|
|
||
|
Chæ daån caùch download font VNI mieån
phí ñeå ñoïc Ñaëc san Vieät Voơ Ñaïo: click Chæ daån
CUỘC HỘI NHẬP TÂM LINH
TRẦN GIA PHỤNG (
Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt
vào thế kỷ 17 được tiến hành một cách
ôn ḥa, ít đụng chạm, không gây ra hận thù dân tộc,
bắt nguồn từ nhiều lư do vừa về phía Đại
Việt, vừa về phía Champa, trong đó có một yếu
tố rất ít được nói đến là cuộc hội
nhập tâm linh mà các chúa Nguyễn đă khéo léo thực hiện
khi hướng dẫn dân chúng Việt càng ngày càng tiến
sâu vào đất Champa và Chân Lạp (tức Cambodia).
1.- NGƯỜI KHỞI XƯỚNG
a) Lai lịch Nguyễn Hoàng: Nguyễn Hoàng là con trai thứ nh́ của
Nguyễn Kim. Nguyễn Kim nguyên là Tả vệ
Điện tiền Tướng quân, tước An Thanh Hầu,
trông coi đạo Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay) (1) đời vua
Lê Chiêu Tông (trị v́ 1516-1522). Sau khi Mạc
Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Nguyễn Kim trốn
sang Ai Lao (Lào ngày nay). Vua Ai Lao là Sạ Đẩu cho ở
đất Sầm Châu.(2) Nguyễn
Kim xây dựng Sầm Châu làm căn cứ địa, chiêu mộ
quân sĩ, t́m cách khôi phục nhà Lê. Năm 1529
(kỷ sửu), Nguyễn Kim đem quân về đánh Thanh
Hoa nhưng năm 1530 (canh dần) bị tổn thất nặng,
phải quay trở qua Sầm Châu để chỉnh đốn
binh mă.
Vào tháng giêng năm quư tỵ (1533), Nguyễn
Kim t́m được người con út của Lê Chiêu Tông là
Lê Duy Ninh, lúc đó 18 tuổi, lập lên làm vua tức vua Lê
Trang Tông (trị v́ 1533-1548), mở đầu cuộc trung
hưng nhà Lê. Lê Trang Tông phong Nguyễn Kim làm
Thượng phụ thái sư, tước Hưng Quốc
Công, trông coi mọi việc đối nội cũng
như đối ngoại. Trong số những hào kiệt
về theo Lê Trang Tông và Nguyễn Kim lúc đó có Trịnh Kiểm,
người Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, Thanh Hoa, là một
tướng tài, được Nguyễn Kim gả con gái là
Ngọc Bảo, và được vua Lê phong làm Dực Quận
Công.
Năm 1539 (kỷ hợi),
vua Lê sai Trịnh Kiểm đem quân về đánh Lôi
Dương (Thanh Hoa).
Năm 1540 (canh tư), Nguyễn Kim về Nghệ An thăm ḍ t́nh
h́nh. Hai năm sau, chính Lê Trang Tông cũng
xâm nhập trở về nước. Năm
1543 (quư măo), quân vua Lê chuẩn bị tấn công Thanh Hoa.
Tổng trấn Thanh Hoa của nhà Mạc là hoạn quan
Trung Hậu Hầu Dương Chấp Nhất, đem
người đến xin đầu hàng, được
vua Lê cho cầm giữ binh quyền như cũ. Sau thành công bước đầu, Nguyễn Kim
được vua Lê gia phong làm Thái tể đô tướng,
tiết chế tướng sĩ các doanh.
Nguyễn Kim dẫn quân ra
Sơn
b) Nguyễn Hoàng vào Nam: Sau khi Nguyễn Kim từ trần, Trịnh
Kiểm lên nắm quyền thay Nguyễn Kim và được
vua Lê phong làm Đô tướng, tiết chế thủy bộ
quân, kiêm tổng nội ngoại b́nh chương quân quốc
trọng sự, rồi gia phong Thái sư, tước Lạng
Quốc Công. Về phía Nguyễn Kim, ông có hai con trai: con
trưởng là Nguyễn Uông được phong Lăng Quận
Công, con thứ là Nguyễn Hoàng được
phong Đoan Quận Công, cùng giữ binh quyền đi
đánh giặc. Trịnh Kiểm nghi kỵ và sợ Nguyễn
Uông cùng Nguyễn Hoàng tranh quyền với ḿnh, quyết
định ra tay trước và giết Nguyễn Uông.(3)
Nguyễn Hoàng lo ngại Trịnh
Kiểm sẽ kiếm cách hại luôn ḿnh, liền nhờ
chị là Ngọc Bảo xin với Trịnh Kiểm cho ḿnh
vào trấn đóng Thuận Hóa.
Nguyên vào năm 1557 (đinh tỵ), Trịnh Kiểm cử
tướng Phạm Đốc đem quân đánh hai tướng
nhà Mạc là Phạm Quỳnh và Phạm Dao, chiếm Nghệ
An, chận ngang quân nhà Mạc không thể
tiến xuống quấy phá Thuận Hóa và Quảng
2.-
MẪU SỐ TÂM LINH CHUNG VIỆT-CHĂM
Thuận Hóa nguyên là đất
của Champa. Biên giới thiên nhiên Việt-Champa
đầu tiên khi Ngô Quyền xưng vương năm 939
là dăy Hoành Sơn, tức núi Đèo Ngang, nằm giữa Hà
Tĩnh và Quảng B́nh ngày nay. Sau cuộc chiến
năm 1069 (kỷ dậu), biên giới Việt-Champa
được nới rộng xuống sông Thạch Hăn.
Sông nầy đổ ra Cửa Việt ở
Quảng Trị ngày nay. Đến cuộc hôn nhân
năm 1306 giữa Huyền Trân công chúa và vua Champa là Chế
Mân (Jaya Simhavarman IV, trị v́ 1287-1307), nước ta rộng
tới sông Thu Bồn (tại Quảng Nam ngày nay). Biên giới
nới rộng thêm nữa vào năm 1402 dưới đời
nhà Hồ khi vua Chăm là Ba Đích Lại (Indravarman XII, trị
v́ 1401-1441) thất thế, xin tặng Chiêm Động (Nam
Quảng Nam) và Cổ Lũy Động (Quảng Ngăi). Nhà Hồ đổi thành bốn châu Thăng, Hoa,
Tư, Nghĩa. Lúc đó biên giới mới
là đèo B́nh Đê, phía Nam Quảng Ngăi. Năm
canh dần (1470), vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn (trị v́ 1460-1471)
thân hành đem quân thủy bộ đánh úp Hóa Châu. Lê
Thánh Tông (trị v́ 1460-1497) liền quyết định Nam
chinh, chiếm cửa Thị Nại, hạ thành Đồ
Bàn, bắt Trà Toàn năm 1471 (tân tỵ) đưa về Thăng
Long. Nhà vua lấy vùng đất mới chiếm đổi
thành phủ Hoài Nhơn, sáp nhập vào Thăng, Hoa, Tư,
Nghĩa, lập thành Quảng Nam thừa tuyên đạo
(đất đai mở rộng về phương Nam,
vâng mệnh vua để tuyên dương đức hóa). Biên giới là núi Cù Mông nằm giữa tỉnh B́nh
Định và Phú Yên ngày nay.
Như thế, cho đến
khi Nguyễn Hoàng vào
Thời tiền sử, người Việt
và người Chăm vốn cùng chung nền tảng
văn hóa bản điạ Đông Nam Á. Về sau, người
tộc Mông Cổ (Mongolia) ào ạt di dân đến cổ
Việt, rồi cổ Việt bị gần một ngàn
năm bắc thuộc; trong khi người Chăm trải
qua hơn một ngàn năm văn minh Ấn Độ và Hồi
giáo, nên các lớp phủ văn hóa kế tiếp giữa
hai bên Việt Chăm phát sinh nhiều dị biệt. Tuy
nhiên, khi Nguyễn Hoàng vào Nam cuối thế kỷ 16,
người Việt và người Chăm vẫn c̣n giữ
nhiều điểm tương đồng như tín
ngưỡng vật linh (animism, vạn vật có linh hồn),
sản xuất lúa nước (wet field), nền tảng tâm
linh Phật giáo... để từ đó hai dân tộc
có thể sống chung với nhau mà không xảy ra tranh chấp
đẫm máu gây hận thù giữa đôi bên.
a) Tính hữu thần: Giống người Việt, người
Chăm hữu thần và đa thần, tin tưởng ở
những mănh lực siêu nhiên. Nếu người Việt
tin rằng “Trời” là đấng tối cao sắp đặt
mọi việc trên cơi đời, và “thổ thần đất
đai” là những vị thần linh phù
hộ con người trong cuộc sống, th́ người
Chăm có những vị thần gọi là “Dàng”. Đặc biệt họ thờ cúng những vị
vua mà họ đă thần linh hóa. Những đền
tháp Chăm c̣n lưu lại nhiều tấm bia
vinh danh những vị “vua thần” nầy. Trong
số các “dàng” của người Chăm, quan trọng nhất
là nữ thần Pô Yang Inô Nagar, gọi tắt là Pô Nagar.
Người Chăm tin rằng Ngài là Mẹ Đất
Nước, là người đă sáng tạo ra đất đai, cây cối và dạy dân chúng trồng trọt
để sinh sống. Nữ thần Pô Yang Inô Nagar hay Pô
Nagar chẳng những có tên Việt là Thiên Y A Na mà c̣n
được nhiều người Việt tin tưởng
và thờ chung với Thánh mẫu Liễu Hạnh, xuất
hiện vào thế kỷ 16, tại Phủ Giày, huyện Vụ
Bản, Nam Định.
b) Phật giáo:
Cũng giống như người Việt, người
Chăm theo nhiều tôn giáo khác nhau. Trong khi tam giáo của người Việt là Phật
Nho Lăo, th́ tam giáo của người Chăm là Ấn, Phật,
và Hồi giáo. Như thế, giữa người Việt
và người Chăm có một tôn giáo chung
là Phật giáo. Đối với người Việt, Phật
giáo được du nhập rất sớm, có thể vào
đầu Công nguyên, vừa cả đường biển,
vừa cả đường bộ qua ngả Trung
Hoa.(5) Phật giáo là nền tảng tâm linh và tinh thần
tiên khởi của người Việt, trước cả
Nho giáo. Trong những ngày đầu xây dựng thể chế
quốc gia, các triều đại đầu tiên như Ngô
(939-965), Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1010) rất cần
đến các thiền sư v́ các ngài là những người
được đào tạo trong các tu viện, có tŕnh
độ văn hóa cao, giỏi chữ Nho, giúp các triều
đại trong việc giáo dục quần chúng và ngoại
giao với Trung Hoa. Đến thế kỷ 11, vị sáng tổ
nhà Lư (1010-1225) là Lư Công Uẩn, tức vua Lư Thái Tổ (trị
v́ 1010-1028), xuất thân từ chùa làng Cổ Pháp (về sau
là làng Đ́nh Bản, huyện Đông Ngàn, phủ Từ
Sơn, Bắc Ninh). Dưới triều đại
nầy, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, và có thể
xem là quốc giáo lúc bấy giờ.
Về phía người Chăm, năm 875, họ
đă xây dựng một Phật học viện tại kinh
đô của họ là Indrapura (Đồng Dương),(6)
phía Nam Đà Nẵng, gần Tam Kỳ ngày nay. Di tích Phật học viện nầy ngày nay vẫn
c̣n tồn tại. Phật học viện được
xây dựng tại kinh đô Indrapura chứng tỏ rằng
nếu đạo Phật không được xem là quốc
giáo của Champa thời đó, th́ đạo Phật
cũng giữ một vai tṛ quan trọng trong đời sống
tâm linh của quan viên và dân chúng Chăm. Cũng vào thế kỷ
thứ 9, khi Champa bắt hai sứ giả của Đại
Cồ Việt, vua Lê Hoàn (trị v́ 980-1005) đă đem quân
đánh trả đũa năm 982. Trong số chiến lợi
phẩm nhà vua đem về, có một vị thiền sư
Phật giáo gốc người Thiên Trúc.(7)
c) Tinh thần ḥa đồng tôn giáo: Người Việt vốn tôn trọng sự
sống, và sự sống chung giữa
người với trời đất, cũng như giữa
người với người, nên người Việt rất
ḥa đồng tôn giáo. Khi tiếp xúc với
người Chăm, người Việt luôn luôn tôn trọng
tôn giáo của người Chăm, và ngược lại,
người Chăm cũng rất tôn trọng tín ngưỡng
của ngưới Việt. Như thế, trong đời
sống tâm linh, giữa người Việt và người
Chăm có nhiều điểm căn bản khá giống
nhau có thể xem là mẫu số chung cho
cuộc sống của hai dân tộc. Khi vào
3.-
CUỘC HỘI NHẬP TÂM LINH
a) Những truyền thuyết lập quốc:
* Vạn đại
dung thân: Tương truyền rằng khi lo sợ Trịnh
Kiểm hăm hại, Nguyễn Hoàng cho người ra Hải
Dương hỏi ư kiến Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh
Khiêm (1491-1585). Nguyễn Bỉnh Khiêm trả lời ngắn
gọn: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại
dung thân", nghĩa là dăy Hoành Sơn có thể là nơi dung
thân được lâu dài. (Hoành Sơn là núi
Đèo Ngang giữa Hà Tĩnh và Quảng B́nh.)(8) Nguyễn
Hoàng hiểu ư liền nhờ bà chị là Ngọc Bảo
xin với chồng là Trịnh Kiểm cho Nguyễn Hoàng vào
trấn đóng đất Thuận Hóa. Muốn kêu gọi
đồng hương ra đi lập nghiệp tại
vùng đất hoang vu chưa ai biết, th́ câu sấm truyền
“vạn đại dung thân” là lời tuyên truyền mạnh
mẽ thầm kín bảo đảm sự thành công trong
tương lai, khuyến dụ những người lên
đường tin tưởng và hăng hái nhập cuộc.
Không biết câu chuyện lưu truyền nầy do ai là tác
giả? Chỉ biết chắc chắn hai
truyền thuyết dưới đây nếu không từ
Nguyễn Hoàng th́ cũng từ bộ tham mưu của vị
lănh tụ nầy mà ra.
* Nữ thần áo xanh: Khi mới
đến Thuận Hóa năm 1558, Nguyễn Hoàng đặt
dinh ở xă Ái Tử, huyện Vũ Xương, Thuận
Châu (c̣n gọi là Đăng Xương, nay thuộc huyện
Triệu Phong tỉnh Quảng Trị). Năm
1570, kiêm nhiệm đất Quảng
Tương truyền rằng khi Lập Bạo
đến, Nguyễn Hoàng đóng quân bên bờ sông Ái Tử.
Đêm đó, ông nghe từ ḷng sông có tiếng kêu “trao trao”.
Ông khấn rằng: “Thần sông có thiêng th́ giúp ta đánh giặc.”
Khi ngủ, Nguyễn Hoàng mộng thấy một người
đàn bà mặc áo xanh, tay cầm quạt
the, đến cho biết: "Minh công muốn trừ giặc
th́ nên dùng mỹ nhân kế dụ đến băi cát, thiếp
xin giúp sức.” Nguyễn Hoàng hiểu ư mới
sai Ngô thị ra đi. Sau khi thành công, Nguyễn Hoàng hậu
thưởng cho Ngô thị, đem gả cho một viên quan
là Vơ Doăn Trung, và phong thần cho sông Ái Tử là "Trảo
trảo linh thu phổ trạch tướng hựu phu nhân
", cho lập đền thờ.(10)
* Nữ thần áo
đỏ quần xanh: Năm 1593 (quư tỵ), Trịnh
Tùng chiến thắng Mạc Mậu Hợp, đưa
vua Lê Thế Tông (trị v́ 1573 – 1599) về Thăng
Long. Nguyễn Hoàng, lúc đó 68 tuổi, từ Thuận
Quảng ra kinh đô chúc mừng vua Lê. Bị
Trịnh Tùng giữ chân ở lại Thăng Long, Nguyễn
Hoàng âm thầm t́m cách thoát thân. Năm 1600
(canh tư), nhân mượn cớ dẹp loạn Phan Ngạn ở
Trở lại cứ
điạ của ḿnh, Nguyễn Hoàng dời dinh một lần
nữa qua phía đông dinh Ái Tử. Dinh mới nầy gọi
là dinh Cát. (Dinh Cát, dinh Trà Bát, và dinh
Ái Tử đều thuộc Thuận Châu tức Quảng
Trị ngày nay.) Từ nay, quyết chí lập
nghiệp chống lại chúa Trịnh ngoài bắc, Nguyễn
Hoàng bắt đầu chú ư nhiều hơn đến việc
mở mang phương
Cả hai truyền thuyết “Nữ thần
áo xanh” và “Nữ thần áo đỏ quần xanh” đều
nhắm đề cao nhà lănh đạo Nguyễn Hoàng là vị
chân chúa được thần linh bảo trợ, giống
như những truyền thuyết của các vua Chăm
được kể lại trên các bia đá. Thêm nữa, một
câu hỏi đặt ra là tại sao không phải tiên thánh
hay rồng vàng như trong các chuyện truyền kỳ Trung
Hoa, mà lại là thần, và là nữ thần nữa? Rơ ràng
h́nh tượng nữ thần bắt nguồn từ tín
ngưỡng vật linh và tổ chức xă hội mẫu
hệ là nền tảng chung của vùng Đông Nam Á trước
thời Bắc thuộc, tức trước Công nguyên,
đồng thời cũng bắt nguồn từ tín
ngưỡng “Đạo nội” tức đạo lên
đồng, mà hệ phả chư thần Tứ phủ
(bốn cơi) gồm có bà Trời (Cửu thiên thần nữ),
bà Đất (Điạ mẫu), bà Nước (Mẫu thủy
hay Mẫu thoải) và bà Rừng (Bà chúa thượng ngàn).
Ở đây ảnh hưởng có thể theo hai hướng: Hướng thứ nhất,
người Việt vào vùng đất của Champa, bị ảnh
hưởng của tín ngưỡng hoặc cổ tích
Chăm, nên ứng dụng và sáng tạo ra truyền thuyết
mới. Hướng thứ nh́, chính những truyền thuyết
mới được sáng tạo nầy nhắm mục
đích gây ảnh hưởng trở lại đối với
người Chăm, để thuyết phục họ về
theo với chúa Nguyễn, ḥa nhập vào
xă hội Việt. Trong quan niệm thần học về cuộc
sống, người Chăm cho rằng khi người Việt
đến định cư trên vùng đất của họ,
có nghĩa là thần của người Chăm không c̣n linh
nghiệm, mà thần của những người Việt mạnh
hơn, phù hộ cho những người mới đến
chứ không phù hộ cho người Chăm.(11) Do đó, sự
xuất hiện của truyền thuyết bà già áo đỏ
quần xanh trên đỉnh đồi Thiên Mụ đă thần
linh hóa Nguyễn Hoàng trước mắt người
Chăm, làm cho họ tin tưởng rằng nhà lănh đạo
Việt đích thực là người được thần
linh bảo trợ, nếu không phải là những vị
vua-thần giống như những vị vua Chăm trong
truyền sử Champa.
Như thế, những truyền thuyết
trên đây chẳng những nhắm chinh phục người
Việt di dân mà c̣n nhắm lôi cuốn sự cảm phục
tinh thần của cả những người Chăm
điạ phương tại vùng đất mới, mà
Nguyễn Hoàng bắt đầu cố gắng xây dựng
thành một căn cứ vững mạnh để chống
lại chúa Trịnh ở ngoài bắc.
b) Phát huy Phật giáo:
Có hai lư do khiến Nguyễn Hoàng, và các chúa
Nguyễn kế nghiệp, phát huy mạnh mẽ Phật
giáo:
Thứ nhất, từ thời
Lê Thánh Tông (trị v́ 1460-1497), Nho giáo rất thịnh hành
trong xă hội Đại Việt. Nho giáo là một triết thuyết chính trị
làm nền tảng cho chế độ quân chủ, trong
đó khái niệm “trung quân” (trung với vua) là thang giá trị
căn bản cho tất cả những hành động của
con người.(12) Trong khi đó, dầu không chống vua
Lê, nhưng Nguyễn Hoàng và con cháu muốn tách ra khỏi quyền
lực của chúa Trịnh. Chúa Trịnh lại không lật
đổ nhà Lê, mà dùng vua Lê làm b́nh phong bù nh́n để thao
túng quyền lực, nên khi chúa Nguyễn chống chúa Trịnh,
c̣n có nghĩa là ở thế chẳng đặng đừng
phải chống luôn vua Lê. Một khi đă quyết
định chống chúa Trịnh và vua Lê, th́ chúa Nguyễn
không thể nói chuyện “trung quân”, nghĩa là không thể sử
dụng Nho giáo làm nền tảng tinh thần cho xă hội
Đàng Trong (ngày nay gọi là ư thức hệ Nho giáo). Do
đó, chúa Nguyễn phải thay thế nền tảng Nho
giáo bằng nền tảng tinh thần Phật giáo.
Thứ nh́, so sánh các tôn giáo chính của
người Việt lúc đó (Phật, Nho, Lăo) và người
Chăm (Phật, Ấn, Hồi) th́ rơ ràng hai bên có một
tôn giáo chung là Phật giáo, dầu mỗi bên chịu ảnh
hưởng của mỗi con đường truyền bá
khác nhau,(13) với những biến thái
khác nhau, nhưng cốt lơi vẫn là đạo Phật.
Chúa Nguyễn cho xây dựng chùa chiền khắp nơi, nhiều
nhất là ở Phú Xuân, Hóa Châu. Đặc biệt, để
khuyến khích Phật giáo, chúa Nguyễn cho phép các tu sĩ
Phật giáo, nếu có quan điệp (giấy chứng nhận
do chính quyền cấp) th́ được miễn thuế
sai dư (loại thuế mỗi dân đinh phải nạp
ngoài sưu dịch, tức thuế thân) và cả các thứ
thuế khác.(14)
Khi phát triển Phật giáo, chẳng những
các chúa Nguyễn chỉ xây dựng nền tảng tâm linh
cho lưu dân Việt, mà c̣n hướng dẫn đời sống
tôn giáo của người Chăm theo cùng chiều hướng
với người Việt, mà người Chăm có thể
chấp nhận được và không phản đối,
v́ Phật giáo không xa lạ ǵ với người Chăm.
Phật giáo đă có mặt lâu đời ở Champa,
cũng như Champa đă từng có một Phật học
viện nổi tiếng là Đồng Dương (Indrapura)
ở vùng Quảng Nam ngày nay. Con của Nguyễn Hoàng là Nguyễn
Phúc Nguyên (cầm quyền ở Đàng Trong 1613-1635)
được gọi là Săi Vương (Săi = sư) v́ ăn bận như một tu sĩ Phật
giáo. Chữ “Săi Vương” đầy dụng
ư, v́ Săi Vương vừa là vua về chính trị và
cũng là vua về tôn giáo.
Một vị chúa khác, Minh
Vương Nguyễn Phúc Chu (cầm quyền ở Đàng
Trong 1691-1725), trùng tu chùa Thiên Mụ hay Thiên Mẫu (Mẹ trời)
một lần nữa năm 1714. Trong dịp nầy, Minh Vương đă viết
một bài minh khắc trên bia đặt
trước tháp Phước Duyên trong chùa, có đoạn viết:
“Cầu mong Phật chứng giám cho ḷng thành của Trẫm
để phù hộ cho khắp mọi miền vương
quốc”. Nhà chúa đă kết thúc bài minh nầy bằng
bốn câu thơ:
“Phía
Ánh mặt trời làm tăng vẻ lộng
lẫy của ngôi chùa
Phật t́m nơi yên tĩnh giữa tiếng
suối róc rách
Đất nước thái b́nh người
dân yên vui.”(15)
c) Bảo vệ đền đài
tín ngưỡng người Chăm và người Chân Lạp: Từ sau trận đánh năm 1471 dưới
thời Lê Thánh Tông (trị v́ 1460-1497), xứ Đàng Trong trải
dài đến B́nh Định, phía bắc đèo Cù Mông.
Năm 1611 (tân hợi), được tin người
Chăm quấy phá ở biên giới, Nguyễn Hoàng cử
chủ sự Văn Phong (không biết họ), đem quân
vượt núi Cù Mông, tiến xuống tới núi Đèo Cả,
nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Ḥa ngày nay. Vùng đất mới nầy được lập
thành phủ Phú Yên, gồm hai huyện Tuy Ḥa (phía đông) và
Đồng Xuân (phía tây), sáp nhập vào xứ Quảng
Năm 1653 (quư tỵ) là một niên đại
đáng chú ư v́ vua Chăm là Bà Thấm (Po Nraup, trị v́
1652-1653) sang quấy nhiễu Phú Yên.
Nhân cơ hội nầy, Hiền Vương Nguyễn Phúc
Tần (cầm quyền ở Đàng Trong 1648-1687) cử
Hùng Lộc (không biết họ) làm thống binh, Minh Vũ
(không biết họ) làm tham mưu cùng đem 3.000 quân vượt
núi Đèo Cả, bất ngờ dùng hỏa công tấn công
Bà Thấm. Bà Thấm bỏ trốn.
Quân Việt tiến đến sông Phan Rang tức sông Krong Pha hay sông Đa Nhim. Bà Thấm sai con là Xác Bà Ân đưa thư xin hàng. Hùng Lộc
tŕnh báo lên Hiền Vương. Nhà chúa quyết định
lấy sông Phan Rang làm biên giới. Từ
sông Phan Rang trở vào thuộc Champa, từ sông Phan Rang trở
ra thuộc Đại Việt. Vùng đất
mới được chia làm 2 phủ là Thái Khang (nay là Ninh
Ḥa) và Diên Ninh (nay là Diên Khánh). Phủ Thái Khang (hay Thái
Khương) có hai huyện Quảng Phúc và Tân An;
phủ Diên Ninh có 3 huyện Phúc Điền, Vĩnh
Xương và Hoa Châu; và đặt thêm dinh Thái Khang, giao cho
Hùng Lộc trấn giữ. (Dinh Thái Khang sau
đổi làm dinh B́nh Khang, nay là vùng Khánh Ḥa). (Chú
ư: phủ, huyện là đơn vị hành chánh, dinh hay doanh
là đơn vị quân sự.)
Tháng 8 năm nhâm thân (1692), vua Chăm là Bà
Tranh (Po Saut, trị v́ 1659-1693) tấn công phủ Diên Ninh. Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu
Cảnh (hay Kính, con Nguyễn Hữu Dật) làm thống
binh, Nguyễn Đ́nh Quang làm tham mưu cầm quân đánh
Chiêm Thành. Tháng 3 năm quư dậu (1693), Nguyễn Hữu
Cảnh bắt được Bà Tranh cùng một số viên
thuộc là tả trà viên Kế Bà Tử (Po Saktiraydaputih, em
ruột cuả Bà Tranh), và Nương My Bà Ân, rồi
đưa họ về giam ở núi Ngọc Trản (Ḥn
Chén, Huế ngày nay), hàng tháng cấp lương thực
đủ dùng. Minh Vương lấy phần
đất c̣n lại của Champa lập thành trấn Thuận
Thành.
Tháng 8 (âm lịch) cùng năm (1693), Minh
Vương đổi trấn Thuận Thành thành phủ
B́nh Thuận, cử tả trà viên Kế Bà Tử làm khám lư,
ba người con của Bà Ân làm đô đốc, đề
lĩnh, và cai phủ ăn bận theo y phục người
Việt, cùng lo vỗ về dân Chăm. Champa chỉ c̣n là một
khu vực nhỏ ở B́nh Thuận, dưới sự quản
trị của người Việt. Trong cuộc Nam tiến
do các chúa Nguyễn lănh đạo, người Việt
đến sống chung với người Chăm, nếu
không theo tôn giáo của người Chăm th́ người
Việt rất tôn trọng tín ngưỡng của người
Chăm. Người Việt c̣n bảo vệ và giúp người
Chăm trùng tu các đền tháp của họ. Ví dụ cụ
thể nhất là tháp Pô Nagar tức tháp Bà hay tháp Thiên Y Thánh
Mẫu ở Nha Trang (Khánh Ḥa). Tháp nầy đă bị
tàn phá bởi người Java năm 774, người Chân Lạp
năm 945, và người Chân Lạp một lần nữa
vào cuối thế kỷ 12,(16) nhưng từ
năm 1653, khi Hùng Lộc vâng lệnh Hiền Vương
chiếm vùng nầy cho đến nay, tháp Bà chẳng những
được giữ ǵn an toàn mà c̣n được trùng tu
lại nữa. Phan Thanh Giản (1796-1867), thượng
thư bộ Lễ triều vua Tự Đức (trị
v́ 1848-1883), đă thâu thập những truyền thuyết
điạ phương ghi lại trong tấm bia mà ông cho dựng
ở đây vào năm Tự Đức thứ 9 (1856).
Ngay cả khi bị bắt đưa về
giam tại núi Ngọc Trản (gần thành phố Huế
ngày nay) năm 1693, vua Chăm là Bà Tranh vẫn được
tự do xây dựng điện thờ đấng Thiên Y
[bà Trời] A Na, vị nữ thần chánh của người
Chăm. Điện thờ nầy, tức điện Ngọc
Trản hay điện Ḥn Chén, cho đến nay vẫn tồn
tại, và hằng năm người Việt đến
chiêm bái rất đông. Trước đây, hàng năm, vào
ngày rằm (ngày 15) tháng 7 âm lịch, tại Thừa Thiên (Huế)
cũng như một số điạ phương ở
miền Trung, có đám rước Thiên tiên Thánh mẫu của
những người tin theo đạo “Lên đồng” mà
ai cũng biết trung tâm chính là điện Ḥn Chén, Huế.
Chủ trương của chúa Nguyễn tôn
trọng tín ngưỡng người Chăm và người
Chân Lạp chẳng những phù hợp với tinh thần
của người Việt là sống cùng với người
khác và để người khác cùng sống với ḿnh, mà
c̣n làm cho người Chăm và người Chân Lạp cảm
phục và không thù ghét người Việt. Họ an tâm sinh
sống dưới chính quyền Đại Việt mà không
xảy ra những cuộc tranh chấp tôn giáo, mà ai cũng
biết các cuộc tranh chấp tôn giáo dễ tạo ra hố
sâu chia rẽ, c̣n nặng nề hơn cả vấn đề
chủng tộc.
KẾT LUẬN
Trong cuộc
Cho đến nay, thỉnh thoảng xuất
hiện vài áng thơ nhạc mang tính lăng mạn sử thi,
mơ về một thuở vàng son Chiêm quốc, với những
anh hùng vang bóng như Chế Bồng Nga, hoặc những
vũ công xinh tươi dạo khúc nghê thường trên các
phù điêu của các di tích lịch sử, nhưng trong thực
tế, đồng bào Việt gốc Chăm hay gốc Chân
Lạp luôn luôn vui sống và sinh hoạt cùng với các sắc
dân khác trong xă hội mới, mà họ xem đó chính là xă hội
chung trên lănh thổ Việt Nam, chứ không phải của
riêng một sắc dân nào.
Trên nền tảng tâm linh chung của
Đông Nam Á, tôn trọng đời sống, tôn trọng
người khác, tôn trọng ḥa b́nh, nếu các sắc dân
cùng chung sống ở Việt Nam ngày nay mà không vận dụng
di sản của ḿnh để thực hiện cuộc hội
nhập tâm linh, là bài học lớn của lịch sử,
th́ chắc chắn sẽ bị các thế lực bên ngoài lợi
dụng để thúc đẩy xâu xé nhau, sẽ trở
thành nạn tranh chấp qua phân như gương các nước
Yugoslavia cũ hay Trung đông bây giờ, sẽ dẫn tới
chiến tranh tôn giáo và chiến tranh diệt chủng.
TRẦN GIA PHỤNG
* CHÚ THÍCH:
Thanh Hoa: Thanh Hóa vốn tên là Thanh Hoa. Khi vua
Thiệu Trị lên làm vua năm 1840, Thiệu Trị (trị
v́ 1840-1847) ra lịnh kỵ húy chữ “Hoa”, v́ mẹ của
nhà vua tên là Hồ Thị Hoa, từ trần khi ông mới
sinh (1807). Do đó, tất cả từ ngữ mang tên
“Hoa” đều phải đổi ra chữ chữ
khác. Ví dụ: Mộ Hoa (Quảng Ngăi) đổi thành Mộ
Đức, Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa.
Sầm Châu nằm ở tây Nam Thanh Hóa, giữa
nước ta với Ai Lao. Năm 1827, nước Ai Lao bị quân
Xiêm La (Thái Lan) đánh phá, Sầm Châu xin
phụ thuộc nước ta, được đổi
thành huyện Sầm Nưa (hay Sầm Nứa), thuộc tỉnh
Thanh Hóa.
Trong sách Theo ḍng lịch sử, Nxb Văn Hóa,
Hà Nội, 1996, trang 99, khi viết về "Làng Bùng - Trạng
Bùng", tác giả Trần Quốc Vượng viết:
"... Ai cũng biết Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan
đă bỏ đất Mạc mà vào xứ Thanh theo Lê - Trịnh
(Khoảng cuối năm 1553-1554), lại hết ḷng giúp rập
cho Trịnh Kiểm là người chuyên quyền, giết bố
vợ là Nguyễn Kim - là người nâng đỡ Trịnh
Kiểm lên hàng đại thần (đây là theo tài liệu
của giáo sĩ đương thời có mặt ở xứ
Thanh, c̣n Trịnh Kiểm vẫn tung tin là Nguyễn Kim bị
hàng tướng nhà Mạc đầu độc chết).
Sau đó Trịnh Kiểm lại giết con trai đầu
của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và mưu sĩ Nguyễn
Hưng Long cũng khuyên ông ta giết luôn Nguyễn
Hoàng..." Như thế, ông Trần Quốc Vượng
khẳng định rằng Trịnh Kiểm giết Nguyễn
Kim, nhưng ông chỉ nói "là theo tài liệu
của giáo sĩ đương thời có mặt ở xứ
Thanh". [Câu in đậm do người viết.]
Cách viết của tác giả Trần Quốc Vượng
mơ hồ, không trưng ra bằng chứng cụ thể
là giáo sĩ nào, ở đâu, viết dưới dạng
bút kư hay dạng thư từ, và viết trong thời gian
nào? Theo Cương mục, bản dịch tr. 1514,
năm 1533 giáo sĩ I-nê-khu (Ignatio) đi đường bể
vào giảng đạo Thiên Chúa ở các làng Ninh Cường,
làng Quần-Anh thuộc huyện Nam Chân (hay Nam Trực), và
làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy. (Quốc
Sử Quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử
thông giám cương mục, viết tắt Cương mục,
Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, bản dịch tập 2, tr.
301 (lời chua).) Theo Nguyễn Hồng, năm 1549
giáo sĩ François Xavier (Ḍng Tên) đáp tàu từ Goa (Ấn
Độ) sang Nhật Bản, phải ghé vào Đại Việt
hai lần để tránh băo: lần thứ nhất ở bờ
biển Quảng Nam, lần thứ nh́ phải vào cửa Bạng
ở Thanh Hóa ngày 22-7-1549 đời Lê Trung Tông (trị v́ 1548-1556).
(Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền
giáo ở Việt Nam, quyển 1, Sài G̣n: Nxb. Hiện Tại,
1959, tr. 21). Chưa thấy có một tài liệu
nào của một trong trong hai giáo sĩ trên đây về mối
quan hệ giữa Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm,
được để lại. Ngoài ra, lúc bấy giờ
việc truyền đạo Thiên Chúa bị cấm đoán,
các giáo sĩ tây phương chỉ hoạt động lén
lút, và không ở lại lâu trong nước ta, họ chỉ
có thể nghe kể lại nên khó có thể xác thực
được. Theo Trương Vĩnh Kư, giáo sĩ
đến giảng đạo đầu tiên ở Đàng
Trong là một người Tây Ban Nha tên Diego Adverte năm 1596
rồi bỏ đi. (Dương Quảng Hàm,
Việt Nam văn học sử yếu, Sài G̣n: Sống Mới,
1968, tr. 189). Một sự kiện sáng tỏ không
bàn căi là Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Nhưng không thể từ sự kiện Trịnh
Kiểm giết Nguyễn Uông mà suy diễn ra là Trịnh Kiểm
đă đă hại Nguyễn Kim. Cương mục,
bộ chính sử của triều đ́nh nhà Nguyễn ghi rơ
chi tiết Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông
(Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tr.
137), nhưng ngược lại Cương mục chỉ
tŕnh bày vụ Nguyễn Kim như đă trích dẫn trên
đây. Ngoài ra, nếu quả thật Trịnh Kiểm
giết Nguyễn Kim th́ anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng
đă kiếm cách pḥng thân và đă bỏ trốn rất sớm,
không đến nỗi Nguyễn Uông phải bị chết
sau đó. Khi Nguyễn Kim từ trần năm 1545, Nguyễn
Hoàng đă 20 tuổi, chắc chắn ông đủ trí khôn
để biết ai là thủ phạm trong cái chết của
Nguyễn Kim, và kể lại cho con cháu về sau. Bên cạnh
Nguyễn Hoàng c̣n có Nguyễn Ư Kỷ, em vợ Nguyễn
Kim và cậu ruột của Nguyễn Hoàng, rất trung thành
với gia đ́nh Nguyễn Ḥang. Nếu trong gia đ́nh
có ǵ nghi ngờ th́ bộ Cương mục hay bộ Đại
H́nh luật thời Lê Thái Tổ (trị v́
1428-1433) được chia ra các tội: xuy (đánh roi),
trượng (đánh gậy), đồ (làm tạp dịch),
lưu (đi đày), tư (giết). Mỗi
tội chia thành nhiều bậc khác nhau. Riêng tội
lưu chia thành 3 bậc: lưu cận châu (đày đi châu
gần, tới Nghệ An), lưu viễn
châu (đày đi châu xa tới Bố Chánh), và lưu ngoại
châu (đày đi châu ngoài biên giới, tới Tân B́nh, Thuận
Hóa).
Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt
Nam, tập 1, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1999, tr. 11-13.
Đồng Dương là một vùng đồng
ruộng bằng phảng nằm cách Đà Nẵng 53 cây số
về phía Nam, và cách quốc lộ 10 cây số về phía
tây (phía núi). Nhiều tài liệu
cũ cho rằng Đồng Dương một thời
gian là kinh thành Indrapura của người Chiêm.
Toàn bộ kiến trúc nằm trong một khu vực theo chiều
đông tây 300 mét, và theo chiều bắc Nam 150 mét, chia thành ba
lớp kiến trúc từ ngoài cửa đông vào. Dựa
vào tấm bia phát hiện tại đây, người ta
được biết rằng đền tháp Đồng
Dương được đặt tên là Laksmindra
Lokesvara, do vua Indravarman II xây dựng năm 875 để thờ
Dharma (Phật pháp), v́ vậy Đồng Dương
được xem là một Phật học viện
Chăm. Indravarman II là vương hiệu.
Tên thật của vua là Laksmindra Bhumisvara.
Nhà vua c̣n có tên thụy là Paramabuddhaloka.
Các đại danh từ nầy cho thấy sự hiện
diện của hai vị thần Bà La Môn giáo (Indra, Laksmi) và
hai vị "thần" của Phật giáo (Buddha,
Lokesvara). Đây là hiện tượng chuyển biến
từ Bà La Môn giáo sang Phật giáo ở bên ngoài Ấn Độ.
Ngoài minh văn trên, các tượng Phật và Bồ tát bằng
sa thạch và bằng đồng phát hiện tại đây
cho thấy Đồng Dương đúng là một Phật
đường của các vua Chăm. Tổng thể kiến
trúc nầy gồm một Phật đường chính lớn,
chung quanh có những đền nhỏ thờ các vua Chăm
đă hiển thánh, các tăng viện, các bảo tháp.
Các đền tháp ở đây bị hư hại nặng
v́ thời tiết, thiên tai và chiến
tranh. Năm 1978, tại đây, người ta phát hiện
một pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 1,14 mét, với đôi mắt long lanh bằng
ngọc trên gương mặt phúc hậu. Đây là một di chỉ nguyên bản rất quư
hiếm.
Đại Việt sử kư toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch
của Nxb. Khoa học Xă hội, 1998, tập 1, tr. 222.
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược,
Sài G̣n: Nxb Tân Việt, in lần thư 7,
1964, tr. 287.
Năm 1570 (canh ngọ), Trịnh Kiểm từ
trần. Lê Anh Tông cử Trịnh Cối
lên thay, thống lĩnh các quân doanh thuỷ bộ. Em cuả Trịnh Cối là Trịnh Tùng không phục,
kiếm cách tranh quyền cùng anh. Trịnh
Tùng đưa vua Lê vào phía trong cửa ải Vạn Lại.
Trịnh Cối đem quân đến đánh
nhiều lần nhưng không được. Liệu
thế không chống nổi Trịnh Tùng, Trịnh Cối
đầu hàng nhà Mạc trong cùng năm. Vua Lê Anh Tông
phong Trịnh Tùng, lúc đó 21 tuổi (tuổi ta) làm Tả
thừa tướng tiết chế chư
quân để đánh nhà Mạc.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam thực lục, [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch
cuả Nxb. Giáo Dục, 2002, tập 1, tt. 30-31,
35. Sông Ái Tử là một nhánh của sông
Thạch Hăn.
Ư kiến của tiến sĩ Po Dharma, gốc
người Chăm, chuyên viên về Champa làm việc tại
Trường Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) trong cuộc gặp
gỡ với người viết tại Toronto ngày
13-12-1999.
Một câu nói nổi tiếng về tính trung
quân thời quân chủ là: “Quân sử thần tử, thần
bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử
bất vong bất hiếu.”(Nghĩa là: Vua bảo bề tôi
chết, bề tôi không chết là không trung; cha bảo con chết,
con không chết là không hiếu.) Câu nầy
thường được gán cho là giáo điều Nho
giáo. Thật ra câu nầy là của
thái tử Phù Tô. Nguyên khi Tần Thủy Hoàng (trị
v́ 221-210 TCN) từ trần năm 210 TCN, thừa tướng
Lư Tư và hoạn quan Triệu Cao làm chiếu giả, buộc
thái tử Phù Tô, con trai đầu của Tần Thủy
Hoàng tự tử. Lúc đó, Phù Tô đang
phụ trách công việc xây dựng Vạn lư trường
thành. Khi chiếu chỉ đến, có người
can ngăn Phù Tô, nói rằng coi chừng chiếu chỉ giả,
Phù Tô trả lời: “Quân sử thần tử, thần bất
tử bất trung; phụ sử tử vong, tử bất
vong bất hiếu”, rồi tự tử theo
chiếu chỉ giả mà ông nghĩ là thật. [Phù Tô vừa là con, vừa là bề tôi của Tần
Thủy Hoàng]. Về phần Lư Tư và Triệu Cao, hai
ông lập người con thứ của Tần Thủy
Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi, tức Tần Nhị Thế
(trị v́ 209-207). Triệu Cao gièm pha
Lư Tư nên Nhị Thế giết Lư Tư. Triệu Cao
lên làm tể tướng giết Nhị Thế, lập Tử
Anh là con của thái tử Phù Tô lên làm vua tức Tần Tam
Thế (trị v́ 206-203). Tần Tam Thế
lại giết Triệu Cao. Tần Tam Thế
đầu hàng khi Lưu Bang đánh hạ Trường An (Thiểm Tây) năm 203 TCN.
Đạo Phật xuất phát từ Nepal, một
nước nhỏ phía bắc bán đảo Ấn Độ,
truyền về phía đông bằng hai hướng: một
hướng đi về phía bắc, qua Trung Hoa, đến
Đại Việt, và một hướng xuống phía Nam,
qua các nước Đông Nam Á, vào Champa và Đại Việt
bằng đường biển. Đối với Đại
Việt, hướng nầy không mạnh bằng
hương từ Trung Hoa.
Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong [Sài G̣n],