|
|
||
|
MEDIATION, Một Tiến Tŕnh Hoà Giải Mới
Bernard Nguyên Đăng
Arbitrator/Private Judge/Mediator
(Harvard Law School trained Mediator)
Executive Director-PAXific Dispute
Resolution Center
MEDIATION tạm dịch
là Hoà-giải. Hoà giải ở đây không có nghĩa là hai bên
xung khắc làm hoà với nhau, vợ chồng ly thân trở
lại sống chung hoà thuận dưới
một mái ấm gia đ́nh, hay chủ nợ làm hoà với
con nợ. Cũng không phải hoà giải theo
cái nghĩa hành chánh “Toà Hoà Giải” thuộc hệ thống chính quyền thời Việt
Nam Cộng Hoà.
Quan hệ giữa
công nhân và chủ nhân là một quan hệ kinh tế, cần
thiết và cần có cho sự phát triển đời sống
vật chất của xă hội, người tiêu dùng và
người/cơ sở kinh doanh có một tương quan
thương măi dài lâu. Quan hệ
hôn nhân là một hạt nhân rất quan trọng trong một
xă hội thu nhỏ lại dưới một
mái ấm gia đ́nh. Nhưng mọi quan hệ luôn có những
lúc bất hoà, không xuôi thuận, tạo ra tranh chấp, bất
đồng, đưa đôi bên ra xa dần, rồi trở
thành đối phương, phá vở nhịp cầu
tương lợi tương đồng, phá vỡ hạnh
phúc. Nhiều nghiên cứu và chuyên gia kinh tế
cho rằng hàn gắn một quan hệ rạn nứt giữûa
chủ-thợ tiết kiệm tiền bạc và duy tŕ
năng lượng sản xuất hơn là mướn một
người công nhân mới.
Hàn gắn những đổ vở của hôn nhân mang
lại hạnh phúc cho nhiều gia đ́nh hơn là dùng con
dao luật pháp để gọt rửa những loang lỗ
của m?t cuộc t́nh đă vỡ.
V́ chưng hệ
thống pháp lư của Hoa-K? đặt nền
tảng trên mô thức đối chọi (adversarial model),
tranh chấp, phản ngịch, hơn thua, thắng bại,
mất c̣n. Như hai đoàn quân ra trận, chiến
sĩ đă được huấn luyện để triệt
hạ đối phương bằng mọi cách để
mang lại chiến thắng. Ngay từ
năm đầu, sinh viên luật đă được nhồi
tọng vào đầu những nguyên lư để giành thắng
lợi cho thân chủ. Nhưng những truyền thống
giáo dục ấy không mang lại lợi ích mấy trong những
tranh chấp về công ăn việc làm, giữa công
đoàn và chủ nhân, giữa những người trong cùng
một cộng đồng, tổ chức xă hội, tôn giáo,
gia ?́nh v.v., lắm khi chỉ làm tổn hại thêm sự
quan hệ, và nhiều khi việc tố tụng không bóc trần
được thực trạng xung khắc ti?m ẩn bên
dưới những sự kiện moi móc ra được
v́ khả năng tiền bạc và thời gian không cho
phép. Đại đa số
các công ty lớn hiện nay có một khoản trong hợp
đồng lao động, giới hạn những tranh chấp
giữa chủ-thợ trong trường hợp tranh chấp
xẩy ra, chỉ sử dụng tiến tŕnh/phương
án Trọng Tài (Arbitration) thay v́ đưa nhau ra toà.
Mediation-Hoà Giải mang một tính chất
pháp lư hoàn toàn mới lạ ngay cả đến người
dân sinh trưởng và lớn lên tại Hoa kỳ, huống
chi là đối với những người di dân thiểu
số như người Việt chỉ định cư từ
năm 75, và càng xa lạ hơn đối với những người vừa mới
chân ướt chân ráo đến đất Mỹ nầy. Hoà giải nằm
trong một lănh vực hoàn toàn không giống như những
việc tố tụng ở pháp đ́nh (litigation, judicial
proceeding), trọng tài (arbitration.)
Theo định nghĩa, Mediation-Hoà Giải
là một tiến tŕnh, trong đó hai hoặc nhiều bên gây
hấn, bất đồng, tranh tụng, thưa kiện,
được một ngướ thứ Ba (Mediator),
đóng vai tṛ trung gian, đă được đào luyện
đúng cách để hành nghề, giúp hai bên t́m cách bàn bạc,
trao đổi, thông cảm, để đi đến một
giaỉ pháp ôn hoà, giàn xếp, giải quyết những
tranh chấp, gây hấn với nhau.
Hai bên phải đồng
thuận với nhau về người đóng vai tṛ Hoà giải. Sau khi
đơn kiện đă nộp vào toà, th́ thẩm phán
là người chỉ định vị chủ sự
[mediator] việc hoà giải. Nhưng tốt hơn là hai bên đă ư thức và
cùng tự chọn cho ḿnh vị chủ sự hoà giải. Lệ phí có thể
giàn xếp trước, hơn là khi toà đă chọn th́
không c̣n chọn lựa về giá lệ phí.
Điều tối quan trọng là vị
chủ sự không hẳn là một luật sư, có thể
là một chuyên gia tâm lư, xă hội viên hoặc bất cứ
ai đă học và đáp ứng đúng những
chương tŕnh đào tạo về Hoà giải, đóng
đúùng vai tṛ trung dung, không có những xung khắc về
quyền lợi [conflict of interest], dầu chỉ là một
m?y may. Nếu bất cứ
ai trong tiến tŕnh hoà giải biết được những
xung khắc, th́ phải tức khắc thông báo cho mọi
người liên hệ hoặc với toà.
Chủ sự có
toàn quyền trong tiến tŕnh hoà giải, nhưng không có thẩm
quyền quyết định. Tuy nhiên, với kiến thức
về phương pháp và kinh nghiệm về Hoà giải của
họ, sẻ giúp đôi bên thấu suốt sự việc,
nh́n đến chỗ đứng, quyền lợi và trách
nhiệm của mỗi bên đểå chấp nhận một
giải pháp tốt đẹp cho cả hai. Chủ sự Hoà giải
được quyền gặp riêng từng bên để
thảo luận và họp chung để
hai bên tranh chấp đối diện trực tiếp,
đối thoại, góp ư kiến, đề nghị những
phương thế giải quyết hầu mang lại sự
giàn xếp tốt đẹp mong muốn. Thỉnh
thoảng, có những việc liên hệ đến vấn
đề chuyên môn mà v? chủ sự
cần thông qua với những chuyên gia, những tốn kém
hoặêc chi phí phải được cả hai bên thoả
thuận. Nhưng việc chọn
l?a chuyên gia thường do vị chủ
sự hoà giải tự quyết định.
Thật ra nếu một bên thành tâm
muốn dùng phương pháp hoà giải để giải
quyết tranh chấp, nhưng bên kia bên ngoài th́ đồng
ư, nhưng trong thâm tâm th́ hoàn toàn có những mưu toan khác,
không thật ḷng muốn, th́ vừa mất tiền, th́ giờ,
rồi ra về thêm bực dọc, đánh giá thấp tiến
tŕnh hoà giải. Hoặc cả
hai bên không muốn đi vào việc hoà giải, nhưng bị
buộc làm theo lệnh của toà án, việc
nầy thường thấy xảy ra. Lắm khi có bên vô t́nh hoặc cố
ư trốn tránh, dựa vào lư do nầy, lư do nọ để
tránh lệnh của ṭa, nhưng rồi vẫn phải chấp
nhận vác xác đến văn pḥng vị chủ sự
để rồi vung lời bắn chữ sát phạt nhau
ngay trong vài phút đầu ngồi xuống, thế là ra về
hậm hực trong ḷng.
Đối phương của việc
tranh chấâp phải ư thức rằng vị chủ sự
tiến tŕnh hoà giải truyệt đối không thể
định đoạt kết quả của việc hoà giải,
giải quyết sự tranh tụng, ïnhưng là chính đôi
bên có trách nhiệm thương thảo và chấp nhận
những điều kiện do đôi bên đưa ra. Vị
chủ sự hoà giải chỉ đóng vai tṛ cổ vỏ,
hướng dẫn, và vận dụng mọi khả
năng về truyền thông, để giúp hai bên t́m ra một
mẫu số chung, một giải pháp mà
cả đôi bên đều có thể chấp nhận, tuy
không hoàn toàn tuyệt đối như ư muốn, nhưng ít
ra là thoả đáng. Không ai có thể tiên đoán hoặc bảo đảm
được kết quả của việc hoà giải cả. Mỗi bên phải
cung ứng đầy đũ những giấy tờ,
thông tin cần thiết cho v? chủ
sự khi được yêu cầu.
Một điểm
khá quan trọng mà lắm khi ai nấy đều quên lăng hoặc
coi thường, đó là thẩm quyền quyết định
của người đại diện đến bàn hoà giải. Điển h́nh khi một cá nhân có
việc tranh tụng với một công ty, một hội
đoàn, một tổ chức, th́ ai là người chính thức đại diện
theo nguyên tắc pháp lư của tổ chức đó
(Bylaws)ù. Hoặc
quyết định của nhân vật đó có được
đúng cách để thi hành những việc đă thoả
thuận tại bàn hoà giải không.
Về địa điểm và
thớ giờ của buổi hoà giải sẻ do vị Chủ
sự hoà giải quyết định. Có thể là tại
văn pḥng của v? chủ sự,
tại một khách sạn, một nơi hội họp
công cộïng hoặc bất cứ nơi nào thuận lợi
mà vị chủ sự xét thấy phù hợp cho hoàn cảnh
và ích lợi cho mọi người liên hệ.
Kín mật-Chỉ
có những người liên hệ đến vụ thưa
kiện, tranh chấâp mới được tham dự và
buổi hoà giải. Nếu
được sự ưng thuận của cả đôi
bên và chính vị chủ sự, th́ những người
không liên hệ, hoặc liên hệ ít mới được
phép can dự vào. Vị chủ sự tuyệt đối giữ
kín mọi tin tức liên quan đến việc hoà giải. Mọi giấy tờ,
thông tin liên quan đến việc hoà giải phải
được bảo mật. Đặc biệt nhấât là toà án không được phép ra lệnh v? chủ sự hoà giải ra khai trước
toà, hoặc nộp bất cứ giấy tờ ǵ liên quan đến
nội dung và mọi tiến tŕnh của việc hoà giải. Hy hữu lắm mới có những
luật trừ, liên quan đến h́nh sự (criminal acts) mà
cho đến nay vẫn c̣n tranh căi trên diễån dàn chống
án ở các cấp toà liên bang. Mọi bên buộïc phải hoàn
toàn bảo mật mọi ư kiến, tranh cải, đề
nghị, chấp nhận, chịu lỗi, hoặc bất cứ
hành vi nào diễn ra trong tiến tŕnh hoà giải; tuyệt
đối không tiết lộ ở bất cứ nơi
nào, ngay cả trong các phiên toà (trial,) trọng tài (arbitration)
hoặc bất cứ một tiến tŕnh tố tụng
khác (legal proceeding) như diện vấn (deposition). Nếu bất cứ ai vi phạm điều nầy, sẽ phải
chịu trách nhiệm mọi phí tổn, kể cả luật
sư phí để bảo vệ sự kín mật nầy. Có những khi luật buộc bất
cứ ai nghe thấy việc hành hung hoặc đe dọa
đến tánh m?ng của trẻ em, những
người già nua, bệnh tật và một số vấn
đề liên quan đến luật h́nh sự (criminal law)
th́ buôïc phải báo cáo với chính quyền.
Không có hồ sơ lưu- Không có một
hồ sơ lưu, thâu thanh, mọi dữ liệâu ghi lại
bằng vi tính, điện tử trong tiến
tŕnh hoà giải. Mọi
ghi chú của vị chủ sự thường được
tiêu hủy sau khi kết thúc buổi hoà giải. Nếu ai có ghi chú
dùng trong khi thương thảo tại bàn hoà giải, phải
được thâu lại và tiêu hủy. Do đó không ai ra về mà c̣n mang
trong người bất cứ tài liệu ǵ về việc
hoà giải, lét lút thâu lại những lời phát biểu của
đối phương là đi?u bất
chính và phi pháp.
Chấm dứt việc hoà giải-Việc
hoà giải sẽ được công bố chấm dứt
rơ ràng bởi vị chủ sự sau khi hai bên đă: (1) giàn xếp ổn thoả và kư
một hợp đồng (settlement); (2) hoặc vị chủ
sự xét thấy không cần thiết để tiếp diển
một lần hoà giải khác; (3) Cả đôi bên tuyên bố
qua một bản văn yêu cầu chấm dứt việc
hoà giải. Nếu việc hoà
giải nầy là do toà án chỉ định,
th́ vị chủ sự có trách nhiệm gửi văn
thư đến toà và báo cáo kết quả của việc
hoà giải: (1) đă được kết quả tốt
đẹp và kèm theo hợp đồng (Mediated Settlement
Agreement); (2) Ư kiến đề ngh? đ́nh
chỉ mọi tiến tŕnh hoà giải khác trong tương
lai, v́ sự bế tắt của vấn đề
thương thảo, nghịch ư của đôi bên; (3)
Đôi bên yêu cầu dừøng mọi ư định về hoà
giải sau những cố gắng để giàn xếp,
kèm theo văn bản do đôâi bên kư. (4) Đôi bên yêu cầu
toà chấm dứt mọi tiến tŕnh tố tụng. Nếu đôi bêân chỉ giải
quyết được một phần của việc
tranh tụng thôi, vị chủ sự hoà giải cũng phải
báo cáo về toà những ǵ đă giải quyết xong, và những
ǵ c̣n phải tiếp tục hoà giải trong những lần
tới hoặc để cho toà xét xử.
Trách nhiệm dân s?-Vị chủ sự
của tiến tŕnh hoà giải sẻ không mang một trách
nhiệm dân sự nào trong khi đảm trách vai tṛ hoà giải. Ngay cả đến
văn pḥng luật hoặc công ty của vị chủ sự
hoà giải sẻ không phải mang lấy bất cứ
trách nhiệm nào qua việc hành sự hoà giải. ï
Lệ phí của việc
hoà giải không có một mức ấn định tối
đa hoặc tối thiểu. Có những trung tâm hoà giải bấât vụ lợi,
thường được toà yêu cầu nhận những
vụ thưa kiện nhỏ, hoặc đôi bên là những
người nghèo. Ngược lại, những vụ thưa kiện
lớn, tranh tụng giữa các công ty với nhau, th́ lệ
phí có thể lên đến cả ngàn đồng cho mỗi
ngày. Và thường th́
đôi bên sẽ cùng chịu trách nhiệm bằng nhau về
việc lệ phí cũng như những chi phí khác, như việc
thuê mướn chuyên gia, sưu tra giấy tờ, mướn
pḥng ốc theo yêu cầu của đôi bên tại một
nơi ngoài văn pḥng của vị chủ sự. Mọi chi phí, tốn kém đềàáu
được thông báo trước, và thanh toán ngay trước
khi đi vào bàn hoà gi?i. Nếu là việc hoà giải là do
lệnh của toà, th́ mọi thắc mắc hoặc bấât
đồng về thủ tục, tiến tŕnh hoà giải sẻ
phải được toà phán xử.
Hoà giải bởi
một vị chủ sự không nói tiếng mẹ đẻ
của cả đôi bên là một chuyện thường xảy
ra. Hằng
ngày có rất nhiều vụ tranh tụng giữa người
Việt với nhau, nhưng khi phải đưa ra toà, và bị
toà ra lệnh chuyển đến một vị chủ sự
hoà giải chỉ nói tiếng Mỹ, th́ quyền lợi của
đôi bên không mấy được bảo vệ tối
đa, nhất là những ai
không thông thạo Anh ngữ.
Điềâu quan trọng hơn hết là vấân
đề dị biệt về văn hoá, phong tục t?p quan.
Nếu cần đến một
người thông dịch viên, lại có những điều
khác cần nêu lên:
Đôi bên được phép mang theo thông dịch viên của riêng ḿnh không? Thông dịch viên có được đào tạo
trong lănh vực thông/phiên dịch, biết về những
nguyên tắc tối thiểu của chức năng thông dịch
không? Thông dịch viên có được
thi cử và cấp giấy hành nghề không? Người thông dịch viên có
quen thu?âc, kinh nghiệm với tiến
tŕnh hoà giải không? Nếu cả
đôi bên đồng ư cho phép mang theo thông dịch viên, thế
th́ làm sao bảo đảm được tính trung dung và dịch
thuật trung thực như là một người không can dự
(no interest) vào việc tranh tụng cũng như tiến
tŕnh hoà giải.
Nên nhớ, người thông dịch
viên được có mặt không phải để góp ư, cố
vấn, hoặc hổ trợ tinh thần cho một bên,
nhưng là đóng vai trị như một cái máy thông dịch,
không thêm không b?t.
Một điểm khác quan trọng hơn hết là liệu
những người thông dịch viên của đôi bên có
tuân chỉ giử kín mật những tin tức, những
điều nghe thấy tại pḥng hoà giải theo như luật định không. Tại
Texas, kể từ đầu năm 2001, và theo Chương
57 của Government Code, mọi người hành xử việc
thông dịch tại toà án hoặc trong những tiến tŕnh
tố tụng (legal proceeding) phải có bằøng hành nghề
(license)[Texas Department of Licensing and
Regulation]. Thêm vào đó, chính vị chủ sự hoà giải
có quyền trắc nghiệm khả năng của người
thông dịch qua hai dạng thông dịch: (1) Dạng
Simultaneous, và (2) Consecutive.
Điều đáng
ghi nhớ là một người có tên họ Nguyễn, Lê,
Phạm, Trần v.v., không chắc là người đó có thể
nói tiếng Việt lưu loát. Một người nói và viết thông thạo cả
hai ngôn ngữ, không chắt là họ là một người
thông dịch giỏi (qualified interpreter) hoặc chuyên nghiệp
(professional). Nếu người thông dịch không được
đào tạo và trau dồi chức năng, th́ khó có thể
thông dịch trong dạng Simulaneous được. Có những người
thông dịch hoặc phiên dịch nhiều năm, nhưng
chưa hề qua một khoá đào tạo và thi hạch của
bất cứ cơ quan tư nhân cũng như chính quyền
nào, th́ không bảo đảm được khả
năng thông dịch đúng tiêu chuẩn được. Một người là hội viên
của National Association of Judicial Interpreters and Translators
(NAJIT), hoặc The Translators and Interpreters Guild (TTIG) không có ǵ bảo
đảm tài năng thông/phiên dịch của họ cả. Ngay cả đến một luật
sư có tên Việt, nói tiếng Việt, nhưng lại
chưa học hết cấp trung học tại Việtnam,
th́ không thể bảo đảm am tường tiếng Việt
và có thể đóng vai tṛ thông/phiên dịch được,
huống chi một người, dầu là một luật
sư Việt, nhưng sinh tại Thái lan, Lào, Mỹ, v.v th́
làm sao có thể hành sự là một thông ngôn được.
Đồng chủ sự-Trong những
trường hợp có vụ tranh chấp liên quan đến
phái nam-nữ, hoặc có người khác nhau về ngôn ngữ,
văn hoá, th́ vị chủ sự nên cần có một
người cộng tác, cùng mang một chức năng hoà
giải (co-mediator), người nầy phải cùng phái tính,
hoặc đắc thủ ngôn ngữ, văn hoá và tập tục
của mọi người liên quan đến vụ tranh tụng,
để bảo đảơm chấùt lượng và giá trị
của viêc hoà giải.
Những điễm lợi và bất
lợi-Việc tố tụng, nhất là về dân sự,
tốn kém rấât nhiều, đ̣i hỏi nhiều thời
gian, không bảo đảm mang lại kết qua mong đợi,
những người trong vụ tranh tụng không nắm
cán được những ǵ sẽ xảy ra trong tiến
tŕnh tố tụng, hao tâm tốn của, luật sư của
đôi bên là người lèo lái từng t́nh tiết tố tụng,
nguyên đơn và bị đơn đều nằm thụ
động, trong khi đó kết quả lại tuỳ thuộâc
vào phán quyết của bồi thẩm đoàn hoặc chánh
án. Không c̣n vấn đề
kín mật, v́ mọi hồ sơ nằm trong tay của toà
án là thuộc về của công, ai nấy đều có quyền
đọc, hoặc sao đi chép lại, người thất
thế không địch nổi tiền bạc của
người giàu sang, lắm khi bỏ gánh giữa đường
v́ không kham nổi tiền luật sư phí hoặc những
tốn kém trong tiến tŕnh tố tụng. Mọi sự đều hoàn toàn
do lệnh của toà và rốt cuộc phá tan quan hệ
đôi bên. Khi một
bên thắng án, không hẳn sẽ ra về hân hoan, v́ kẻ
thua kiện có khả năng chống án, kéo dài vụ kiện
từ một đến hai, ba, bốn năm sau. Khi năm ṃn tháng mỏi, tưởng
chừng tiền đến trong tay, mới
té ra c̣n có một tiến tŕnh đi đ̣i nợ (collection)
mới ḷ lên.
Ngược lại
Hoà giải dành cho đôi bên vị thế quyết định,
đ̣i buộc s? tham gia tích cực của cả
đôi bên. N? lực t́m ra những
phương án với nhiều sáng tạo khác để
giàn xếp vấn đề. Luôn luôn cởi mở
và khuyến khích những đóng góp lạc quan tích cực của
từng người có liên hệ. Ít tốn kém, kết
quả nhanh chóng, mọi người đều có thể
chấp nhận thi hành những điều kiện mà chính họ đă thoả thuận,
hầu có thể kéo dài quan hệ xă hội, làm ăn, chú trọng
đến quan hệ hơn là nguyên tắc và luật lệ.
Luôn luôn kín mật (All matters occuring during the mediation process are
confidential and may not be disclosed to anyone, including the Court. Mediation Order). Mọi người làm chủ lấy việc ḿnh
muốn đệä đạc đến đối
phương, không bị áp chế bởi những thủ tục
rườm rà, thừa thải, tốn kém. Phương thức đơn
sơ, khỏi mất nhiều thời giờ sưu tra giấy
tờ, tỷ số kết quả cao; và một điều
đáng lưu y,ù Hoà Giải là một
h́nh thức được chấp nhận của công lư
(acceptable form of Justice.)
Bernard Nguyên Đăng
Arbitrator/Private Judge/Mediator
Giám đốc PAXific Dispute Resolution
Center
8035 East R. L. Thornton Freeway, Suite 518-F
Dallas, TX 75228
Email : paxificdrc@yahoo.com
<mailto:pacificmediate@yahoo.com>
Điện thoại :
(469) 682-4387
Website: www.paxificdrc.com <http://www.paxificdrc.com>
· Hội
viên Alternative Dispute Resolution Section, State Bar of Texas
· Hội
viên Association of Conflict Resolution (ACR)National
and Local (www.ACRnet.org)
· Advocate
for Matrimonial Tribunal, (Toà án tiêu hôn, Địa
phận Dallas)
· Certified
Judicial Interpreter (Texas)
· Chủ
sự Hoà giải về các vụ án, tranh tụng trong nh?ng lănh vực dân sự (civil) và luật về
gia đ́nh (divorce, child custory, child support,) cho cá
nhân và công ty.
· Cố
vấn về Tố tụng (trial consultant)
· Arbitrator
cho mọi tranh tụng về lao động, h?p ??ng th??ng
m?i, ly dị, chia của cải v.v.
Copyright©2003 by Bernard Nguyen Dang
All right reserved. No part of this article
may be reproduced, disseminate, extract in any form or by any means, without permission
in writing from the author.
References:
1. Golberg,
Sander, Roger & Cole, Dispute Resolution, 4th Edition (Aspen 2003)
2. Singer,
L. Settling Disputes, 2nd Edition., 1994
3. Fisher,
Ury and Patton, Getting To YES: Negotiating Agreement Without
Giving in (3rd Edition. Penguin Group)
4. Fisher,
Ury and Patton, Getting To YES- đi đến
thỏa thuận (Bernard Nguyên đăng dịch)
5. Fisher
and Brown, “Getting Together: Building relationships as We Negotiate” (1989)
6. Bernard
Nguyên Đăng, Family Mediation in Dallas County-Tribute To The Pioneers. Documentary film.
7. Mnookin,
Peppet and Tulumello, Beyond Winning: Negotiating to Create
value in Deals and Disputes.
8. Gerry
Spencer, How To Argue and Win Evry Time.
9. Jay
Folberg, Ann Milne, Divorce and Family Mediation
10. Stone,
Patton and Heen, Difficult Conversations: How to Discuss What Matter Most.
(Viking/Penguin, 1999)
11. Alternative
Dispute Resolution Handbook, Imprimature Press (2003)
12. ACR
Mediation Rules (www.acresolution.org)
13. Arthur
L. Finkle, A Mediation Primer (www.acresolution.org
<http://www.acresolution.org>)
14. Josefina
M. Redon & edward Bujosa, Mediating with
Interpreters (Internative Resolution, TX Bar ADR Section, Vol.13, No.4)
15. Texas
District Court Judge's Mediation Order
16. The
Judicial Council of California-Court Interpreter Certification Division. Fact sheet.
17. Utpal
P. Mehta, Esq., Translating Justice.” Texas Bar Journal, Vol. 57 No. 9 (October
1994)
18. R.
D. Gonzelez, Fundamentals of Court Interpretation: Theory, Policy, and Pracice
(1991)
19. H.R.2497,
Administrative Dispute Resolution Act., Public Law
No.101-552
20. American
Artibtration Association, Resolving Your Disputes, A
Guide to Mediation for Business People, Commercial Mediation Rules.
21. Federal
Mediation Conciliation Service (FMCS)
Mọi ư kiến đóng góp xin gửi
về email hoặc địa chỉ nêu trên.
Xin quí vị đón đọc nh ững bài tiếp theo của
cùng tác giả về những vấn đề liên quan
đến:
· Vai
trị của Tâm lư-Tâm Thần trong Tố Tụng H́nh Sự (The Role of Mental Health
in Criminal Prosecution)
· Vai
trị của Tâm lư trong việc tố Tụng Gia Đ́nh (the Role of Psychology in Family
Litigation)
· Trọng
Tài (Arbitration)
· Thông
Dịch Pháp Lư (Judicial Interpreting)
· Nhân
Chứng trong việc tố tụng (Witness in Litigation)
· Biết
Nói Để Người Nghe-Biết Nghe Để Người
Nói (How to talk so people will listen-How to listen so people will talk)
· Của
Ông-Của Bà trong tiến tŕnh ly thân, ly dị (Mine-Yours in
Divorce Process)
· Truyền
Thông Không Bằng Lời (Non Verbal Communication)
· Ly
Dị-Tiêu Hôn-Những điều cần biết trong hôn
nhân công giáo (Divorce-Annulment, Things people need to know in Catholic
marriage.)
Ư kiến:
Bài
viết rất rơ ràng, trong sáng và
mạch lạc.
Dr.
Nguyễn Ngọc Tuấn [Nguyễn Hưng Quốc-Phê B́nh Gia Văn Học]
Victoria
University-Australia
Cám
ơn Bernard đă gởi cho tôi tài liệu rất quí giá nầy. Lâu
lâu mới đọc được
một bài viết về luật pháp có giá trị.
LS. Nguyễn Xuân Phước
Richardson,
Texas
*** Cám
ơn anh Bernard đă gỡi cho Đặc San Vietvodao tài liệu
quí và hữu ích nầy. Nghĩa
Đỗ ***