Vol. 26  7/2005            Đặc San Vietvodao năm thứ năm              5th year edition

 

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

 

MEDIATION, Một Tiến Tŕnh Hoà Giải Mới

 

Bernard Nguyên Đăng

Arbitrator/Private Judge/Mediator

(Harvard Law School trained Mediator)

Executive Director-PAXific Dispute Resolution Center

 

 

MEDIATION tạm dịch là Hoà-giải. Hoà giải ở đây không có nghĩa là hai bên xung khắc làm hoà với nhau, vợ chồng ly thân trở lại sống chung hoà thuận dưới một mái ấm gia đ́nh, hay chủ nợ làm hoà với con nợ. Cũng không phải hoà giải theo cái nghĩa hành chánh “Toà Hoà Giải” thuộc hệ    thống chính quyền thời Việt Nam Cộng Hoà.

 

Quan hệ giữa công nhân và chủ nhân là một quan hệ kinh tế, cần thiết và cần có cho sự phát triển đời sống vật chất của xă hội, người tiêu dùng và người/cơ sở kinh doanh có một tương quan thương măi dài lâu.  Quan hệ hôn nhân là một hạt nhân rất quan trọng trong một xă hội thu nhỏ lại dưới một mái ấm gia đ́nh. Nhưng mọi quan hệ luôn có những lúc bất hoà, không xuôi thuận, tạo ra tranh chấp, bất đồng, đưa đôi bên ra xa dần, rồi trở thành đối phương, phá vở nhịp cầu tương lợi tương đồng, phá vỡ hạnh phúc. Nhiều nghiên cứu và chuyên gia kinh tế cho rằng hàn gắn một quan hệ rạn nứt giữûa chủ-thợ tiết kiệm tiền bạc và duy tŕ năng lượng sản xuất hơn là mướn một người công nhân mới.  Hàn gắn những đổ vở của hôn nhân mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đ́nh hơn là dùng con dao luật pháp để gọt rửa những loang lỗ của m?t cuộc t́nh đă vỡ.

 

chưng hệ thống pháp lư của Hoa-K? đặt nền tảng trên mô thức đối chọi (adversarial model), tranh chấp, phản ngịch, hơn thua, thắng bại, mất c̣n. Như hai đoàn quân ra trận, chiến sĩ đă được huấn luyện để triệt hạ đối phương bằng mọi cách để mang lại chiến thắng. Ngay từ năm đầu, sinh viên luật đă được nhồi tọng vào đầu những nguyên lư để giành thắng lợi cho thân chủ. Nhưng những truyền thống giáo dục ấy không mang lại lợi ích mấy trong những tranh chấp về công ăn việc làm, giữa công đoàn và chủ nhân, giữa những người trong cùng một cộng đồng, tổ chức xă hội, tôn giáo, gia ?́nh v.v., lắm khi chỉ làm tổn hại thêm sự quan hệ, và nhiều khi việc tố tụng không bóc trần được thực trạng xung khắc ti?m ẩn bên dưới những sự kiện moi móc ra được v́ khả năng tiền bạc và thời gian không cho phép.  Đại đa số các công ty lớn hiện nay có một khoản trong hợp đồng lao động, giới hạn những tranh chấp giữa chủ-thợ trong trường hợp tranh chấp xẩy ra, chỉ sử dụng tiến tŕnh/phương án Trọng Tài (Arbitration) thay v́ đưa nhau ra toà.   

 

Mediation-Hoà Giải mang một tính chất pháp lư hoàn toàn mới lạ ngay cả đến người dân sinh trưởng và lớn lên tại Hoa kỳ, huống chi là đối với những người di dân thiểu số như người Việt chỉ  định cư từ năm 75, và càng xa lạ hơn đối với  những người vừa mới chân ướt chân ráo đến đất Mỹ nầy.  Hoà giải nằm trong một lănh vực hoàn toàn không giống như những việc tố tụng ở pháp đ́nh (litigation, judicial proceeding), trọng tài (arbitration.)

 

Theo định nghĩa, Mediation-Hoà Giải là một tiến tŕnh, trong đó hai hoặc nhiều bên gây hấn, bất đồng, tranh tụng, thưa kiện, được một ngướ thứ Ba (Mediator), đóng vai tṛ trung gian, đă được đào luyện đúng cách để hành nghề, giúp hai bên t́m cách bàn bạc, trao đổi, thông cảm, để đi đến một giaỉ pháp ôn hoà, giàn xếp, giải quyết những tranh chấp, gây hấn với nhau.

 

Hai bên phải đồng thuận với nhau về người đóng vai tṛ Hoà giải. Sau khi đơn kiện đă nộp vào toà, th́ thẩm phán là người chỉ định vị chủ sự [mediator] việc hoà giải.  Nhưng tốt hơn là hai bên đă ư thức và cùng tự chọn cho ḿnh vị chủ sự hoà giải.  Lệ phí có thể giàn xếp trước, hơn là khi toà đă chọn th́ không c̣n chọn lựa về giá lệ phí.

 

Điều tối quan trọng là vị chủ sự không hẳn là một luật sư, có thể là một chuyên gia tâm lư, xă hội viên hoặc bất cứ ai đă học và đáp ứng đúng những chương tŕnh đào tạo về Hoà giải, đóng đúùng vai tṛ trung dung, không có những xung khắc về quyền lợi [conflict of interest], dầu chỉ là một m?y may. Nếu bất cứ ai trong tiến tŕnh hoà giải biết được những xung khắc, th́ phải tức khắc thông báo cho mọi người liên hệ hoặc với toà.

 

Chủ sự có toàn quyền trong tiến tŕnh hoà giải, nhưng không có thẩm quyền quyết định. Tuy nhiên, với kiến thức về phương pháp và kinh nghiệm về Hoà giải của họ, sẻ giúp đôi bên thấu suốt sự việc, nh́n đến chỗ đứng, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên đểå chấp nhận một giải pháp tốt đẹp cho cả hai.  Chủ sự Hoà giải được quyền gặp riêng từng bên để thảo luận và họp chung để hai bên tranh chấp đối diện trực tiếp, đối thoại, góp ư kiến, đề nghị những phương thế giải quyết hầu mang lại sự giàn xếp tốt đẹp mong muốn. Thỉnh thoảng, có những việc liên hệ đến vấn đề chuyên môn mà v? chủ sự cần thông qua với những chuyên gia, những tốn kém hoặêc chi phí phải được cả hai bên thoả thuận.  Nhưng việc chọn l?a chuyên gia thường do vị chủ sự hoà giải tự quyết định.

 

Thật ra nếu một bên thành tâm muốn dùng phương pháp hoà giải để giải quyết tranh chấp, nhưng bên kia bên ngoài th́ đồng ư, nhưng trong thâm tâm th́ hoàn toàn có những mưu toan khác, không thật ḷng muốn, th́ vừa mất tiền, th́ giờ, rồi ra về thêm bực dọc, đánh giá thấp tiến tŕnh hoà giải.  Hoặc cả hai bên không muốn đi vào việc hoà giải, nhưng bị buộc làm theo lệnh của toà án, việc nầy thường thấy xảy ra.  Lắm khi có bên vô t́nh hoặc cố ư trốn tránh, dựa vào lư do nầy, lư do nọ để tránh lệnh của ṭa, nhưng rồi vẫn phải chấp nhận vác xác đến văn pḥng vị chủ sự để rồi vung lời bắn chữ sát phạt nhau ngay trong vài phút đầu ngồi xuống, thế là ra về hậm hực trong ḷng.   

 

Đối phương của việc tranh chấâp phải ư thức rằng vị chủ sự tiến tŕnh hoà giải truyệt đối không thể định đoạt kết quả của việc hoà giải, giải quyết sự tranh tụng, ïnhưng là chính đôi bên có trách nhiệm thương thảo và chấp nhận những điều kiện do đôi bên đưa ra. Vị chủ sự hoà giải chỉ đóng vai tṛ cổ vỏ, hướng dẫn, và vận dụng mọi khả năng về truyền thông, để giúp hai bên t́m ra một mẫu số chung, một giải pháp mà cả đôi bên đều có thể chấp nhận, tuy không hoàn toàn tuyệt đối như ư muốn, nhưng ít ra là thoả đáng.  Không ai có thể tiên đoán hoặc bảo đảm được kết quả của việc hoà giải cả.  Mỗi bên phải cung ứng đầy đũ những giấy tờ, thông tin cần thiết cho v? chủ sự khi được yêu cầu.    

 

Một điểm khá quan trọng mà lắm khi ai nấy đều quên lăng hoặc coi thường, đó là thẩm quyền quyết định của người đại diện đến bàn hoà giải.  Điển h́nh khi một cá nhân có việc tranh tụng với một công ty, một hội đoàn, một tổ chức, th́ ai là người  chính thức đại diện theo nguyên tắc pháp lư của tổ chức đó (Bylaws)ù.  Hoặc quyết định của nhân vật đó có được đúng cách để thi hành những việc đă thoả thuận tại bàn hoà giải không.

 

Về địa điểm và thớ giờ của buổi hoà giải sẻ do vị Chủ sự hoà giải quyết định.  Có thể là tại văn pḥng của v? chủ sự, tại một khách sạn, một nơi hội họp công cộïng hoặc bất cứ nơi nào thuận lợi mà vị chủ sự xét thấy phù hợp cho hoàn cảnh và ích lợi cho mọi người liên hệ.

 

Kín mật-Chỉ có những người liên hệ đến vụ thưa kiện, tranh chấâp mới được tham dự và buổi hoà giải.  Nếu được sự ưng thuận của cả đôi bên và chính vị chủ sự, th́ những người không liên hệ, hoặc liên hệ ít mới được phép can dự vào.  Vị chủ sự tuyệt đối giữ kín mọi tin tức liên quan đến việc hoà giải.  Mọi giấy tờ, thông tin liên quan đến việc hoà giải phải được bảo mật.  Đặc biệt nhấât là toà án không được phép ra lệnh v? chủ sự hoà giải ra khai trước toà, hoặc nộp bất cứ giấy tờ ǵ liên quan đến nội dung và mọi tiến tŕnh của việc hoà giải.  Hy hữu lắm mới có những luật trừ, liên quan đến h́nh sự (criminal acts) mà cho đến nay vẫn c̣n tranh căi trên diễån dàn chống án ở các cấp toà liên bang.  Mọi bên buộïc phải hoàn toàn bảo mật mọi ư kiến, tranh cải, đề nghị, chấp nhận, chịu lỗi, hoặc bất cứ hành vi nào diễn ra trong tiến tŕnh hoà giải; tuyệt đối không tiết lộ ở bất cứ nơi nào, ngay cả trong các phiên toà (trial,) trọng tài (arbitration) hoặc bất cứ một tiến tŕnh tố tụng khác (legal proceeding) như diện vấn (deposition).  Nếu bất cứ ai vi phạm điều nầy, sẽ phải chịu trách nhiệm mọi phí tổn, kể cả luật sư phí để bảo vệ sự kín mật nầy.   Có những khi luật buộc bất cứ ai nghe thấy việc hành hung hoặc đe dọa đến tánh m?ng của trẻ em, những người già nua, bệnh tật và một số vấn đề liên quan đến luật h́nh sự (criminal law) th́ buôïc phải báo cáo với chính quyền.

 

Không có hồ sơ lưu- Không có một hồ sơ lưu, thâu thanh, mọi dữ liệâu ghi lại bằng vi tính, điện tử trong tiến tŕnh hoà giải.  Mọi ghi chú của vị chủ sự thường được tiêu hủy sau khi kết thúc buổi hoà giải.  Nếu ai có ghi chú dùng trong khi thương thảo tại bàn hoà giải, phải được thâu lại và tiêu hủy.  Do đó không ai ra về mà c̣n mang trong người bất cứ tài liệu ǵ về việc hoà giải, lét lút thâu lại những lời phát biểu của đối phương là đi?u bất chính và phi pháp.  

 

Chấm dứt việc hoà giải-Việc hoà giải sẽ được công bố chấm dứt rơ ràng bởi vị chủ sự sau khi hai bên đă:  (1) giàn xếp ổn thoả và kư một hợp đồng (settlement); (2) hoặc vị chủ sự xét thấy không cần thiết để tiếp diển một lần hoà giải khác; (3) Cả đôi bên tuyên bố qua một bản văn yêu cầu chấm dứt việc hoà giải.  Nếu việc hoà giải nầy là do toà án chỉ định, th́ vị chủ sự có trách nhiệm gửi văn thư đến toà và báo cáo kết quả của việc hoà giải: (1) đă được kết quả tốt đẹp và kèm theo hợp đồng (Mediated Settlement Agreement); (2) Ư kiến đề ngh? đ́nh chỉ mọi tiến tŕnh hoà giải khác trong tương lai, v́ sự bế tắt của vấn đề thương thảo, nghịch ư của đôi bên; (3) Đôi bên yêu cầu dừøng mọi ư định về hoà giải sau những cố gắng để giàn xếp, kèm theo văn bản do đôâi bên kư. (4) Đôi bên yêu cầu toà chấm dứt mọi tiến tŕnh tố tụng.  Nếu đôi bêân chỉ giải quyết được một phần của việc tranh tụng thôi, vị chủ sự hoà giải cũng phải báo cáo về toà những ǵ đă giải quyết xong, và những ǵ c̣n phải tiếp tục hoà giải trong những lần tới hoặc để cho toà xét xử.

 

Trách nhiệm dân s?-Vị chủ sự của tiến tŕnh hoà giải sẻ không mang một trách nhiệm dân sự nào trong khi đảm trách vai tṛ hoà giải.  Ngay cả đến văn pḥng luật hoặc công ty của vị chủ sự hoà giải sẻ không phải mang lấy bất cứ trách nhiệm nào qua việc hành sự hoà giải. ï

 

Lệ phí của việc hoà giải không có một mức ấn định tối đa hoặc tối thiểu.  Có những trung tâm hoà giải bấât vụ lợi, thường được toà yêu cầu nhận những vụ thưa kiện nhỏ, hoặc đôi bên là những người nghèo.  Ngược lại, những vụ thưa kiện lớn, tranh tụng giữa các công ty với nhau, th́ lệ phí có thể lên đến cả ngàn đồng cho mỗi ngày.  Và thường th́ đôi bên sẽ cùng chịu trách nhiệm bằng nhau về việc lệ phí cũng như  những chi phí khác, như việc thuê mướn chuyên gia, sưu tra giấy tờ, mướn pḥng ốc theo yêu cầu của đôi bên tại một nơi ngoài văn pḥng của vị chủ sự.  Mọi chi phí, tốn kém đềàáu được thông báo trước, và thanh toán ngay trước khi đi vào bàn hoà gi?i.  Nếu là việc hoà giải là do lệnh của toà, th́ mọi thắc mắc hoặc bấât đồng về thủ tục, tiến tŕnh hoà giải sẻ phải được toà phán xử.

 

Hoà giải bởi một vị chủ sự không nói tiếng mẹ đẻ của cả đôi bên là một chuyện thường xảy ra. Hằng ngày có rất nhiều vụ tranh tụng giữa người Việt với nhau, nhưng khi phải đưa ra toà, và bị toà ra lệnh chuyển đến một vị chủ sự hoà giải chỉ nói tiếng Mỹ, th́ quyền lợi của đôi bên không mấy được bảo vệ tối đa, nhất là những ai  không thông thạo Anh ngữ.  Điềâu quan trọng hơn hết là vấân đề dị biệt về văn hoá, phong tục t?p quan. 

 

Nếu cần đến một người thông dịch viên, lại có những điều khác cần nêu lên:

Đôi bên được phép mang theo thông dịch viên của riêng ḿnh không? Thông dịch viên có được đào tạo trong lănh vực thông/phiên dịch, biết về những nguyên tắc tối thiểu của chức năng thông dịch không? Thông dịch viên có được thi cử và cấp giấy hành nghề không?  Người thông dịch viên có quen thu?âc, kinh nghiệm với tiến tŕnh hoà giải không?  Nếu cả đôi bên đồng ư cho phép mang theo thông dịch viên, thế th́ làm sao bảo đảm được tính trung dung và dịch thuật trung thực như là một người không can dự (no interest) vào việc tranh tụng cũng như tiến tŕnh hoà giải. 

 

Nên nhớ, người thông dịch viên được có mặt không phải để góp ư, cố vấn, hoặc hổ trợ tinh thần cho một bên, nhưng là đóng vai trị như một cái máy thông dịch, không thêm không b?t.  Một điểm khác quan trọng hơn hết là liệu những người thông dịch viên của đôi bên có tuân chỉ giử kín mật những tin tức, những điều nghe thấy tại pḥng hoà giải theo như luật định không. Tại Texas, kể từ đầu năm 2001, và theo Chương 57 của Government Code, mọi người hành xử việc thông dịch tại toà án hoặc trong những tiến tŕnh tố tụng (legal proceeding) phải có bằøng hành nghề (license)[Texas Department of Licensing and Regulation]. Thêm vào đó, chính vị chủ sự hoà giải có quyền trắc nghiệm khả năng của người thông dịch qua hai dạng thông dịch: (1) Dạng Simultaneous, và (2) Consecutive.

 

Điều đáng ghi nhớ là một người có tên họ Nguyễn, Lê, Phạm, Trần v.v., không chắc là người đó có thể nói tiếng Việt lưu loát.  Một người nói và viết thông thạo cả hai ngôn ngữ, không chắt là họ là một người thông dịch giỏi (qualified interpreter) hoặc chuyên nghiệp (professional).  Nếu người thông dịch không được đào tạo và trau dồi chức năng, th́ khó có thể thông dịch trong dạng Simulaneous được.  Có những người thông dịch hoặc phiên dịch nhiều năm, nhưng chưa hề qua một khoá đào tạo và thi hạch của bất cứ cơ quan tư nhân cũng như chính quyền nào, th́ không bảo đảm được khả năng thông dịch đúng tiêu chuẩn được.  Một người là hội viên của National Association of Judicial Interpreters and Translators (NAJIT), hoặc The Translators and Interpreters Guild (TTIG) không có ǵ bảo đảm tài năng thông/phiên dịch của họ cả.  Ngay cả đến một luật sư có tên Việt, nói tiếng Việt, nhưng lại chưa học hết cấp trung học tại Việtnam, th́ không thể bảo đảm am tường tiếng Việt và có thể đóng vai tṛ thông/phiên dịch được, huống chi một người, dầu là một luật sư Việt, nhưng sinh tại Thái lan, Lào, Mỹ, v.v th́ làm sao có thể hành sự là một thông ngôn được.

 

Đồng chủ sự-Trong những trường hợp có vụ tranh chấp liên quan đến phái nam-nữ, hoặc có người khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá, th́ vị chủ sự nên cần có một người cộng tác, cùng mang một chức năng hoà giải (co-mediator), người nầy phải cùng phái tính, hoặc đắc thủ ngôn ngữ, văn hoá và tập tục của mọi người liên quan đến vụ tranh tụng, để bảo đảơm chấùt lượng và giá trị của viêc hoà giải.  

 

Những điễm lợi và bất lợi-Việc tố tụng, nhất là về dân sự, tốn kém rấât nhiều, đ̣i hỏi nhiều thời gian, không bảo đảm mang lại kết qua mong đợi, những người trong vụ tranh tụng không nắm cán được những ǵ sẽ xảy ra trong tiến tŕnh tố tụng, hao tâm tốn của, luật sư của đôi bên là người lèo lái từng t́nh tiết tố tụng, nguyên đơn và bị đơn đều nằm thụ động, trong khi đó kết quả lại tuỳ thuộâc vào phán quyết của bồi thẩm đoàn hoặc chánh án.  Không c̣n vấn đề kín mật, v́ mọi hồ sơ nằm trong tay của toà án là thuộc về của công, ai nấy đều có quyền đọc, hoặc sao đi chép lại, người thất thế không địch nổi tiền bạc của người giàu sang, lắm khi bỏ gánh giữa đường v́ không kham nổi tiền luật sư phí hoặc những tốn kém trong tiến tŕnh tố tụng.  Mọi sự đều hoàn toàn do lệnh của toà và rốt cuộc phá tan quan hệ đôi bên.  Khi một bên thắng án, không hẳn sẽ ra về hân hoan, v́ kẻ thua kiện có khả năng chống án, kéo dài vụ kiện từ một đến hai, ba, bốn năm sau.  Khi năm ṃn tháng mỏi, tưởng chừng tiền đến trong tay, mới té ra c̣n có một tiến tŕnh đi đ̣i nợ (collection) mới ḷ lên.

 

Ngược lại Hoà giải dành cho đôi bên vị thế quyết định, đ̣i buộc s? tham gia tích cực của cả đôi bên. N? lực t́m ra những phương án với nhiều sáng tạo khác để giàn xếp vấn đề. Luôn luôn cởi mở và khuyến khích những đóng góp lạc quan tích cực của từng người có liên hệ. Ít tốn kém, kết quả nhanh chóng, mọi người đều có thể chấp nhận thi hành những điều kiện  mà chính họ đă thoả thuận, hầu có thể kéo dài quan hệ xă hội, làm ăn, chú trọng đến quan hệ hơn là nguyên tắc và luật lệ. Luôn luôn kín mật (All matters occuring during the mediation process are confidential and may not be disclosed to anyone, including the Court. Mediation Order).  Mọi người làm chủ lấy việc ḿnh muốn đệä đạc đến đối phương, không bị áp chế bởi những thủ tục rườm rà, thừa thải, tốn kém.  Phương thức đơn sơ, khỏi mất nhiều thời giờ sưu tra giấy tờ, tỷ số kết quả cao; và một điều đáng lưu y Hoà Giải là một h́nh thức được chấp nhận của công lư (acceptable form of Justice.)

 

Bernard Nguyên Đăng

Arbitrator/Private Judge/Mediator

Giám đốc PAXific Dispute Resolution Center

8035 East R. L. Thornton Freeway, Suite 518-F

Dallas, TX 75228

Email : paxificdrc@yahoo.com <mailto:pacificmediate@yahoo.com>

Điện thoại : (469) 682-4387

Website: www.paxificdrc.com <http://www.paxificdrc.com>

 

·           Hội viên Alternative Dispute Resolution Section, State Bar of Texas

·           Hội viên Association of Conflict Resolution (ACR)National and Local (www.ACRnet.org)

·           Advocate for Matrimonial Tribunal, (Toà án tiêu hôn, Địa phận Dallas) 

·           Certified Judicial Interpreter (Texas)

·           Chủ sự Hoà giải về các vụ án, tranh tụng trong nh?ng lănh vực dân sự (civil) và luật về gia đ́nh (divorce, child custory, child support,) cho cá

            nhân và công ty.

·           Cố vấn về Tố tụng (trial consultant)

·           Arbitrator cho mọi tranh tụng về lao động, h?p ??ng th??ng m?i, ly dị, chia của cải v.v.

 

Copyright©2003 by Bernard Nguyen Dang

All right reserved. No part of this article may be reproduced, disseminate, extract in any form or by any means, without permission in writing from the author.

 

References:

 

1.         Golberg, Sander, Roger & Cole, Dispute Resolution, 4th Edition (Aspen 2003)

2.         Singer, L. Settling Disputes, 2nd Edition., 1994

3.         Fisher, Ury and Patton, Getting To YES: Negotiating Agreement Without Giving in (3rd Edition. Penguin Group)

4.         Fisher, Ury and Patton, Getting To YES- đi đến thỏa thuận (Bernard Nguyên đăng dịch)

5.         Fisher and Brown, “Getting Together: Building relationships as We Negotiate” (1989)

6.         Bernard Nguyên Đăng, Family Mediation in Dallas County-Tribute To The Pioneers. Documentary film.

7.         Mnookin, Peppet and Tulumello, Beyond Winning: Negotiating to Create value in Deals and Disputes.

8.         Gerry Spencer, How To Argue and Win Evry Time.

9.         Jay Folberg, Ann Milne, Divorce and Family Mediation

10.       Stone, Patton and Heen, Difficult Conversations: How to Discuss What Matter Most. (Viking/Penguin, 1999)

11.       Alternative Dispute Resolution Handbook, Imprimature Press (2003)

12.       ACR Mediation Rules (www.acresolution.org)

13.       Arthur L. Finkle, A Mediation Primer (www.acresolution.org <http://www.acresolution.org>)

14.       Josefina M. Redon & edward Bujosa, Mediating with Interpreters (Internative Resolution, TX Bar ADR Section, Vol.13, No.4)

15.       Texas District Court Judge's Mediation Order

16.       The Judicial Council of California-Court Interpreter Certification Division. Fact sheet.

17.       Utpal P. Mehta, Esq., Translating Justice.” Texas Bar Journal, Vol. 57 No. 9 (October 1994)

18.       R. D. Gonzelez, Fundamentals of Court Interpretation: Theory, Policy, and Pracice (1991)

19.       H.R.2497, Administrative Dispute Resolution Act., Public Law No.101-552

20.       American Artibtration Association, Resolving Your Disputes, A Guide to Mediation for Business People, Commercial Mediation Rules.

21.       Federal Mediation Conciliation Service (FMCS)

 

Mọi ư kiến đóng góp xin gửi về email hoặc địa chỉ nêu trên.

 

Xin quí vị đón đọc nhng bài tiếp theo của cùng tác giả về những vấn đề liên quan đến:

·           Vai trị của Tâm lư-Tâm Thn trong T Tụng H́nh S (The Role of Mental Health in Criminal Prosecution)

·           Vai trị của Tâm lư trong vic tTụng Gia Đ́nh (the Role of Psychology in Family Litigation)

·           Trọng Tài (Arbitration)

·           Thông Dịch Pháp Lư (Judicial Interpreting)

·           Nhân Chứng trong việc tố tụng (Witness in Litigation)

·           Biết Nói Để Người Nghe-Biết Nghe Để Người Nói (How to talk so people will listen-How to listen so people will talk)

·           Của Ông-Của Bà trong tiến tŕnh ly thân, ly dị (Mine-Yours in Divorce Process)

·           Truyền Thông Không Bằng Lời (Non Verbal Communication)

·           Ly Dị-Tiêu Hôn-Những điều cn biết trong hôn nhân công giáo (Divorce-Annulment, Things people need to know in Catholic marriage.)

 

Ư kiến:

 

            Bài viết rt rơ ràng, trong sáng và mạch lạc.

                                    Dr. Nguyn Ngọc Tun [Nguyn Hưng Quc-Phê B́nh Gia Văn Học]

                                    Victoria University-Australia

 

Cám ơn Bernard đă gi cho tôi tài liu rt quí giá ny.  Lâu lâu mi đọc được một bài viết về luật pháp có giá trị.                                    

LS. Nguyn Xuân Phưc

                                    Richardson, Texas

 

*** Cám ơn anh Bernard đă gỡi cho Đặc San Vietvodao tài liệu quí và hữu ích nầy.    Nghĩa Đỗ  ***

 

Home