|
|
||
|
TUỔI
THƠ, LÀNG QUÊ VÀ HÁT BỘI B̀NH ĐỊNH
Nguyễn Gia
Hiếu
Tôi
đă suy nghĩ rất nhiều khi chọn đề
tựa cho bài viết này. Tôi không biết ǵ nhiều về
hát bội, tôi không thuộc nguyên vẹn được
một vở tuồng nào, tôi không phân biệt
được điệu hát Nam và hát Khách; thậm chí tôi
không biết v́ sao ở quê tôi lại gọi bộ môn này là
Hát Bội trong khi lẽ ra phải gọi nó là Hát Bộ -
vừa hát vừa biểu diễn những điệu
bộ - Tôi viết về hát bội đơn giản
chỉ v́ nó có liên quan đến làng quê, đến tuổi
thơ của tôi. Tôi viết về Hát Bội cũng
bởi những ảnh hưởng đạo đức
và các mẫu mực xử thế mà các tuồng tích đă
tác động sâu xa đến đời sống dân tôi và
cuối cùng, có lẽ cũng v́ những t́nh cảm xót xa và
sâu kín mà tôi có về người nghệ sĩ hát bội;
những nghệ sĩ đích thực và hẩm hiu, tài hoa
mà tàn lụn như chính bộ môn nghệ thuật mà họ
gắn bó, theo đuổi.
Quê
tôi, gọi theo danh xưng chính thức của chính quyền
quốc gia sau năm 1954 là xă Phước Thành, quận Tuy
Phước, tỉnh B́nh Định; nhưng thật ra
đối với đại đa số dân chúng thời
đó, chúng tôi vẫn chỉ là người Cảnh Vân và Tăng
Vinh, hai làng của thời phong kiến và yên b́nh cũ. Quê
tôi nghèo lắm, đối với dân miền biển
(hạ bạn) chúng tôi là thượng du; điều này
cũng không có ǵ quá đáng, làng tôi nằm ở
thượng nguồn sông Hà Thanh, lọt tơm giữa ba
mặt núi, đi về hướng nam năm bảy cây
số sẽ được thấy những bản làng
thượng Vân Canh nhà sàn vách nứa.
Người
dân quê tôi suốt năm vật lộn với những
rẻ ruộng gieo một mùa đầy sỏi và đá,
làm nhiều mà hưởng được không bao nhiêu.
Đầu tiên, vào tháng hai, tháng ba ruộng được cày
lần thứ nhất gọi là cày dỡ; sau đó một
vài tháng, ruộng được cày theo chiều
ngược lại gọi là cày trở. Những tảng
đất khô cứng như đá dưới nắng hè
trơ trơ làm nhảy gọng bừa có hai ba
người ngồi đè. Muốn đất mịn
nhuyễn đủ để có thể gieo giống,
người ta phải dùng những chày vồ lớn,
sắp hàng ngang đập từng khối đất
lớn gọi là đập cục; rồi gieo giống,
chờ mùa mưa tháng chín làm cỏ, dặm lại cho cây lúa
mọc đều hàng và chờ mùa gặt để ăn
tết. Việc canh tác hoàn toàn trông cậy vào sự
thuận ḥa của mưa gió, của đất trời;
hạn hán, lụt lội, sâu bọ đều có thể
biến bao công sức của nông dân thành công cốc. May
mắn được mùa th́ dân quê tôi sống no đủ
được vài tháng Tết, phần c̣n lại của
cả năm nhờ vào than củi, nương rẫy và
rễ củ trên rừng.
Đời
sống dân quê b́nh dị và t́nh nghĩa nhưng cũng
lắm lúc dậy sóng phong ba trong cơn lốc của
cuộc đời. Những năm 1952-1953, chiến tranh
lan rộng và chính quyền Việt minh vừa muốn
củng cố quyền lực, vừa chú tâm vơ vét tài
sản của người dân nên đă tạo ra bao
cảnh năo ḷng, khắp làng đầy dẫy những
hầm chông, những khẩu hiệu chống địa
chủ, phú hào. Đêm đêm, lập loè ánh đuốc và lóc cóc
tiếng mơ của những đoàn thiếu nhi biểu t́nh
kêu gọi đóng thuế nông nghiệp. Thuế đóng làm
ba lần gọi là tiên thu, trung thu, và thanh thu với một
mức độ khủng khiếp, không phải căn
cứ vào số diện tích canh tác mà tùy thuộc vào
quyết định của những buổi họp nhân dân
gọi là b́nh nghị. Chỉ cần một lời gợi
ư được sắp xếp trước và tiếng hoan
hô đồng ư của đám đông đă được
kích động và bị đe dọa là mọi việc trở
thành luật bất khả khống chế. Ai không đóng
thuế được sẽ bị coi là ngoan cố,
phải chịu đấu tố bằng đủ
loại khổ h́nh. Chủ tớ, người làng,
thậm chí ḍng họ, anh em cũng buộc phải lạnh
lùng, xa lạ, tàn nhẫn với nhau. Người dân lâu
đời sống theo đạo nghĩa cổ truyền,
trọng tôn ti trật tự đă rất đau
đớn và phẫn uất trước những tráo
trở của t́nh người nhưng không thể làm ǵ
được trước những con người mới
hung hăn, vô học và cuồng tín, đại diện cho giai
cấp vô sản cách mạng.
Hiệp
định Genève năm 1954 và cuộc tiếp thu của
chính quyền quốc gia đă làm hồi sinh con
người, hồi sinh cả những đạo lư và t́nh
nghĩa cũ. Người dân lấp dần những
hầm chông, nhổ những băi cọc nhọn chống
nhảy dù trên đồng ruộng, tiếp nhận chính
quyền mới như sự trở lại của một
cái ǵ quen thuộc, thân quí đă mất. Trật tự
cũ trong ḷng mọi người và trong xă hội
được tái lập. Chùa, đ́nh miễu của
mỗi làng, nhà thờ, bàn thờ của mỗi nhà
được trùng tu. Mọi người an tâm bắt
đầu cuộc đời mới, trong vận hội
mới với một tinh thần và nề nếp cũ.
Chính
quyền quốc gia được xây dựng từ con
số không, cả xă chỉ có một trường sơ
cấp ba lớp học ở ba nơi khác nhau trong khi
chờ đợi xây dựng trường mới; đây
là công tŕnh có ưu tiên hai, nỗ lực trước
nhất dành để hoàn thành trụ sở Ủy ban Hành
chánh xă và trường Cộng đồng. Không biết ai
đă đặt ra cái tên này và ư nghĩa thật của nó
như thế nào, chỉ biết đây là một dăy nhà tôn
dài, được cất trên một g̣ đất cao, có
sân rất rộng, bên trong có một sân khấu bằng xi
măng, chính giữa là những hàng băng gỗ dài, hai bên
vách và phía sau là những bậc tam cấp có những cây tre
dài ghép lại làm ghế ngồi. Đây là nơi dành để
hội họp và văn nghệ; đúng ra là để hát
bội v́ ở quê tôi hồi đó không có h́nh thức
văn nghệ nào khác. Lớp tuổi chúng tôi, những
đứa bé tám chín tuổi vào năm tiếp thu, lần
đầu tiên biết hát bội ở trường
Cộng đồng này.
Thật
ra chúng tôi đến trường Cộng đồng
trước hết v́ những lư do khác hơn là đi xem
hát. Ở một xóm làng hẻo lánh xa xôi như quê tôi, có
dịp để tụ hội là một biến cố,
một niềm vui lớn được chờ đón
với tất cả nôn nao của mọi người
bất kể trẻ già lớn bé. Hôm nào nghe có tiếng
trống rao hát là mọi người xôn xao bàn tán, chuẩn
bị, sắp xếp cả ngày để tham dự.
Hồi đó những đoàn hát rất nghèo, không có tờ
chương tŕnh để phân phát, không có loa phóng thanh
để quảng cáo, chỉ có một tờ giấy
nhỏ ghi tên đoàn, tuồng hát và giới thiệu
một vài đào kép chủ lực dán trên thân một cái
trống nhỏ. Một nhân viên quảng cáo sẽ đeo
trống trước bụng, vừa đi vừa gơ
nhịp ba qua các đường làng xa xôi, theo sau là cả
một đoàn con nít reo ḥ, tán trợ.
Đối
với bọn trẻ chúng tôi, đến rạp hát c̣n v́
sự hấp dẫn của những hàng quà vặt
được bày bán trên những cái trẹt nhỏ, có
ngọn đèn hột vịt chiếu sáng lờ mờ,
lập loè đầy dẫy ở sân rạp hát; ở
đó có những thẩu kẹo cau, những trái ổi
rừng, me dốt, chà là, sim núi; những chai nước
chanh đỏ xanh, những quà bánh hết sức b́nh
thường nhưng lại vô cùng lôi cuốn và xa xỉ
chỉ có được trong những dịp "trọng
đại".
Chúng
tôi c̣n đến rạp hát v́ một lư do quan trọng
hơn: giải quyết với nhau những mâu thuẫn mà
ở trường học v́ bận rộn và v́ sự
kiểm soát chặt chẽ của thầy cô đă không
thể tự do tranh căi được.
Bao
giờ bọn tôi cũng chia làm hai phe: một bên là trẻ
con làng Cảnh Vân và bên kia là tất cả lực
lượng c̣n lại của cả xă. Sự mâu thuẫn
này bắt nguồn từ một nguyên nhân sâu xa và tế nhị:
Cảnh vân là làng trù phú và văn học nhất vùng, chín
mươi phần trăm dân làng thuộc một ḍng
họ danh tiếng: họ Trần. Trong lúc cả xă chưa
có đến mười người có bằng yếu
lược th́ Cảnh vân đă có hai thế hệ liên
tiếp hiển đạt: cụ Nghè Cảnh vân Trần
Trọng Giải, quan phủ Trần Đ́nh Tân thuộc
lớp Hán học sau cùng, rồi quan đốc Trần Đ́nh
Phô và sau này Tiến sĩ Trần Đ́nh Sơn tốt
nghiệp ở Pháp là những người tân học
đầu tiên của cả vùng.
Đối
với các nơi khác, dân quê tôi được thơm lây v́
là đồng hương của cụ Nghè, quan Phủ,
nhưng trong làng xă với nhau, người Cảnh vân dành
hưởng trọn cái vinh dự đó. Dưới
mắt họ, dân các làng khác dường như tầm
thường hơn, thấp kém hơn, ít hiểu biết
hơn và trẻ con Cảnh Vân cũng bị ảnh
hưởng bởi cách nh́n này, họ phách lối, cao
ngạo đối với các bạn đồng học và
điều này đă làm cho nhóm "nhược tiểu
bị áp bức" phải đoàn kết lại
để vùng lên. Tự ái của tuổi nhỏ và danh
dự của quê hương (hiểu theo nghĩa rất
hẹp là làng xóm của ḿnh) không cho phép các thiếu nhi Nam
Tăng, Bắc Tăng, Quang Hiển chịu
"nhục" và tôi, đứa bé nhất trong số
trẻ con Tăng Vinh nhưng nhờ có cha là địa
chủ, có ruộng đất ở nhiều làng xă khác nhau,
có ngôi nhà chứa được nhiều trăm
đồng bào Qui Nhơn thời tản cư, cháu gọi
cụ Nghè bằng ông ngoại, gọi quan phủ bằng
ông chú và quan đốc là cậu nên có đủ
điều kiện "kinh tế và ngoại giao"
để được chọn làm đầu tàu. Tôi hănh
diện nhận trách nhiệm này và đă nhiều lần v́
"đồng bào tôi" mà chiến đấu tận
t́nh với các anh em phía ngoại. Lư do để tranh căi
đôi khi rất buồn cười, ấu trĩ và
thường thường có liên quan đến hát bội.
Làng
tôi có một đoàn hát nhỏ, điều oái oăm là trong
đoàn có hai người đóng kép chính th́ một
người là kép Thừa Kính ở Cảnh Vân và
người c̣n lại là kép Tư Thanh dân Tăng Vinh. Đêm nào
kép Thừa Kính đóng vai chính th́ chúng tôi tẩy chay và ngược
lại. Trận chiến này kéo dài trong nhiều năm cho
đến khi chúng tôi lớn lên, đi học ở
tỉnh, đi làm, thỉnh thoảng gặp lại bạn
bè cũ vẫn tranh căi, vẫn không đồng ư
được trong hai người ai hát hay hơn; nhưng
những tranh căi sau này không c̣n mang tính chất gay gắt,
sống c̣n như cũ mà chỉ có vui vui khi
được dịp nhắc lại những kỷ
niệm đáng yêu, đáng nhớ của những ngày
tuổi nhỏ ở quê nhà.
Phần
tôi, đến rạp hát c̣n v́ một lư do riêng tư khác.
Tôi c̣n nhỏ, ở xa trường, nhà lại nằm bên
kia sông Hà Thanh nước lũ nguy hiểm nên
được cho về quê ngoại đi học, mỗi
tuần có người đón về nhà hai lần vào
thứ năm và chủ nhật, nhưng đối với
tôi như thế là quá ít. Tôi nhớ nhà, nhớ cha mẹ anh
chị em, nhớ băi cát sông với những cây rù ŕ, chè
quế; nhớ bờ ruộng, nhớ đồi sim,
nhớ chuồng ḅ, nhớ vũng câu cá... nhớ tất
cả. Đêm nào có hát bội tôi đến rạp rất
sớm, đứng trước cổng trông ngược
theo tỉnh lộ 6 về hướng Tăng Vinh, vui
mừng nh́n từng đoàn xe đạp rọi đèn sáng
trưng đổ về phía rạp hát. Tôi nh́n mặt
từng người ở cổng ra vào; những lần
như thế thường th́ tôi được gặp cha
mẹ, anh chị em, chú bác, hàng xóm hay ít ra cũng là
những người có nét quen quen. Ngay cả khi chỉ
được gặp vài người quen quen thôi, tôi
cũng cảm thấy được gần gũi
với quê tôi hơn và an tâm nhập bọn vui chơi cùng
bạn bè cho đến khi đêm hát mở màn.
Những
lúc như thế, bên trong vọng ra một điệu
nhạc lạ lùng lắm: nỉ non mà rộn ràng, trầm
lắng mà thúc dục điểm theo những nhịp
trống chầu lôi cuốn đến nỗi những
người đến trễ quưnh cả lên, hấp
tấp đến run tay khi nhận vé vào cửa. Vào lúc này
tôi sẽ bỏ dở mọi cuộc chơi, chạy
vội lại chỗ soát vé đứng chờ ông cậu,
ông chú, ông anh bà chị nào đó, nắm tay đi theo họ,
lách ḿnh vào cửa và chạy vội đến dăy kệ
hạng ba, an tâm ngồi coi hát. Có hôm ham chơi quá quên giờ
mở màn, lúc biết ra th́ đă trễ, không c̣n ai ra vào
để đi theo, tôi đành thơ thẩn bên ngoài
chờ coi "thả cửa". Ở nhà quê có lệ là
đêm hát bán vé chỉ gắt gao lúc đầu, khi đă
tŕnh diễn được nửa tuồng th́
người ta thường thả cửa cho mọi
người vào xem như một sự chia xẻ, một
chút cảm thông với những người mộ
điệu nhưng khó khăn không mua được vé.
Có
một lần tôi mải chơi quên giờ vào cửa,
đến khi nghe bên trong có tiếng dao sắt đánh nhau
rổn rảng, và tiếng ngân nga
"ợ..ơ..ơ.." vang dội, hấp dẫn th́
ham quá hóa liều, tôi sửa lại quần áo, vuốt tóc
tai ngay thẳng, b́nh tĩnh tiến lại chỗ soát vé,
dơng dạc xưng tên cha tôi và xin vào cửa. Ở quê
hầu như ai cũng biết cha tôi nên các nhân viên trật
tự đều cười thân thiện và tránh sang
một bên nhường chỗ cho tôi vào rạp. Tôi rất
thích thú về việc này và đến cuối tuần
đem chuyện khoe với cha tôi. Cha tôi không nói ǵ lúc đó
nhưng ông có vẻ buồn. Đến đêm, lúc hai cha con lên
nhà trên đi ngủ, cha tôi mới kêu tôi lại ngồi bên
ông và nói với tôi rất nhiều; đại khái cha tôi
bảo tôi đă làm một việc không phải, trong
đời không bao giờ được lợi dụng
những thân thế, những sự quen biết ḿnh có
để mưu t́m những thuận lợi cho riêng ḿnh.
Hồi đó tôi quá nhỏ để có thể hiểu
hết mọi điều cha tôi nói nhưng những
lời của ông đă theo dơi tôi suốt đời.
Thật
ra, hát bội đúng nghĩa, thể hiện trọn
vẹn tính quần chúng, tính dân gian chỉ có ở hát
đám; tŕnh diễn ở rạp để bán vé chỉ là
một h́nh thức để sinh tồn gượng
gạo và thảm hại. Những năm sau này, nghệ thuật
phim ảnh lan rộng, cải lương miền Nam bành
trướng ra Trung và phong trào tân nhạc phát triển,
đối với một số người, hát bội
đă trở thành một bóng mờ của dĩ văng.
Nhiều người tân học ở thành thị cho
rằng hát bội đă lỗi thời, quê mùa và quá thô
vụng. Thành phố Qui Nhơn lần lượt có ba nhà
hát lớn: Tân châu, Kim khánh và Lê Lợi, hát bội B́nh
Định chưa bao giờ được mở màn
ở các nơi sang trọng này, hoạ hoằn lắm
mới có một đoàn hát lớn về tŕnh diễn
ở rạp Cọng hoà, một rạp hát nhỏ, nghèo nàn,
khuất lấp, nằm trên một con đường
nhỏ, tối tăm của thị xă Qui Nhơn.
Trong
thời đại kỹ thuật, nghệ thuật đôi
khi đ̣i hỏi những xảo thuật và những
phụ trợ của khoa học để nâng cao hấp
lực. Hát bội không cần và không thể chạy theo
khuynh hướng đó, nó như một thứ vàng ṛng
nguyên sơ, tự nó có một giá trị riêng mà mọi tô
chuốt đều không cần thiết và không thích
hợp, v́ vậy, về h́nh thức, bảo hát bội lỗi
thời có thể hiểu được nhưng nếu
cho rằng hát bội quá quê mùa, b́nh dân là hoàn toàn sai. Văn
chương trong tuồng hát bội vô cùng súc tích và thâm thúy.
Toàn bộ tuồng tích của nó là một hệ thống
tập hợp những nỗ lực lớn nhằm xây
dựng một triết lư sống đầy nhân bản,
hường dẫn đời sống đạo
đức cá nhân và củng cố trật tự xă hội
dựa trên căn bản thủy chung, trung nghĩa, chính
trực, nhân ái và anh hùng.
Tuồng
hát bội không nhiều, đa số được
soạn lại từ những tinh lọc trong các tác
phẩm nổi tiếng của Trung Hoa như Tam quốc
chí, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Đường... Soạn
giả đă chọn lọc, sắp xếp và giới
thiệu những nhân vật tiêu biểu, những t́nh huống,
sự kiện nhiều ư nghĩa để tạo cho
vở tuồng vừa lâm ly, cảm động, vừa
mang rơ tính phê phán, hướng dẫn và giáo dục, phù
hợp với luân lư và đạo đức Đông
phương. Nhân vật hát bội thường nằm
trong hai phản diện: thiện và ác, trung và nịnh.
Người hiền thường chịu gian nan, truân
chuyên, ch́m nổi và kẻ ác đắc thời vênh váo
đến ứa gan nhưng kết cuộc bao giờ
thiện cũng thắng ác, chính nghĩa diệt gian tà.
Khán
giả hát bội đa số đều thuộc
tuồng, họ nhớ từng câu nói, từng biến
cố trong cuộc đời của Tiết Đinh San, Phàn Lê
Huê, Thoại Ba công chúa, Hoàng phủ Thiếu Hoa, Tạ Ôn
Đ́nh... Họ đến rạp hát hàng trăm lần không
phải để t́m những nét mới lạ trong
tuồng tích mà chỉ cốt xem các nghệ sĩ thể
hiện lại những mẫu đời của các nhân
vật họ ưa thích.
Hát
bội rất khó, nó đ̣i hỏi người nghệ
sĩ một ḷng yêu nghề cao độ, một sự
kiên tâm học tập, rèn luyện cực nhọc và bền
bỉ. Người nghệ sĩ phải tài hoa và lăo
luyện đủ để có thể vừa hát vừa
diễn tả những điệu bộ phức tạp
nhuần nhuyễn và nhịp nhàng. Họ phải dùng hơi
sức rất nhiều v́ hát bội xưa không có hệ
thống khuyếch đại âm thanh, hát thế nào
để hàng ngàn khán giả có thể nghe được
không phải là chuyện dễ dàng. Bộ điệu
cũng là một yếu tố quan trọng, giữ
phần cốt yếu cho sự thành bại của vở
hát. Nhân vật hát bội rất đa dạng, t́nh tiết
của hát bội rất phong phú và uyển chuyển; qua
điệu bộ, diễn viên phải diễn xuất
thế nào để lột tả được ḷng trung
thành, tính nịnh bợ, vẻ đoan chính, nét lẳng
lơ...
Người
nghiên cứu, chuyển hóa từ lối hát cổ Trung hoa
sang hát bội B́nh Định là cụ Đào Tấn, c̣n
được gọi là cụ Đào Vinh Thạnh. Cụ là
một nhà nho uyên bác và hiển đạt nhưng rất
say mê và đă dồn nhiều tâm lực cho việc xây
dựng nghệ thuật hát bội. Ngày nay chúng ta trân
trọng và biết ơn cụ Đào Tấn về những
đóng góp lớn lao của cụ cho văn hóa dân tộc
nhưng vào thời đó, không phải ai cũng
đồng ḷng và ủng hộ cụ.
Có
một giai thoại vui, nhiều người biết có liên
quan đến ông thầy của ngành hát bội: Khi ông Đào
Thuyên (con cụ Đào Tấn) được bổ làm quan
đến trị nhậm một huyện ở Quảng
ngăi th́ nhiều nhà nho thủ cựu, c̣n mang nặng quan
niệm "xướng ca vô loài" tỏ ư không phục.
Một sáng nọ, trước cổng huyện
đường của ông Đào, ngay ở cổng ra vào có
đôi chữ viết, một bên là "hát hay" bên kia là
"học dở". Nha lại thấy được
định xóa đi v́ sợ quan huyện buồn nhưng
chưa kịp làm th́ Đào Vĩnh Tuyên biết
được, ông b́nh tĩnh sai người lấy bút
nghiên và viết thêm vào các chữ có sẵn thành đôi câu
đối:
“Hát hay vốn kép Qui Nhơn thật
Học dở làm quan Quảng ngăi chơi”
Đức
độ, tài năng cũng như những giá trị
đích thực về những đóng góp của cụ Đào
Tấn đă lần hồi thuyết phục
được tất cả những ai vốn không có
nhiều thiện cảm với cụ.
Tuồng
hát bội không chỉ lấy từ những chuyện Tàu,
cụ Ưng b́nh Thúc Dạ Thị đă dựa theo tác
phẩm Le Cid của Corneille soạn thành vở tuồng
Lộ Địch. Những chi tiết về sự tôn
trọng danh dự, ḷng hiếu thảo và t́nh yêu éo le
của hai nhân vật chính đă làm say mê biết bao khán
giả hát bội, thành một bài học lớn cho thanh niên
nam nữ. Khán giả cảm thấy gần gũi, chia
xẻ những uẩn khúc, thương cảm sâu xa trước
số phận éo le của hai người. Phần kết
của chuyện được sửa chữa lại,
nhân vật nữ bỏ đi tu cho trọn hiếu t́nh,
hợp với đạo đức Đông phương.
Hát
bội đích thực không mang tính chất tŕnh diễn sân
khấu tại các rạp hát mà có h́nh thức lễ hội
dân gian, gọi là hát lễ hay hát đám, thường
diễn vào các dịp lễ tết, hội hè, tế
tự của một làng, một ngành hay một họ.
Buổi hát thường kéo dài trong ba ngày đêm,
được hiểu như để tạ ơn hay
cầu phước. Đây là một dịp vui chung và cũng
là một công tác chung mà mọi người cùng góp phần
tham gia tổ chức. Các chức sắc, nhân sĩ, bô lăo
trách nhiệm nghi thức tế lễ, dân đinh lo
việc dựng rạp, mổ heo gà, nấu nướng,
phục dịch. Rạp thường được
dựng trước sân đ́nh, dưới những tàn cây
lớn, sân khấu treo đèn kết hoa, chung quanh cắm
đầy cờ lễ, treo nghi trượng, bày binh khí uy
nghi và rực rỡ. Phần tŕnh diễn do nhiều
đoàn hát góp sức để bảo đảm cho
buổi hát liên tục suốt nhiều ngày đêm không gián
đoạn. Khán giả từ nhiều làng xă khác nhau kéo
đến, mang theo cơm nước để có thể
theo dơi toàn bộ chương tŕnh. Hát đám không phải
lúc nào cũng có nên một khi được tổ chức
là cả một ngày hội lớn cho cả vùng. Ông già bà
lăo bồng dắc con cháu đến xem tuồng; trai thanh
gái lịch đến v́ những lư do riêng tư của
tuổi trẻ, trong đó có cả hy vọng về
một cơ duyên gặp gỡ, quen biết với bạn
ḷng.
Hát
lễ có hai loại tuồng, một để giải trí
và một để tế lễ, chúc phúc. Loại tuồng
thứ hai thường là những vở có Quan Vân
Trường, một nhân vật thời Tam quốc vốn
được coi là một vị thánh chính trực, chí
nhân, chí đức và hết sức hiển linh, có thể
pḥ trợ lương dân và trấn trừ ma qủy. Kép
đóng vai Quan Thánh được chọn lựa kỹ và
phải chay tịnh nhiều ngày trước khi sắm vai.
Quan Vân Trường được hóa trang mặt
đỏ, râu ba cḥm, mắt luôn luôn nh́n thẳng, không
chớp, tư cách đoan trang, chững chạc.
Hát
bội được diễn theo nhịp nhạc riêng cho
từng loại hát do ban nhạc của đoàn phụ
trách; ngoài ra c̣n có tiếng trống chầu do khán giả
đánh để điểm nhịp, thúc dục hay khen
thưởng. Thủ trống chầu là một vinh dự
lớn cho người được mời;
thường việc này được dành cho các quan
chức ở xa về thăm quê hương, các chức
sắc, thân hào nhân sĩ, các khách danh dự của đêm
hát. Trống chầu có hai chiếc tả và hữu
đặt hai bên sát sân khấu, người đánh
trống ngồi phía khán giả hướng lên sân khấu.
Trước khi buổi hát mở màn, ban tổ chức
sẽ tùy vào số người hiện diện, chọn ra
hai người danh giá được số đông
thừa nhận và nể trọng nhất để trao dùi
trống và mời họ vào ghế điểm chầu. Bên
cạnh nơi đặt trống thường có kê
một cái bàn nhỏ, trên để một cái khay cẩn xà
cừ đựng những thẻ ngà hay thẻ tre có h́nh
dáng và độ lớn nhỏ khác nhau, mỗi loại
thẻ tượng trưng cho một số tiền.
Người cầm chầu sẽ tùy vào tài năng của
diễn viên mà đánh trống và bốc thẻ ném lên sân
khấu để tưởng thưởng gọi là
thướng. Đoàn hát sẽ gom các thẻ này để sau
buổi hát, nhận một số tiền tương ứng
từ người chủ thầu. Trường hợp
nghệ sĩ diễn xuất quá lôi cuốn, xuất
sắc, người cầm chầu có thể thảy nguyên
cả khay lên sân khấu để tán thưởng, gọi
là hát hay "đổ khay".
Đánh
chầu là cả một nghệ thuật, người
cầm chầu phải biết khen chê đúng chỗ,
đúng lúc và phải luôn luôn tỏ ra hào sảng. Đánh sai hay
thưởng ít đều có thể bị chê trách, đôi
khi c̣n bị các diễn viên hài hước châm biếm,
diễu cợt ngay trên sân khấu.
Vào
những năm 1954-1955 có hai lớp diễn viên hát bội:
Thứ nhất là những nghệ sĩ đă thành danh,
đă nổi tiếng từ thời tiền kháng chiến,
họ đă tạm giải nghệ dưới thời
Việt minh và bây giờ hoạt động trở
lại. Tiêu biểu cho lớp này là những nghệ sĩ
tài hoa và lăo luyện như kép Cửu Vị (người
đóng vai Tiết Cương xuất sắc đến
mức nghe nói được vua Tự Đức phong cho hàm
cửu phẩm ngay trong đêm hát), đào Ngọc Cầm
(nghệ sĩ thanh sắc vẹn toàn, đă làm rung
động trái tim của biết bao các Tổng
đốc, Tuần vũ cũng như làm say mê lớp
lớp khán giả, có khả năng đảm nhận
mọi vai tṛ, kể cả đóng kép, đặc biệt
là vai Mạnh Lệ Quân), Long Trọng, Hoàng Chinh, Tư Cá...
Thứ hai là lớp nghệ sĩ trẻ mới vào
nghề sau thời gian tiếp thu B́nh Định, họ
đa phần là người làng, con cháu, học tṛ của
thế hệ nghệ sĩ lừng danh lớp
trước. Nhiều người trong số này cũng
đă trở thành nghệ sĩ lớn như Tư Can,
Ngọc Sâm, Tuyết Phong...
Năm
1971, phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa
của cụ Mai Thọ Truyền, với nỗ lực
của nghệ sĩ Đinh Bằng Phi và nhiều
người nhiệt tâm khác, đă tổ chức hai đêm
hát bội tại trường Quốc gia Âm nhạc và
Kịch nghệ do đoàn hát bội B́nh Định và
đoàn hát Nam bộ tŕnh diễn mỗi đoàn một
đêm cùng một vở Mạnh Lệ Quân thoát hài. Mục
đích của các đêm diễn này là để nghiên cứu
những nét đặc biệt về hát bội của hai
miền. Tôi lúc ấy đă lớn, đă đi học xa
nhà nhiều năm, đă đi lính và ít c̣n có dịp coi hát
bội B́nh Định. Tôi theo dơi cả hai đêm hát và
cố gắng nhận định bằng cái nh́n b́nh
tĩnh của người trưởng thành. Đoàn hát
bội B́nh Định nghèo lắm, trang phục và phông màn
cũ kỹ, thiếu thốn nhiều lần hơn
đoàn bạn, nhưng tôi vẫn thấy dường
như hát bội B́nh Định có một chút ǵ đậm
đà hơn, sâu sắc, linh động và dễ cảm
hơn. Điều nhận xét của tôi có thể sai; tôi không
đủ hiểu biết và lư luận chuyên môn, chỉ phát
biểu hoàn toàn theo cảm nhận chủ quan, nhưng
điều ấy không có ǵ quan trọng. Tôi chỉ biết
chắc chắn một điều là tôi đă thực
sự xúc động, thực sự yêu mến những
nghệ sĩ chân chính và khốn khó của quê tôi.
Sáng
hôm sau đêm tŕnh diễn, tôi t́m đến thăm các
nghệ sĩ B́nh Định. Họ được
mời đến thủ đô dưới sự bảo
trợ của hội Khổng học B́nh Định.
Chỗ họ ở là lầu ba một căn nhà ở
đường Đỗ Quang Đẩu, nhà của một
Mạnh Thường Quân người B́nh Định. Tôi
không biết ngân khoản dành cho đoàn thế nào nhưng
nh́n vào thực cảnh th́ quả đáng buồn. Mọi
người nằm chen chúc la liệt dưới sàn
gạch và phải tự lo liệu bữa ăn cho ḿnh.
Lần
đầu tiên được gặp, được
tận mắt nh́n thấy, nói chuyện với những
nghệ sĩ lừng danh mà từ trước tôi chỉ
được nghe tiếng và nh́n thấy trên sân khấu,
tôi rất cảm động và buồn. Những nghệ
sĩ này phần lớn đều đă lớn tuổi,
dưới ánh sáng ban ngày không hóa trang, tất cả
đều có vẻ mệt mỏi xanh xao. Mỹ phẩm
hoá trang xấu sử dụng lâu ngày đă tàn phá rất
nhiều nét tươi nhuận của làn da và giọng nói
của đa số nghệ sĩ đều khào khào,
yếu ớt, thiếu trong trẻo. Có một điều
giống nhau là tất cả đều tha thiết với
nghề nghiệp, thể hiện trong cách nói của
mọi người. Những nghệ sĩ này gặp
nhiều khó khăn trong đời sống, họ biết
nghệ thuật hát bội đă dừng lại, đă
đi xuống, đă mờ nhạt trong sinh hoạt
nghệ thuật nhưng tất cả đều hài ḷng,
thoả măn với lựa chọn của ḿnh, với con
đường ḿnh đă theo đuổi và sẽ tiếp
tục.
Phần
tôi, chinh chiến đă đẩy tôi xa khỏi quê
hương và đôi khi tưởng như đă quên
hẳn môn hát bội. Rồi thảm kịch 1975 xảy ra,
tôi bị tù đày, lưu lạc cho đến gần
mười năm sau mới về lại B́nh Định.
Tôi được biết chính quyền mới có thành
lập một cái gọi là "nhà hát tuồng Đào
Tấn". Người phụ trách nhà hát là một
nghệ sĩ nhân dân kiêm đại biểu Quốc
hội. Nhiều tuồng hát thời đại ca ngợi
anh hùng chống Mỹ, anh hùng lao động
được soan ra. Người ta ồn ào tô vẽ,
quảng cáo cho chính sách bảo tồn và phát huy bộ môn
nghệ thuật cổ truyền: Hát bội B́nh
Định. Buồn thay, giống như sách báo, phim
ảnh, ca nhạc, giống như mọi sinh hoạt
văn học nghệ thuật khác, khi chính quyền đă
để mắt đến hát bội, nỗ lực
sử dụng nó vào mục đích tuyên truyền phục
vụ chế độ th́ cũng là lúc đă bức
tử nó. Hát bội B́nh Định đă chết.
Vĩnh
biệt hay chỉ tạm biệt với hát bội
để hẹn một ngày gặp lại vui hơn? Tôi
thường tự hỏi và cũng luôn hy vọng.
Nguyễn Gia Hiếu
Đặc san QUANG TRUNG - TÂY SƠN Xuân Kỷ Măo
1999