|
|
||
|
Trong
phần dẫn nhập ở trên, tôi đă nói đến
những người Tây phương đầu tiên t́m
hiểu tư tưởng phương Đông. Những
hạn chế về ngôn ngữ, ư đồ truyền giáo
và âm mưu thực dân đă làm sai lạc những nhận
thức về cả hai phía.
Khi
viết về ông thầy của ḿnh, Nishitani Keiji đưa
ra một ghi nhận họ là những người kế
thừa hai nền văn hóa hoàn toàn khác biệt, có một ưu
đăi mà người Tây phương không có là “đặt để
những cơ sở mới cho truyền thống triết
học Tây phương”, đồng thời mang một
trách nhiệm nặng nề là “thiết lập những cơ
sở cho một thế giới đang sinh thành, một
thế giới thống nhất vượt lên trên
những khu biệt giữa Đông và Tây”.[22]
Trong
dịp viếng thăm ngôi chùa Seionji ở Uenohara, Michel
Foucault có trả lời một nhà tu biên tập của
tạp chí Phật giáo Shunjù trong cuộc phỏng vấn như
sau:
Hỏi:
Về vấn đề khủng hoảng của tư tưởng
Tây phương ngày nay đang thống trị châu Âu, ông có
nghĩ là tư tưởng Đông phương có thể
giúp cho việc xét lại tư tưởng Tây phương
không? Điều tôi muốn nói là ông có nghĩ là tư tưởng
Đông phương trong một đường lối
nhất định có thể để cho Tây phương
t́m ra một con đường mới?
Foucault:
Nghiệm xét lại những vấn đề này có thể
bằng nhiều ngả khác nhau, qua phân tâm học, nhân
học và phân tích lịch sử. Và tôi cũng nghĩ là
nghiệm xét lại có thể bằng việc đối đầu
giữa tư tưởng Tây phương với tư tưởng
Đông phương.
Quả
thực tư tưởng Âu châu đang ở một ngă
rẽ. Ngă rẽ này trên b́nh diện lịch sử không ǵ
khác hơn là cáo chung của chủ nghĩa đế
quốc. Khủng hoảng của tư tưởng Tây phương
đồng nhất với cáo chung của chủ nghĩa đế
quốc. Khủng hoảng này không tạo ra triết gia
xuất sắc nào mang ư nghĩa cuộc khủng hoảng
này. V́ tư tưởng Tây phương trong khủng
hoảng biểu hiện qua những diễn ngôn có thể
rất thú vị, nhưng chẳng đặc biệt hay
lạ thường ǵ cả. Không có triết gia nào đánh
dấu mốc thời kỳ này. Bởi nó là cáo chung
của thời đại triết học Tây phương.
Thế nên, nếu triết học vị lai có hiện
hữu, nó phải phát sinh ra ngoài châu Âu hay cũng phải
sinh ra từ thành quả của những gặp gỡ và
ảnh hưởng qua lại của châu Âu và ngoài châu Âu.[23]
Mặt
khác những người như Hans-Georg Gadamer tỏ ư nghi
ngờ việc chọn con đường tư tưởng
Đông phương khi ông luận về khả năng vượt
siêu h́nh học của Heidegger: “Có thể hướng đi
của tư tưởng Đông phương cũng không
từ một chọn lựa tự do. Đúng ra có thể
là do hoàn cảnh là không có xây dựng ngữ pháp của
chủ ngữ và vị ngữ hiện diện để
lái tư tưởng Đông phương vào siêu h́nh học
của bản thể và ngẫu nhiên. Cho nên không lấy làm
lạ nếu ta có thể thấy trong hành tŕnh của
Heidegger trở lại khởi đầu một điều
ǵ do bị mê hoặc bởi tư tưởng Đông phương,
và ngay cả khi ông t́m ra những bước xuống
ngả đường ấy với sự giúp đỡ
của những vị khách Nhật và Hoa – vô vọng” .[24]
Có
phải con đường vào ngả Đông phương
là vô vọng? Không thể.
Thế
kỷ XX đánh dấu một phát triển nở rộ
những học giả nghiên cứu mọi tài nguyên văn
hóa Đông phương, ở đây chỉ
giới hạn trong lănh vực triết học.
Những nguồn suối tư tưởng ấy tập
trung trên ba địa bàn: Ấn, Trung Hoa và Nhật.
Những học giả này th́ nhiều vô số, tôi chỉ
kể vài trường hợp tiêu biểu như Roger-Pol
Droit về Ấn,[25]
Roger Ames, Angus C. Graham, Heinz Roetz về Trung Hoa, James Heisig,
Jacynthe Tremblay, Robert Carter về Nhật...Những khó khăn
về việc hội nhập văn hóa cũng là một
vấn đề. Chẳng hạn, tranh luận chung quanh
triết học của Thiệu Ung về vấn đề
có tư tưởng luân lư hay không[26],
có thể do việc sử dụng những phạm trù
triết học Tây phương làm quy chiếu? Ngoài ra c̣n
nhiều công tŕnh tỷ giảo giữa tư tưởng
Long thọ (Nàgàrjuna), Nishida với các triết gia Tây phương,
hay Spinoza, Heidegger, Sartre, Derrida... với những tư tưởng
Đông phương. Một vấn đề khác là vị
trí của tư tưởng Đông phương thường
bị bỏ quên trong những bộ Lịch sử
triết học do học giả Tây phương trước
tác, hoặc nêu vấn đề đưa triết học
Đông phương vào chương tŕnh dạy triết
ở Đại học và Trung học.
Francois
Jullien giải thích lư do tại sao ông học Hoa văn: “Ngôn
ngữ này ở bên ngoài toàn bộ Ấn-Âu và khai thác
một khả năng khác về văn tự (chủ ư,
không chủ âm), một văn minh lâu đời không quan
hệ ǵ với Âu tây, một trường hợp lư tưởng
để suy nghĩ tư tưởng Tây phương
từ bên ngoài...”[27]
Do
đó có phản ứng của những nhà phê b́nh, như
Paul Ricoeur hỏi: “Làm sao người ta có thể viết
bằng tiếng Pháp những quyển sách viện lư từ
một cái nh́n từ bên ngoài, một hủy tạo từ
bên ngoài? Hay suy nghĩ Hoa ngữ nhưng viết Pháp
ngữ?” Dường như Jullien đă sớm bày tỏ
cảm nghĩ này ngay từ sách đă dẫn: “Khi tôi
bắt đầu học triết học Hy Lạp, tôi
không thể không chứng thực cái cảm nghĩ lạ
lùng là triết học này dường như quá thân quen để
có thể hy vọng nhận thức nó... v́ dầu có khác
với chúng ta, tất cả những ǵ ràng buộc chúng ta
hàm súc với tư tưởng Hy Lạp khiến chúng ta
khó nhận ra cái độc đáo cũng như phát
kiến”.
Jullien
trong khi t́m hiểu quan niệm kỳ thành/efficacité trong khai
phá thiên hướng sự vật đă phát kiến khái
niệm Thế/Shi xuyên suốt truyền thống triết
học Trung Hoa.[28] Triết lư thiên hướng
này nhằm chỉ ra Thế là
then chốt liên hợp hai mặt của thực tại
cũng như bất khả phân giữa lư và thế. Khái
niệm âm/dương trong tự nhiên và chủ/thần
trong xă hội hay những quan hệ khác như nam/nữ,
trên/dưới, sáng/tối...biểu hiện nguyên lư tác động
qua lại trong chữ Thế cho thấy quan niệm Trung
Hoa không tách biệt phần khả năng/possibilité và
hiện thực/réalité như người Hy Lạp v́ trong
xu thế của sự vật, tĩnh cũng là động,
cấu trúc của thực tại luôn luôn ở trong quá
tŕnh. Đó cũng là tên tác phẩm Procès ou Création, Une introduction à la pensée chinoise (1989)
của Jullien phát xuất từ tư tưởng dẫn đạo
của Vương Phu Chi, nhà tư tưởng thời Minh
Thanh ở thế kỷ XVII.
Trung
Hoa trước hết là một dân tộc nông nghiệp,
gắn liền với đất nên trong thế giới
quan của họ, tự nhiên là một quá tŕnh liên tục
và điều ḥa, khoan đại vô tận. Vương Phu
Chi quan niệm mọi người đều có kinh
nghiệm về ṿng tuần hoàn lớn của tự nhiên.
Thiên địa chi đại đồng, sinh ra vạn
vật. Thiên hà ngôn tai, như Khổng tử đă nói, theo Vương
Phu Chi Trời cũng như thánh nhân không cần nói để
biểu hiện cái toàn hảo. Trong cái mảy may của
hiện thực đă vén lộ luận lư bất hoại
của Quá tŕnh. Đối với cái quá tŕnh này Vương
Phu Chi không coi đạo vượt khỏi h́nh khí, có h́nh
rồi mới có h́nh nhi thượng; ông nói “h́nh nhi thượng
là chưa có h́nh (l’invisible) mà theo nguyên tắc của
trời không thể vượt qua, trời lấy nó mà
biến hóa, người coi là tác dụng của tâm.”[29] Cảm thông (influence par
incitation) tạo nên cơ sở của mọi thực
tại, phân biệt với cảm giác (sensation) như
truyền thống Tây phương quan niệm. Cảm phát
sinh từ gặp gỡ tha nhân tự nguyên ủy là
tiến tới, trong khi ngộ tạo phát triển cảm
thông sinh ra từ khu biệt thúc đẩy quá tŕnh hiện
thực. Để có cảm thông, phải có khu biệt
giữa những hiện thể, để có hợp
mọi hiện thể phải có một cơ sở chung:[30] đồng nhất giả định
khác biệt và ngược lại.[31]
Đối với Vương Phu Chi, mọi khu biệt đều
chủ yếu v́ chính nó cho mọi biểu đạt
hiện thể, là điều kiện của ḥa hợp.
Chính do cảm thông, mọi hiện thể có quan hệ qua
lại với nhau, cho nên dục vọng không bị kết
án mà phải xét quan hệ giữa lư tắc và dục vong.
Trật tự của “lư tắc” không thể hiện
hữu tách rời trật tự của “dục”, dục vọng
vật chất cũng như t́nh dục tự nhiên hoàn
thành cái chức năng lớn của thế giới. Ông
cũng nói đạo trời không thể vô cảm mà lưu
hành, chính trong quá tŕnh lư dục là nguồn gốc của
Tính, vừa là nguyên lư và cơ sở của thực
tại.
Quan
niệm về lư là quy luật vận động mọi
sự vật thể hiện cái trật tự điều
ḥa[32], cho nên ông không ngần ngại
nói đến cái nhất (l’un)
đồng thời cũng nói đến tha (l’autre), nói đến sấm lại nói đến
gió, nói đến mưa lại nói đến nắng, nói đến
trời đồng thời nói đất. Cái cơ sở
của quá tŕnh này đă được phát biểu trong Kinh
Dịch: Nhất âm, nhất dương gọi là Đạo,
nhưng theo Vương Phu Chi, âm dương và đạo
không phải là ba mà chỉ là hai: đạo không hiện
hữu thêm vào quan hệ âm dương như hạn từ
thứ ba[33]; âm dương vừa tách
rời vừa tương ứng, không tách rời khỏi đạo:
chính v́ vậy có thể nhận thức và chứng thực
tính chân thực của khu biệt trong vận động
của thực hữu đồng thời tính tha này
chỉ là luân lưu và khai triển trong một sinh thành thường
trực, vô thủy vô chung.
Jullien
nhận định trong tư tưởng về quá tŕnh
này của Vương Phu Chi sinh ra một luận lư về
tác động qua lại hỗ trợ và liên tục, tính lưỡng
phân - tương ứng lập thành cấu trúc duy nhất
và tuyệt đối của mọi thực hữu, phân
biệt với tư tưởng về sáng tạo của
phương Tây. Quá tŕnh này ngoài ṿng những mâu thuẫn thường
có ở tư tưởng về sáng tạo, nó không bao
giờ đối lập “cái hiện hữu” với “cái
không hiện hữu” mà chỉ có cái ẩn và cái hiện, cái
bất kiến và khả thị hỗ tương lẫn
nhau. Quan hệ khả thị và bất kiến (le rapport de
l’invisible au visible), cái nh́n thấy và không thể nh́n thấy
là quan hệ của tiềm ẩn với hiện thành
của nó. Luận lư về quá tŕnh này dẫn đến
việc xét thể và dụng (Être constitutif/fonctionnement).
Trong Chu Dịch ngoại
truyện, Vương Phu Chi từng bàn đến “Đạo
là thể ở trong vật mà sinh ra cái dụng”[34]. Đạo sinh ra vạn
vật tức là quá tŕnh hiện thực hóa (actualisation)
từ ẩn sang hiện. Về mặt nhân đạo,
Jullien so sánh quan niệm của Kant trong câu nói bất
hủ: Trời ngời sao sáng ở bên trên tôi và luật đạo
lư ở trong tôi,[35] có thể dùng để
diễn tả tư tưởng đạo lư của Vương
Phu Chi v́ một bên là đạo trời, một bên là đạo
người từ một kinh nghiệm trực tiếp, có
khác là ở Kant đạo Trời điều ḥa trong lănh
vực khả giác c̣n luân lư thuần túy của lương
tâm thuộc về vô h́nh, trong khi đối với Vương
Phu Chi không có sự chia cắt này v́ đạo người
nằm trong cái luân lưu tồn tục của đạo
trời. Một đằng duy tâm, một bên “duy vật”?
F.Jullien
đă dành nguyên một chương để bàn về
học thuyết của Vương Phu Chi có phải là
một tư tưởng duy vật. Cũng phải xác minh
ở đây, duy vật có thể hiểu theo hai nghĩa:
một nghĩa ở vào thời đại của Vương
Phu Chi và những nhà truyền giáo Cơ đốc với
một nghĩa theo Marx và Engels. Cho nên trước hết
phải hiểu quan niệm “vật chất” trong tư tưởng
Vương Phu Chi như thế nào? Đó chính là âm và dương
làm đầy toàn thể chỗ không mà không có ǵ hiện
hữu ngoài chúng; hai mặt chính dẫn đến việc
lư giải thực tại tuyệt đối phổ
biến của âm dương là vật chất v́ âm và dương
là những khí sơ bản tự phát trong vận động
(du khí), thứ nữa những khí này hỗ tương
lẫn nhau tạo nên chất cấu thành mọi cá thể.
Trong sách kể trên, Vương khẳng định vật
chất không thể hủy diệt và từ năng lực
vật chất có thể suy ra thực tại của
Trời; cũng như Lucrèce nghĩ mọi sự hoàn thành
không có can thiệp của thần, theo Vương những
biến hóa tự phát của năng lực vật chất
cũng không theo ư hướng hay chọn lựa nào đặc
biệt (vô tâm chi hóa, vô trạch ư thi). Cũng như Trương
Tải, Vương quan niệm có một nguồn nội
tại của vận động (cơ) trong mọi
vật, những hiện tượng thiên văn, khí tượng
đều theo những nguyên tắc của tự nhiên,
trong đó tính của dương là tán (dispersion), tính
của âm là tụ (concentration), âm với dương
chứa đựng nhau, những tinh tú trên trời là âm
chứa trong dương, gió sấm là dương chứa
trong âm. Cũng như Lucrèce và những nhà duy vật Tây phương,
giải thích tự nhiên làm tan đi nỗi sợ hăi
của con người và làm thế giới dễ hiểu
hơn. Tuy nhiên ở thời cổ đại
tiền-Socrate chỉ mới đề ra những nguyên lư
mà chưa có thực nghiệm như khoa học sau này, Vương
cũng nêu ra phê phán Trương Tải ở chỗ là
nếu trong công năng của tự nhiên tương
ứng với những nguyên lư cũng chưa đạt
tới thực tại,[36]
cần phải có những yêu cầu thực nghiệm cho
nhận thức. Có thể coi tư tưởng của Vương
gần với những nhà duy vật Tây phương ở
chỗ nhấn mạnh đến vai tṛ vật chất
(“không phải ư thức xác định đời sống,
nhưng đời sống xác định ư thức”), theo
Jullien quả thực Vương
đưa ra vấn đề một bên là trật tự
của khí cụ, mặt khác là phương tiện sử
dụng, thực hiện đạo, nhưng Đạo
dựa vào khí cụ mà tồn tại, không phải ngược
lại. Ví như không có cung th́ không có đạo của người
bắn cung, không có xe, ngựa th́ không có đạo của
người đánh xe. Chủ nghĩa duy vật của Vương
không chỉ giới hạn ở lănh vực vật lư mà
ảnh hưởng đến quan niệm đạo đức
và tính mệnh con người mà Đàm Tự Đồng
ở cuối thế kỷ XIX coi ông là một nhà tiên khu
vĩ đại.
Khái niệm
quá tŕnh và toàn diện của Vương, theo Jullien so sánh
với học thuyết Mác-xít có nhiều điểm tương
đồng như những biểu hiện thực tại
sinh ra từ tác động qua lại âm dương phân
bố thành những cặp đối lập, tuy nhiên nơi
Vương, theo quan niệm tự điều ḥa của
Quá tŕnh “không có lư nào là mâu thuẫn nhất định đối
nghịch (Vô chung tương địch chi lư), mâu thuẫn
này tự thẩm thấu bằng cách tản vào ḷng thái
cực (nhi di tản nhưng phản ư thái hư). Ngược
lại khái niệm quan hệ đối nghịch giúp cho
nhận thức không chỉ những hiện tượng
tự nhiên mà cả quan hệ của con người
với ngoại giới, v́ theo Vương cùng một luận
lư; những nhân tố như “yêu”, “ghét” được lư
giải không là những quyền năng tích cực, nhưng do cơ năng
của quá tŕnh mà ra. So với lịch sử của chủ
nghĩa phương Tây, quan niệm quá tŕnh của Vương
ở tŕnh độ cao về tinh luyện liền lạc.
Pli là một khái niệm mới đưa vào
triết học, ít ra cũng đă thấy trên sách vở
của Deleuze, Jullien... Trong tác phẩm Le Pli, Leibniz et le baroque (1988), Deleuze nhận xét:
Baroque [một xu hướng văn nghệ ở thế
kỷ XVII và khoảng đầu thế kỉ XVIII (ĐPQ)]
không chế ra sự vật: đă có mọi nếp gấp
đến từ phương Đông, những nếp
gấp Hy Lạp, La Mă, gô-tích, cổ điển...Cái nét
của xu hướng Baroque là nếp gấp đi đến
vô cùng...Khi Heidegger nỗ lực vượt ư hướng
tính như một tất định qua thường
nghiệm về quan hệ chủ thể-thế giới,
ông cảm thấy định thức nổi tiếng
của Leibniz về đơn tử (monade) không có cửa
sổ là một con đường để vượt
này, bởi v́ hiện
thể/Dasein đă mở ra mọi thời và không
cần cửa sổ để có khai mở.[37]
Deleuze phê phán Heidegger đă ngộ nhận điều
kiện mở, đóng trong phát biểu của Leibniz,
nghĩa là xác định một hữu v́ thế giới
thay v́ một hữu trong thế giới.[38]
Theo Deleuze, Merleau-Ponty có nhạy cảm hơn về Leibniz khi
ông này phát biểu trong Khả
thị và bất kiến(1964): Tâm hồn chúng ta không có
cửa sổ, điều đó muốn nói In der Welt Sein.
F.
Jullien đă nói đến khái niệm pli trong phần luận về chủ nghĩa duy
vật của Vương Phu Chi, đồng thời phân
minh sự khác biệt khi đi xác định vấn đề
duy vật này:
“Đặt
vấn đề về t́nh trạng vật chất
một cách minh bạch như trong triết học Tây phương
chỉ có ư nghĩa ở phương Tây trong quan hệ
với câu hỏi chung của chúng ta – một cách rốt ráo
đối với chúng ta (v́ nó chi phối mọi sự
khác) – về những quan hệ giữa “hữu” và “tư
duy”..., song để đánh giá nội dung “duy vật” trong tư tưởng của Vương
th́ câu hỏi này không thể nghĩ như vậy ở
khởi đầu của truyền thống Trung Hoa. Không
phải v́ “quên lăng” hay “vô thức” (như Hegel nghĩ), mà đơn
giản là v́ t́m hiểu cái thực ở hướng đi khác. Chính nếp gấp nguyên ủy do tư tưởng
khác biệt trong trường hợp này, “cái thực” không
chất vấn “ư thức” khởi từ phạm trù
“hữu” (như đối đầu giữa hữu và tư
duy theo Tây phương) – chính từ ngữ “hữu” cũng
không hiện hữu như vật trong tiếng Hoa – nhưng
như thể “lưu hành” và “công năng”.
Tư
tưởng về chân không
nơi Vương hay tư tưởng Trung Hoa nói chung
cũng khác với quan niệm duy vật Tây phương
(từ thời cổ đại), v́ dựa trên quan điểm
kỳ thành, cho nên không
thể có so sánh ở đây. Tuy Vương tự cơ
bản không truy cứ theo nề
nếp (pli) phát triển ở phương Tây của
chủ nghĩa duy vật về vấn đề quan
hệ giữa hữu và tư duy, nhưng cách truy vấn
của ông cũng có chọn lựa căn bản duy
vật khi xét ưu thế của khách ngữ trên chủ
ngữ, của hữu trên tư duy, của tự nhiên trên
tinh thần, như đă bàn đến ở trên.
Tưởng
cũng cần bổ sung nơi đây về khái niệm Pli có thể tương đương
với quan niệm Tập trong
tư tưởng của Vương Phu Chi: trong Thượng thư dẫn
nghĩa, ông xác định: Tập h́nh thành cùng với
Tính (tập dữ h́nh thành), ông lại nói Khí (tương đương
với vật chất/hulè) thay đổi theo Tập.[39]
Trở
lại với phê phán của Ricoeur, có thể coi như đại
biểu của xu hướng triết học Tây phương
truyền thống thông diễn học, khi ông này nêu ra
một số những vấn nạn về con đường
nghiên cứu triết học phương Đông kiểu
Jullien[40]: “Ông cho vấn đề
lớn là có phải Tây phương là cái đối
diện của tác gia muốn ra khỏi đường
lối thủ cựu khi Jullien nói đến nề
nếp/pli? Nếp này dấu ở tŕnh tự nào? Làm sao có
thể thông dịch cái tư tưởng mà những quan
niệm lư tính dị dạng? Nhất là những câu thúc
về ngữ học, ở sự vắng mặt động
từ “être” và những thời động từ?”
Ricoeur
cho là cái nghịch lư văn tự trong công tŕnh của Jullien
ở chỗ tŕnh bày một tư tưởng của bên ngoài trong ngôn ngữ của bên
trong. Theo ông ngoài từ âm/dương đôi
khi có nói trong tiếng Pháp, làm thế nào văn tự này
khả dĩ để tác giả là một nhà Hoa học có
thể dùng để nghĩ tiếng Hoa nhưng viết
tiếng Pháp?
Cuối
cùng ông dẫn một đoạn văn của Jullien “Tư
tưởng Trung Hoa không khởi từ chủ thể, nhưng
từ hoàn cảnh, bởi v́ nó luôn tiến hóa, là thời thế (moment-situation);
tư tưởng Hy Lạp và Âu châu không nói ǵ về
thời thế nữa” để kết luận là ông
chỉ thấy ẩn ngữ, chứ không thấy lối
cũ, cũng tuyệt không đâu là nề nếp.
Phản
ứng của Ricoeur có thể là từ quan điểm
của một người trong cái nếp gấp tư duy
truyền thống ở một trong hai đầu cực Đông
hoặc cực Tây. Lỗi lầm này có thể từ
những người chuyên biệt về một lĩnh
vực, từ đó làm cơ sở phóng chiếu sang
những lĩnh vực khác. Hoặc nằm trong lối ṃn
của “triết học dân tộc” (Ethnophilosophy). Đó
cũng là phản ứng của những người đầu
tiên đi vào một địa bàn mới, như nơi trên
tôi nêu kinh nghiệm đầu tiên của những người
Nhật tiếp thụ triết học phương Tây. Tuy
nhiên, từ sự phát triển của trường phái
Kyoto, những triết gia phương Đông đă lĩnh
hội những khái niệm Tây phương nhuần
nhuyễn trong chính việc tŕnh bày tư tưởng
triết lư riêng của họ. Ngày nay, những khái niệm
phương Đông, không phải chỉ có riêng khái niệm
âm/dương, mà vô số những khái niệm khác như
Sùnyatà/Không, Qi/Khí... đă nhập vào thuật ngữ
triết học thế giới. Khái niệm Thế như Ricoeur bỡ
ngỡ trong đoạn văn dẫn trên ở trong văn
hóa Hoa mà Jullien đă dành riêng một nghiên cứu. Thực
sự, thông giao tư tưởng phải hiện thực,
mới có cơ sở cho một triết học thế
giới h́nh thành. Xứ yên
nhi nghi chi vị dă.
[22]
Câu trên dẫn từ sách của Nishitani viết về
Nishida Kitaṛ, sdt. X.
chú thích xvii. Câu sau dẫn bởi Bernard Stevens từ sách
của Nishitani, Triết
học Nhật ngày nay/Gendai
[23]
X. “Michel Foucault et le zen: un séjour dans un
[24]
X. H.G. Gadamer, Destruktion und Deconstruction (1985), trong Dialogue & Deconstruction (1989).
[25]
Mặc dù ông khá cực đoan trong lănh vực này khi
viết L’oubli de l’Inde (1989),
trong đó ông phê phán những triết gia hiện đại
như Husserl hay Heidegger chỉ chú trọng đến phương
Đông là Trung Hoa và Nhật, mà không nói đến Ấn độ.
Ông gọi đây là một chứng kiện vong triết
lư/amnésie philosophique.
[26]
X. Don J. Wyatt, The Recluse of
[27]
X. F. Jullien, Le Détour et l’Accès
(1995).
[28]
X. Thiên hướng của sự vật (ĐPQ) trong Tập san Triết, số 2 tháng
6, 1996.
[29]
H́nh nhi thượng giả, đượng vị kỳ
h́nh, nhi ẩn nhiên hữu bất khả du chi thiên tắc,
thiên dĩ chi hóa, nhi nhân dĩ vô tâm chi tác dụng.
[30]
Duy kỳ bổn nhất, cố năng hợp.
[31]
Phi dị tắc bất năng động; phi động
tắc bất năng dị.
[32]
Lư giả, thiên sở chiếu trước chi trật
tự dă.
[33]
Vương Phu Chi, Chu Dịch
ngoại truyện, dẫn trong F. Jullien, Procès ou Création.
[34]
Trong Độc Tứ thư đại
toàn thuyết,Vương Phu Chi lấy ví dụ về
ḍng sông: Thể có thể nh́n thấy c̣n dụng th́ không
thể nh́n thấy; ḍng sông chảy th́ có thể nh́n
thấy nhưng đạo th́ không thể nh́n thấy. Nên
ḍng sông chảy là thể của đạo, mà đạo
lấy ḍng sông thiện làm dụng.
[35]
Der bestimte Himmel über mir, und das moralische Gesetz in mir.
[36]
Thử dĩ lư thôi độ, phi kỳ thực dă.
[37]
Khái niệm này dẫn trong Những
vấn đề cơ bản của hiện tượng
luận/Die Grundprobleme der Phänomenologie (1975) của Heidegger:
Như một đơn tử, hiện thể không cần
cửa sổ ngơ hầu trước hết nh́n ra bên ngoài,
không phải v́ như Leibniz nghĩ là mọi vật đă
sẵn trong cái bọc của nó để mỗi đơn
tử có thể tự khép kín trong bọc, nhưng bởi
v́ hiện thể đă sẵn ở bên ngoài trong bản
chất siêu việt của nó.
[38]
Détermination d’un être-pour le monde au lieu d’un être-dans le monde. Sdt.
[39]
Thị cố khí tùy tập dịch, nhi tập thả
dữ tính thành dă (trong Độc
Tứ thư đại toàn thuyết, q.7).
[40]
X. Paul Ricoeur, Note sur Du “Temps”, Éléments d’une philosophie du vivre trong Dépayser la pensée, Dialogues
hétérotopiques avec F. Jullien sur son usage philosophique de la Chine, 2003.
Tác giả Đặng Phùng Quân (nguyên
quán ở Vũ Tiên, Thái B́nh) trong thời gian từ 1968 –
1975 dạy môn Triết tại Đại học Văn khoa
Sài G̣n, trong một số năm là giáo sư thỉnh
giảng tại Đại học Cần Thơ, Đại
học Cao Đài (Tây Ninh) và Đại học Hoà Hảo
(Long Xuyên), từ năm 1981 cư ngụ ở Mỹ.
Các sách biên khảo đă xuất bản: L’existence
d’autrui et la fidelite dans l’oeuvre de Gabriel Marcel (1967), Hiện
hữu tha nhân với G. Marcel (1969), Triết học và
Khoa học (1972), Chân dung triết gia (1973), Triết
học và Văn chương (1974), Văn chương
và Lưu đày (1985), Hành
traïng tư tưởng giữa hai thế kỷ (2002) [trong sách này có một bài
tổng quan về t́nh h́nh triết học và văn
chương 100 năm qua (tức thế kỷ XX), một
bài chuyên khảo về 2 tác phẩm viết bằng
tiếng Pháp của Trần Đức Thảo (Phenomenologie
et Materialisme Dialectique và Recherches sur l’origine du langage et de
la conscience)], Phê phán hệ tư tưởng Mac-xit (2002) [bàn về những vấn
đề tha hoá, tư bản, ư thức hệ của Marx
và Engels, vấn đề vật hoá (Verdinglichung) của
Georg Lukács, vần đề lịch sử của Louis
Athusser v.v.].
Một số tập truyện ngắn đă
xuất bản (in chung hoặc in riêng): Miền thượng
uyển xưa (1983), Một dặm tương thân
(1987), Tự truyện (1997).
Những dự án nghiên cứu đang xúc
tiến: Cơ sở tư tưởng thời quá độ
(sẽ hoàn tất trong năm 2004) và Phê phán lư trí văn chương
(đang khởi thảo).