|
|
||
|
QUỶ XƯỚNG
VĂN
Hà Thúc
Sinh
Mới
đây anh về Việt Nam một chuyến, về thăm
cha già ốm đau và cải táng phần mộ mẹ anh.
Cha anh ở Sài Gòn và mộ mẹ anh còn ngoài Thanh Hoá. Hơn
bốn mươi năm mộ vẫn còn. Lạ? Không đâu,
ấy là nhờ trong khối nhân dân bần cố còn sót
một số trình độ tiếp thu tư tưởng
cách mạng kém cỏi, nhồi cách mấy vẫn không thông
chính sách cào bằng lấp sạch.
Anh
mặc tang phục, mua hương nến, các thứ
cần thiết thuê thợ cải táng. Áo quan mẹ anh xưa
bằng gỗ vàng tâm, bền như sừng, thế mà khi
mở xương khúc còn khúc mất. Anh nhìn xuống mộ
huyệt khóc cười tuỳ lúc. Anh Mới, người
kéo xe tay cho mẹ anh xưa, giờ đã là ông cụ hom hem
ngoài bảy mươi, ngạc nhiên hỏi vào tai anh:
"Cậu
khóc hay cười đấy?"
Anh
nhìn kín nhiều người lạ mặt, đáp khẽ:
"Cả
hai. Phải thích nghi hoàn cảnh."
Anh
Mới hiểu, giọng gần với sự biếm
nhẽ:
"Ngoài
quy hoạch hết rồi. Cả nước đã tự
do khóc, cậu khóc tí nữa không sao."
Thế
là anh khóc, khóc to hơn cả ngày thơ ấu lúc mẹ anh
mất.
Cải
táng xong anh rời khách sạn, ôm lư sành nhỏ đựng
cốt mẹ về Thọ Xuân, chỗ anh ra đời và
chỗ sống của anh Mới hiện tại. Nghỉ
thêm ít bữa, anh Mới hỏi có muốn quay lại
thị xã thăm thú cơ ngơi cũ của gia đình
ở phố nhà Chung không, có muốn về nhìn lại quê hương
tổ tiên ở Ba Làng huyện Tĩnh Gia không? Anh Mới dù
gì vẫn là nhân dân. Còn anh con cháu giai cấp nợ máu. Nhân
dân khiến sao anh làm vậy. Và quả đúng như
lời anh Mới nói: "Cả nước đã có tự
do khóc." Bà con anh khóc lu bù.
Anh
tính đáp xe lửa về lại Sài Gòn rồi từ đó
trở sang Mỹ, nhưng anh Mới bảo chẳng
biết bao giờ gặp lại, nên vào Nghệ một
chuyến. Ở Nghệ anh Mới biết gia tộc anh còn
nhiều chi họ nội ngoại. Suốt mấy mươi
năm chuyên chính vô sản, thứ tình cảm tư sản độc
hại lây từ gia tộc anh anh Mới chữa không
dứt, vì thế vẫn lén lút duy trì mối liên hệ linh
tinh với họ hàng chủ cũ -- những kẻ bị
lịch sử vô sản tiêu diệt lốm đốm.
Anh
Mới mua vé xe đem anh xuống Nghệ, dặn cứ y
cách ở Thanh mà khu xử. Nhờ ơn bác đảng không
còn là khẩu hiệu trí trá phổ thông với nhau nữa,
giờ cứ nhờ ơn phong bao trong có ít tờ xanh xanh
là nhất. Đó mới là tình nghĩa quốc tế keo sơn
thứ thiệt.
Rời
Thanh như rời một giấc mơ. Xuống Nghệ
như đi vào giấc mơ khác. Anh cố nhẫn
nhịn để câu thơ "Đường vô xứ
Nghệ loanh quanh, non xanh nước biếc như tranh
họa đồ" hướng dẫn thế mà không
xong. Rừng thì phá, núi thì khoét, đường thì ổ gà;
nói tóm lam nham như bức dư đồ rách. Cuối cùng
anh tóm được trong anh cảm giác trung thực hơn
cả: Chân không chấm đất, đầu không chạm
trời, thần trí không chạm người. Anh thấy như
anh đang phiêu diêu vào một cõi âm. Chỉ khi ôm sát vào lòng
chiếc lư sành nhỏ đựng cốt mẹ anh, anh
mới bừng tỉnh nhớ mình còn ở cõi dương.
Nhưng điêu tàn đổ nát cũng có cái thẩm mỹ
riêng của nó, vì thế cứ tức cảnh sinh tình anh đều
đề trong óc một đoạn tứ tuyệt. Nhưng
lạ, khuya đó ở nhà người cô họ, lấy
giấy bút tính ghi lại thì đầu trắng bóc.
Buổi
tối sau cơm nước, khi anh Mới đã ngáy như
hùm anh mới hỏi han cô anh nhiều cố sự. Cô không
nhớ gì nhiều, mà có thì lộn xộn lắm; đôi khi
anh còn phải kín đáo điều chỉnh vài chuyện
vụn ngay trong gia tộc, dù ngày còn bé anh chỉ nghe lóm.
"Vậy
thì cháu nhắc nữa đi cho cô nhớ với," cô xúc động
bảo. "Dĩ vãng chốn này tựa thú hiếm cháu
ạ, nhiều thứ tuyệt chủng từ lâu, phiêu lưu
vào nó thế nào cũng lộn mộng ra thực thực ra
mộng."
Đêm
ấy trên chiếc chõng tre anh băn khoăn quá. Hay đây đúng
là nơi người ta dị nghị vùng đất ít người
nhiều ma? Cô là con nuôi ông chú -- em ruột ông nội anh. Xưa
ông chú anh giàu. Cha anh từng kể thời tiêu thổ kháng
chiến Việt Minh phải đặt vè mà phá nhà ở
Vinh: "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Hoan hô bộ đội
phá nhà MT." Di sản ấy sót lại nơi đây là ít
người như cô, một bà già ngoài sáu mươi
ốm yếu, không chồng con, lam lũ như một bà
nhà quê. Quyền làm người của cô là được
sống sót. Nhưng giờ có vẻ cô sống thoải mái
hơn. Nói kiểu biện chứng sự thoải mái
ấy là nhờ cách mạng vừa thực hiện thành
công cuộc đổi đời mới nhất và sau cùng
nhất. Từ đổi mới, giai cấp vô sản --
kẻ cựu thù với giai cấp dưỡng phụ cô
-- đã lặng lẽ hè nhau chạy túa theo con đường
mưu cầu tư sản từ hồi nào, do đó
chẳng ai còn rảnh rang, còn tai mắt đâu mà nhòm
nhỏ dao thớt nhà cô, suy bì với lối sống
"bóc lột" của gia tộc dưỡng phụ cô
dù nó đã được mai táng từ nửa thế
kỷ trước. Cô nghiễm nhiên trám chỗ hoàn toàn và
triệt để khoảng trống vô sản bao la nhân dân
vừa bỏ lại. Phần già chậm chân, phần kinh
cung chi điểu, cô đành tận tụy với giai
cấp mới nhưng vừa cũ mà xưa cô chỉ là
kẻ tân tòng. Trong mắt anh, cô có nhiều triển
vọng sẽ mang vinh dự người gác dan sau cùng trao
chìa khoá thiên đường cộng sản cho một
thế lực mới nào đó đến tiếp thu
một ngày không xa.
Một
hai ngày đầu anh nuốt không vào miếng cơm độn
đã nhiều chục năm trở thành xa lạ. Anh
dấm dúi phong bao cho cô, khá, thế mà quanh đi quẩn
lại vẫn cơm độn với canh đủ xanh
nấu cá trỏng khô, bữa nào dôi lắm có thêm tí
trứng rán. Anh hiểu và thương. Thượng đế
sinh con người có kèm một ân huệ phụ: Thói
tập thành huyền diệu. Cách khác, mù mãi thân được
bóng tối.
Nhà
cô nằm bên bờ sông Lam có núi Thành không xa nhìn xuống. Căn
nhà lá vách đất mới đây rùng mình biến thành căn
nhà ngói vách ván. Nhờ phép lạ kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa? Cả
nước để sống bắt chước nhau
dối trá như cuội, riêng về sự khá giả
lại thật như đếm. Cô siêu nhân sao mà dám đi
ngược xu hướng thời đại. Cái khoản
nhà ngói cây mít cô thú nhận họ hàng từ nước ngoài
gửi tiền về giúp.
Một
lần cúi vo gạo bờ ao, thấy một lão già thoáng
qua, cô có vẻ thất sắc, vòng tay kéo ngay vạt áo lưng
xuống. Trông dáng dấp một bà cụ ngoài sáu mươi
làm trò thiếu nữ anh có ngạc nhiên hỏi:
"Ai
thế?"
Cô
không đáp, thầm thì:
"Lạ,
sao dạo này lão về hoài."
Rồi
cô quày quã mang rá gạo vào nhà, cài then cửa trước,
không hé môi gì thêm.
Trưa
sau anh lại thấy lão. Lúc ấy lão ngồi thả câu bên
cái ao cá có tấm biển đề "Ao cá bác Hồ."
Thấy lão trầm ngâm, râu ria đạo mạo anh tò mò lân
la làm quen. Nhờ cái cần câu làm vội anh nhanh chóng được
lão chấp nhận bạn câu. Lão phá đi sự câm
lặng như cái cối xay dưới lòng ao để trò
chuyện với anh. Lão mặc bộ quần áo nâu
xuềnh xoàng nhiều túi, chân vẫn dép râu đầu
vẫn nón cối. Dù sao nhìn chung lão có tí cốt cách, duy
giọng đục, xa; sự đục và xa ngang với
dĩ vãng của anh, một dĩ vãng dài hơn bốn mươi
năm mới lại được về chỗ cũ
ngồi dưới một gốc sung thả câu bâng quơ
thế này. Nhìn những con nhện nước chạy ngang
dọc trên mặt ao anh rùng mình. Thốt nhiên anh nhớ
lại những nẻo đường anh từng chạy
ngang dọc trên đất nước, trên mặt địa
cầu.
Anh
bắt chuyện trước:
"Đây
ra sông mấy bước sao cụ câu ao?"
"Tuổi
già nhìn nước trôi như nhìn thời gian, chóng mặt
lắm."
"Ao
có cá chứ cụ?"
"Đất
nước ta rừng vàng biển bạc, cá thịt
xuất khẩu không hết, câu cho vui, miếng ăn nào
phải vấn đề."
Anh
nghĩ thầm có lẽ lão là một cấp ủy chi đó
đã hưu. Mà thế thì thôi. Xảo trá ăn vào xương
một lão già chỉ thần chết cạo được.
Anh tiếp tục, "Cụ bà và các anh các chị ở
quanh đây cả chứ?"
Lão
lạnh lùng:
"Cụ
bà thì không còn con cháu rải rác đếm chi xuể. Vả
ai đi làm cách mạng cũng thê tróc tử phược
cậu nghĩ đem đất nước đến được
kết quả thế này?"
Anh
rút thuốc lá mời lão. Điếu thuốc Mỹ
khiến cảm tình một người cách mạng lão thành
dành cho anh nảy nhanh như bèo tấm mùa xuân.
Rít
mấy hơi liền giọng lão có vui, bảo:
"Thơm,
thuốc Mỹ vẫn thơm!"
Thấy
lão già cũng phàm tục như ai, anh nổi máu đùa khá
suồng sã:
"Cụ
vừa bảo không cụ bà lại lắm con cháu là
sao?"
Lão
không đáp ngay câu hỏi mà mông lung kể một câu
chuyện:
"Các
cụ xưa có dạy 'đàn bà ra chợ là vợ đàn
ông.' Mà nhảy vào cách mạng thời chúng tôi khác nào
nhảy vào cái chợ quốc tế. Thôi thì mặc sức.
Thời còn trẻ hoạt động tôi có thằng em song
sinh đa tình, đi đâu vợ đó, sau hai trứng dái,
xin lỗi cậu, lúc chết phát to như trứng dái
dê." Đột ngột lão ta đổi giọng nghiêm
chỉnh, "Cậu nước ngoài về?"
Anh
chột dạ:
"Sao...
cụ biết?"
Ngẫm
nghĩ giây lát, lão thở dài:
"Tôi
chán sự đánh giá người cách mạng của các cậu
lắm. Luôn luôn các cậu tưởng chúng tôi ngu. Không đâu.
Cả một đời đụng và thắng đủ
các thế lực ngoại thù đế quốc thực
dân, thủ tiêu hết các giai cấp nội thù phong kiến
tư sản đảng phái Việt gian phản động,
xin lỗi cậu, tai mắt mũi cách mạng không
nhạy như chó thì nghe sao ra ý đồ xấu xa,
thấy sao ra quyền biến mưu mẹo, ngửi sao ra
vàng bạc châu báu chôn giấu? Phớt qua tôi biết
cậu vừa cạo râu có bôi nước Old Spice; và gói
thuốc của cậu nữa, sự bèo nhèo không tố
giác cung cách kẻ quen thừa mứa hàng tiêu dùng đấy
sao?"
Anh
hơi lợm nhưng chợt hiểu rõ hơn một điều
đã hiểu.
Thấy
lưỡi câu của lão máy động, anh giục:
"Cá
lớn đấy, giật đi cụ!"
Lão
nhìn anh cười khỉnh:
"Mắt
cách mạng không phải mắt dân thường. Máu còn
chả khúc xạ được tia nhìn chúng tôi nữa là
cái mặt nước ao. Cậu muốn tôi bắt một
con giếc nhãi? Này thanh niên, đã cất công giật câu
phải được cá kình!"
Cho
là lão già kiêu ngạo gàn dở, anh toan đứng lên thì lão
ghì anh lại bằng câu hỏi đột ngột, "Bên
Mỹ thế nào? Sau bang giao cậu thấy sao?" Từ
khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất
anh đã tự dặn lòng hai điểm phải tránh: Điều
thứ hai không nói chính trị sau điều thứ
nhất chớ đả động đến họ
Hồ. Bên Mỹ thế nào, bang giao ra sao đều có tính
chính trị. Anh đánh bài lờ. Thấy anh im lặng, lão
liếc, nét tinh quái hiện trong khoé mắt. Một lát lão
trổ giọng phủ du, "Giờ cởi mở.
Với lại vùng này tôi tiên chỉ. Nói với ai cậu
ngại chứ với tôi cứ tự nhiên. Ở đây
tôi toàn quyền ngồi xổm trên mọi chính sách." Anh
không quan tâm lắm đến những lời huênh trộn
cay đắng của đám cán bộ già hết thời.
Về đây chạm hạng này nhiều rồi.
Cố
tỏ ra chút ngạc nhiên, anh hỏi:
"Thời
xã hội chủ nghĩa làng xã cũng có tiên chỉ nữa
sao?"
Lão
cười:
"Hỏi
bà gì ấy nhỉ, bà cô của cậu ấy khắc
rõ."
Lão
kéo câu gắn mồi mới. Anh lẩm bẩm, "Thế
ra bình mới rượu cũ, vẫn tiên chỉ thứ
chỉ!" Lão nghe lọt, nhìn anh như thương
hại cho một con câu non, giải thích với giọng khá
chân thành, "Làm cách mạng là để đạt được
những cái xấu, cái tiêu cực thơm phức của
giới cai trị mà khi chưa cướp được
chính quyền người cách mạng thèm, xin lỗi
cậu, như chó thèm xia, hà tất chỉ tí đầu
lợn làng xã."
Cảnh
giác ban đầu mất biến, anh nổi tò mò:
"Hoá
ra cứu cánh là tư lợi phương tiện là cách
mạng?"
Lão
vung tay. Sợi dây bắn ra giữa mặt ao. Lão hỉnh
mũi:
"Cậu
đọc Hàn Phi, đọc Marchiavelli đấy chứ?
Những liên hệ hữu cơ giữa người
với người, giữa cai trị với bị
trị đều vì tư lợi tuốt luốt. Ông tiên
chỉ gắn với làng xã để hưởng cái đầu
lợn, cách mạng gắn với nhân dân để hưởng
sự toàn quyền ban phát những cái đầu lợn
thừa mứa. Ấy là nói kiểu biểu tượng đấy
thôi. Mà cậu xem. Con cá dưới ao tù còn phát triển,
quyền lực lãnh đạo nửa thế kỷ qua
cậu tưởng bị còi? Mồ hôi nước mắt
nhân dân vô ích? Nảy nở không lường được
nữa cao rộng không đo được nữa cậu
ạ."
"Thụy
kỳ chung..."
"Hà
hà... thì thế. Đã gần đất xa trời quanh co
với trẻ làm gì. Nói trắng với cậu chúng tôi phát động
cách mạng là để lập lại chu kỳ lịch
sử bằng cách tinh vi và khoa học hơn, có thế
mới tồn tại, mới muôn năm trường
trị được. Cậu vừa chê chúng tôi phong
kiến? Trở lại phong kiến và biến phong kiến
thành siêu đã từ lâu lắm."
Anh
ngẫm nghĩ giây lát, hỏi dè chừng:
"Không
nên không phải cụ bỏ qua cho, tôi nhớ Saint-Just có nói
'chẳng ai cai trị mà không phạm tội ác.'"
Như
một người thừa thông minh vặt, lão già cười
hệch lên:
"Lời
thú tội của một tên ấu trĩ! Lão luyện
phải nói thế này, chẳng ai cai trị giỏi mà
phạm tội ác."
"Tôi...."
"Đáng
thông cảm. Trình độ cậu chưa hiểu nổi đâu.
Cứ xem như quá trình cách mạng vô sản nước
ta, đấy cậu thấy, bọn phản động
công phá bao năm rồi thấm tháp gì. Như đồng
chí Văn Cao viết, cách mạng chúng tôi có bao giờ
nhợn chuyện 'uống máu quân thù.' Nhưng ai sẽ là
kẻ bị lên án uống máu, uống từ vụ đấu
tố cải cách ruộng đất, đến vụ
Nhân Văn & Giai Phẩm, vụ xét lại chống đảng,
sau này vụ tù cải tạo, vụ đánh tư sản,
vụ đào mồ bốc mả cả miền Nam lên,
vụ bách hại các tôn giáo, đàn áp trí thức văn
nghệ sĩ, cả vụ bán dân cho cá mập biển Đông
lấy vàng?"
Anh
choáng váng thấy lão phun sự thật trong cung cách lạnh
lùng vô cảm. Tay nhấp nhấp cần câu, miệng lão
vẫn đều đều, "Giá như, tôi nói giá như
thôi đấy nhá, lịch sử làm một cú lộn lèo thì
kẻ lãnh án uống máu là ai? Óc nhân dân sáng tạo phục
vụ Tổ quốc thì bao la nhưng khả năng
nhận diện những kẻ uống máu thì hạn
hẹp lắm. Tôi bảo đảm với cậu nếu
lịch sử tráo trở sẽ khó tránh cảnh 'đầu
đường cổ lính treo cao, cuối đường
cảnh sát dao vào sau lưng.'"
Vô
cớ anh thốt la lên:
"Họ
đâu là thủ phạm, họ thừa hành!"
Lão
già trầm ngâm hẳn. Lão ngước nhìn trời. Thấy
xế bóng lão khoan thai thu lại mớ đồ nghề
câu. Có tiếng chim chích choè loé sau bụi tre. Anh ngửi
thấy mùi cơm độn khoai toả sau mấy cây rơm.
Và mùi canh đủ xanh nấu cá trỏng khô nữa. Anh ngước
nhìn núi Thành xa xa, bất giác thấy giống một mộ
bia cao ngất chạm trời, và rùng mình nhìn dòng Lam như
vừa biến thành dải tang bất tận dưới
màu chiều lạnh.
Lão
già đã sửa soạn đứng lên. Rõ ràng lão không có ý
thân thiện mời một người từ ngoại
quốc về ghé thăm nhà lão. Lão nhấp miếng nước
đựng trong một vỏ bầu khô. Anh ngửi
thấy mùi rượu thơm khá quen thuộc. Nhưng lão
không cho anh thêm thì giờ thám thính trên con người lão. Lão
vuốt bộ râu dài chẳng để gỡ rối mà
hình như vì thói quen. Ngoảnh mặt chỗ khác, lão nói
khẽ, "Vì thế tôi mới hỏi cậu bên Mỹ
lúc này thế nào, sau bang giao ra sao?" Anh lúng túng. Có lẽ đoán
anh tối dạ, lão đội chiếc nón cối
trắng lên đầu, tiếp, "Thường lãnh đạo
thời nào cũng thế cậu ạ, đặc
quyền đầu tiên là không phải trực tiếp xông
pha hòn tên mũi đạn, kế nắm xã tắc trong tay,
kế nữa tội ác chế độ có dê tế
thần, và sau chót giá như con quỷ lịch sử
trở mặt, họ luôn có chỗ dung thân an toàn cho cả
chó mèo. Mà thôi, hỏi cậu vậy thôi, chứ Mỹ
thế nào, sau bang giao ra sao đây thông cả. Giờ
kiếu nhá. Già nó vậy, cơm rượu phải đúng
cữ, muộn chút khó ở ngay."
Lão
lửng thửng vác cần câu bước ra bờ sông Lam.
Anh cũng đứng lên, bần thần, một lát
sực nhớ, hỏi với theo:
"Thế
cụ ở đâu, cụ làm gì sống?"
Lão
như miễn cưỡng dừng lại, nhưng không đáp,
mà hỏi ngược:
"Thế
cậu về làm gì?"
"Dạ
hốt cốt mẹ tôi."
Lão
bật cười thành tiếng:
"Quả
lạc hậu là bệnh di truyền khó chữa. Sao người
ta cứ thích sống với người chết thế
nhỉ! Này nhớ, không phải ai chết cũng đáng
nhắc mãi, nhớ mãi; vinh dự ấy chỉ dành cho các
lãnh tụ anh minh đã được sách sử đóng
mộc thừa nhận sẽ sống mãi trong quần chúng
thôi."
Đã
hiểu "muốn có chủ nghĩa xã hội phải có
con người xã hội chủ nghĩa," mà lão ta không
là một con người xã hội chủ nghĩa thuần
thành đó sao, anh thấy hề nếu biến đạo
lý thành chuyện tranh luận, nên bấm bụng lập
lại câu hỏi cũ:
"Thế
cụ ở gần đây chứ?"
"Bảo
gần không phải bảo xa cũng không đúng. Mà cậu
hỏi làm gì?"
"Tôi
còn ở đây ít ngày, muốn đến... chơi
cụ."
Lão
không giấu nổi nét nghi ngại, cười nhạt,
giọng khá bí hiểm:
"Đảng
đứng trên đứng ngoài chứ không đứng
kề đứng giữa nhân dân bao giờ. Xáp gần là
cách dẫn đến hoạ tru di tam tộc nhanh nhất.
Tôi mong cậu hiểu cho châm ngôn bất di dịch của
người làm cách mạng vô sản chuyên chính nhà nghề
như chúng tôi, cho dù tôi đã hưu từ lâu lắm."
"Vâng,
nhưng ít nhất..."
Như
đoán ra câu hỏi, lão nói luôn:
"Hỏi
cô của cậu ắt biết. Hàng năm tôi vẫn
về Nam Đàn nghỉ mát. Gần đây thôi. Ném lẵng
hoa cũng tới."
Rồi
lão gãi tai xin anh thêm điếu thuốc, bảo ban trưa đãng
trí bỏ quên gói thuốc ở nhà. Anh đưa hết gói
thuốc Mỹ còn sót dăm điếu cho lão, ý cũng
ngầm xem kỹ nét mặt lão lần nữa trước
lúc lão ra đi. Nhưng như biết ý đồ anh, lão
lẩn tránh bằng cách cúi đầu châm thuốc, nhả
khói mờ cả mặt, thản nhiên quay gót.
Những
ngọn cau ngọn dừa xô dạt. Mùi sông nước đồng
áng khi không tanh tanh lẫn với mùi lịch sử khi không
cũng tanh tanh. Anh đứng bất động nhìn theo
lão già khuất sau một bụi tre gai. Một dải
nắng chiều sáng loé. Hình ảnh cuối của lão anh
ghi được chỉ là một khoé mắt rất lanh,
nét môi dày và một vành tai bạt nhĩ; sau đó chỉ còn
tiếng gió lộng như có lộn tiếng cười
rền kỳ dị của lão.
Anh
về. Cô hỏi đi đâu và bảo sửa soạn ăn
tối. Anh đáp ngồi câu với lão già. Sực nhớ
cả buổi quên hỏi tên lão, anh hỏi cô, cô im lặng.
Nhìn ra ngoài trời chạng vạng, cô nói "Tháng này sương
xuống sớm, tắt nắng đã u ám như bãi tha
ma." Cô quay nhìn anh dặn cách khó hiểu, "Còn chơi đây
ngày nào cháu nên thận trọng." Nói đoạn cô bước
xuống bếp, lẩm bẩm, "Rõ thần suy quỷ
lộng," và lặng lẽ lấy treo trước
cửa một xâu tỏi đã mối mọt nhiều.