,
cao vút chạm mây xanh, thầm thì luồn lách trong da trong thịt.
Tôi tỉnh lại đang mơ màng thì nghe giọng dâu con thở
than gần hết ngày tốt mà cha chưa chịu đi.
Tôi mở mắt, chúng nó lại ríu rít hỏi han,
làm ra vẻ vui mừng... Sau lần ốm ấy,
tôi nghĩ đến chuyện đi tìm cô ấy. Chính cô ấy níu tôi lại cuộc đời này.
Tôi phải đi tìm nửa câu quan họ cắt
đôi. Trẻ không lấy nhau được,
già ở bên nhau, hát với nhau cho đỡ côi cút. Trước sau vẫn là bạn có gì sai trái
đâu?
Lão im bặt. Ðôi mắt già
nua chìm trong cõi vắng. Thời gian với
lão chỉ là lớp bụi mờ. Gió thổi,
bụi bay, dĩ vãng lại hiện ra nguyên vẹn trước
mắt lão. Ðêm ấy, lão hát miên man bên bếp
lửa tàn. Một mình hát, một mình nghe, một mình mở
hội đồi Lim, lúng liến, đắm say, chân tình
lai láng.
Thế mà sau một tuần đi công tác xa
về, con tôi đã mếu máo níu áo ngoài cửa đòi tôi
đi tìm lão Tầm Xuân. Thì ra lão đã bỏ đi... Tự
nguyện theo lão là con chó mập ú của
bà Tư cầy. Dường như chán gặm xương
đồng loại, nó bỏ theo lão Tầm
Xuân.
Tôi cũng vô tình quên lão nếu không có lần
gặp lại ở Hàng Xanh, Sài Gòn cách đó hai năm.
Ðó là một buổi trưa nắng chang
chang. Con hẻm em gái tôi ở vang lên tiếng rao lạc
lõng: “Ai hàn xoong hàn nồi, mài dao mài kéo không...? - Tiếp liền
sau một giọng hát cất lên :"Khi
tương phùng khi tương ngộ, xuôi lên bộ
văng vẳng tơ tình... thương nhớ sầu oanh,
lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi...”.
"Ôi!". Lão. Lão chứ còn ai nữa. Không kịp xỏ
dép, tôi chạy nhào ra hẻm gọi ơi ới: “Lão mài
dao... lão Tầm Xuân". Lão quay phắt lại
rồi ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Mới hai năm mà lão già thêm nhiều. Lão đã thực sự già thêm nhiều. Lão
đã thực sự già! Gương mặt chằng
chịt nếp nhăn lỗ chỗ nốt rỗ như tấm
gỗ mọt. Ðôi mắt mờ đục,
giọng hát khào khào. Lão mang lỉnh kỉnh
dụng cụ hàm mài. Câu quan họ lầm lũi lạc
theo, lạc lõng trong thành phố hoa lệ.
Con chó vàng của bà Tư cầy lẽo đẽo theo bên. Chỉ khác là nó không còn mập
ú nữa, nó xơ xác gầy nhom như chủ.
Chúng tôi tấp vào quán nước bên
đường. ở đó tôi
được biết vì sao lão bỏ đi đột ngột.
Bà chủ quán thịt cầy cùng dãy với bà
Tư béo bảo có gặp một bà người Bắc
đi xin ở Gia Ðịnh biết hát quan họ và y hệt
cô Xuân của lão. Thế là họ đi!...
Quán bà Tư mất hấp lực, đâu lại
vào đấỵ Tôi nghĩ thế nhưng không nói ra, sợ
lão buồn. Tôi định bụng khuyên
lão trở về quê. Không ngờ lão cũng nói:
-
May gặp nhau lần cuối... Tuần sau tôi về chú ạ.
Tiền tàu xe đủ rồi... Tôi về để mười ba tháng Giêng tới
dự hội Lim lần cuối. Hội Lim giờ
đâu như xưa nữa... Nhưng tôi vẫn
nghe tiếng trống vào hội giục giã lòng tôi. Tôi
yếu rồi! Tôi đã nghe đất gọi Quê gọi
Ðành hẹn kiếp sau vậy...
Tôi
nhìn lão, còn lão nhìn dòng xe cộ nườm
nượp đến chóng mặt. Chiều
tà dần trong đôi mắt mầu hoàng hôn.
-
Lâu ngày gặp lại, tui với lão mần đích đáng một
bữa thịt chó đi! ở đây có
Bồng Lai quán nghe nói khá lắm, ăn hoài không đã miệng.
Tui mời lão.
-
Cảm ơn chú! Nhưng năm rồi tôi
không đụng thứ đó. Tôi sẽ không đụng
cho đến ngày cuối đời...
Lão
cúi xuống vỗ về vào lưng con vàng. Con chó ngước
đôi mắt nặng trĩu yêu thương nhìn lão rồi
không dằn lòng nổi, nó đứng trên hai chân sau, vừa
kêu ư ử hài lòng vừa liếm khắp người
lão.
-
Chú thấy đấy! Cứ tưởng tượng nó
thành những đĩa dồi, đĩa luộc, đĩa
xào, xáo... là tôi lợm giọng rồi... Không có nó tôi không sống
nổi ở đây đến hai năm... Nó sưởi ấm
tôi, kéo tôi đứng dậy, nó bị đánh què cẳng vì
ăn cắp của người ta để
cho tôi ăn những ngày tôi ốm... Nó từng sung sướng...
theo tôi nó mới cực thế này... Nó...
Lão
nghẹn ngào, mắt hấp háỵ Giọt lệ tuổi
già chắt mãi mới thành dành cho kẻ đồng hành bốn
chân!
Khoảng
mươi hôm sau, con dao chặt thịt bị mẻ, em tôi
nhắc:
-
Không thấy lão mài dao kéo vào xóm... cái lão thật lạ, không
lo kiếm khách chỉ lo hát... Có đồng nào mua đồ
ăn lại chia đôi cho chó một nửa.
Con chó cũng đáo để, không bao giờ ăn trước chủ dù có đặt
trước miệng... Người già cũng lạ! Trại dưỡng lão em làm có một bà già... nhập
trại ba năm không nói một lời, tưởng câm, khi
gần chết hóa ra biết hát. Cái giọng cái điệu,
cái lời na ná như lão mài dao.
-
Ðâu? Bà ấy ở đâu? - Tôi chụp tay nó.
-
ở trong, sắp chết rồi. Mà anh hỏi làm gì?
Tôi kéo áo nó, bắt nó chở đi rồi
tôi sẽ giải thích. Dọc đường
tôi kể vắn tắt chuyện lão Tầm Xuân đi tìm nửa
câu quan họ. Tôi linh cảm đó là cố
Xuân.
-
Ba năm trước, một người đàn ông sang trọng,
gương mặt tràn trề nhân ái dẫn bà ấy vào trại.
Ông ta bảo với Ban quản đốc ông ta thấy bà
già cơ nhỡ, ngủ trước hiên nhà nên thương
xót dẫn giúp vào đây. Ba năm ở
đây, bà ấy sống lặng lẽ như bóng không hề
nói, nằm quay mặt vào vách. Nhưng cách đây một
tháng, dường như không nén được nỗi
đau đớn, bà ta khóc rống lên: "Hắn là con tôi,
cái thằng dẫn tôi vào đây chính là con tôi". Mấy hôm nay bà ta hát... không ăn, không uống...
chỉ phều phào hát... -Em tôi kể.
Bây
giờ nằm trước mặt tôi, trên chiếc chiếu
tỏa mùi khai thối trải trên nền gạch loang lổ
là bà cụ tóc trắng như bông vấn vành khăn nhung
đã sờn, mỏng như giấy, mặt vàng, hơi thở
dốc...
"Dong
dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp..."
Hình hài ấy không còn nét nào giống lão Tầm
Xuân tả. Thời gian cho, thời gian lấy
hay tôi đã lầm? Tôi định lui ra
nhưng chiếc lá khô ấy bỗng khẽ khàng động
đậy. Rồi từ lồng ngực
thoi thóp hơi tàn, phều phào những tiếng, lời rời
rạc. "Bạn tình ơi! Duyên bén ngãi, trước không phải... sau đền...
duyên... ba sinh".
-Ðúng
rồi! Cố Xuân đây rồi! Tôi reo to giữa những
gương mặt già nua ngơ ngác - Lão Tầm Xuân ơi! Nửa câu quan họ đây rồi.
Lão tìm ba năm, nay biết tìm lão ở
đâu.
Bà
cụ mấp máy môi hát, âm sắc yếu dần... yếu dần...
Nhanh trí, tôi nắm lấy bàn tay còn
xương với da ấy và tôi lập lại lời hát
của lão Tầm Xuân: "Khi tương phùng, khi
tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ
tình..." Giọng hát vụng về thô ráp như đọc
của tôi cất lên, và lạ lùng thay, nó tựa những giọt
nước cành dương diệu kỳ... Mí
mắt bà lão động đậy, ngực phập phồng
rồi giọng hát yếu ớt cứ rõ dần hòa với
cái giọng vịt đực ồ ồ của tôi. Những bà già trên nền nhà lập tức ngồi
dậy. Họ không hiểu nhưng họ vỗ tay như những đứa trẻ. Họ
reo, họ hò, họ hát ru... Những đôi mắt mờ mờ đục chất
ngất nỗi buồn và bất hạnh bỗng háo hức
như mắt trẻ con. Một bà lão lục đục
trong hai ba lần áo một cái gói nhỏ mở hai ba lớp
nylon bày một nhúm thịt chà bông, chần chừ ngắm rồi
nhón tay bốc hai sợi thịt đem tới đút vào miệng
tôi một sợi, miệng cố Xuân, bị lời hát
đẩy ra, còn trong miệng tôi, trào thành nước mắt!
Tôi
lập tức đạp xe đi quanh
vùng Gia Ðịnh tìm lão Tầm Xuân nhưng bóng lão bặt
tăm... Hình như lão đã về quê rồi.
Em gái tôi góp ý nhắn lão trên tivi. Mẩu
tin kỳ quái được nhắc lại hai hôm: “Lão Tầm
Xuân! Ðã tìm ra nửa câu quan họ. Ðến
gấp trại dưỡng lão số 3, đường... Mau lên kẻo không kịp".
Không kịp thật. Cố
Xuân hắt ra hơi thở cuối cùng, lão vẫn bặt
tăm. Chiếc xe tang của trại
đưa cố đến lò thiêu. Không một
vành khăn, không dòng nước mắt.
Có lẽ giờ này lão Tầm Xuân đang lê
bước trở về. Nửa câu quan họ lầm lũi
theo lão... Chơi vơi... Chơi
vơi...