|
|
||
|
TRUYỀN
THỐNG ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI VIỆT
HÀ XUÂN LIÊM
Phương
Đông dường như không thích “triết lư”, mà
chuộng “đạo học”, cho nên người Việt ta
đă sống trong đạo Hiếu mà không có triết lư
về chữ Hiếu. Đạo lư là bản căn, là
gốc rễ cho nếp sống thường ngày của người
dân nhưng họ không hề nhận thức vấn đề
đơn thuần bằng luận lư : “Hiếu là ǵ ?
Thế nào là Hiếu ?” mà triết lư phương Tây rất
thích lối này.
Người dân
bao đời truyền miệng câu ca dao :
Sao ví cha như “núi”, mà ví mẹ như
“nước nguồn” ? Núi trông xa th́ b́nh thản và vững
vàng, v́ đỉnh núi luôn luôn tiếp giáp với mây
trời. Nói một cách khác, cha là lư tính, là trí tuệ… C̣n
mẹ th́ uyển áo, dịu dàng như nguồn nước.
Đặc biệt là t́nh thương của mẹ đối
với con th́ vừa trong lành, vừa hiền dịu,
vừa lưu hoá. Nh́n về phương diện sinh
học th́ không có một loài động vật nào, trong đó
có con người, một thứ cây ǵ không có nước mà
có thể sống được. Cho nên “nước trong
nguồn chảy ra” chính là nguồn sống luôn luôn tuôn trào.
Mẹ thương con với t́nh thương của nước
đối với vạn loại.
Trong đời sống thường
nhật của dân gian, có khi người con gái biểu
lộ ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ
bằng một thứ t́nh cảm rất đặc
biệt, nhất là khi bước chân đi lấy
chồng, không thể làm tṛn chữ Hiếu đối
với cha mẹ như ḷng ḿnh mong muốn được.
Lạy cha ba lạy
một quỳ
Lạy mẹ bốn lạy, con đi
lấy chồng.
Muốn hiểu được
sự tri ân báo hiếu song thân lúc sinh tiền này, cần
biết thêm một câu ca dao khác nữa, mới biết được
tại sao “lạy cha ba lạy một quỳ”, tức
một vái; c̣n lạy mẹ th́ đầy đủ
“bốn lạy” ?
Lui về lập miếu
thờ vua
Đâu “tran” thờ mẹ, lập chùa
thờ cha.
Nghĩa đầu tiên
xuất hiện trong câu này là hai nơi thờ vua và thờ
cha tách rời khỏi căn nhà của ḿnh, biệt lập
thành một nơi. C̣n thờ mẹ th́ phải “đâu
tran”. “Đâu” tiếng cổ có nghĩa là “đóng”, “Đâu
tran” là “đóng một cái tran”. “Tran” th́ thường thờ
ở trong nhà, như “tran bếp”, “tran bà”. Người cha được
đạo lư truyền thống dân gian đồng hoá
với Phật. Cha có đủ Từ bi, Trí tuệ và
Dũng cảm (Bi, Trí, Dũng), cho nên mới lập chùa để
thờ cha. Lạy cha “ba lạy một vái”, đó cũng
chính là cách lạy Phật. Cha là Đức Phật của
con cái. Rơ ràng là thế. C̣n lạy mẹ đến “bốn
lạy”. Số bốn (4) là con số nghiêm túc đầy đủ,
vững vàng và chính đính nhất. “Bốn lạy” là
kiểu lạy cúng truyền thống trong dân tộc
Việt. Mẹ ở đây đă trở thành “thần
bổn mạng” của người con gái khi bước
chân ra đi lấy chồng. “Đâu tran” để thờ
mẹ tức là thờ “thần bổn mạng” ở trong
nhà ḿnh, dù nhà đó là nhà cả hai vợ chồng gây
dựng sau này, sâu xa hơn, phải nói là thờ trong tâm
khảm ḿnh….
Nói đến người
con trai có hiếu đối với cha mẹ th́ trong
lịch sử Việt
Sách Đại Việt
sử kư của Ngô Sĩ Liên có chép hai việc sau đây :
-
Vua Lư Nhân Tông
(1072-1127) đă băi dịp Trung nguyên yến ẩm chúc
tụng của bách quan đối với ḿnh để làm
lễ Vu Lan Bồn cầu siêu cho mẹ đúng theo ư
nghĩa Phật giáo.
-
Vua Lư Nhân Tông
(1128-1138) cũng bỏ yến ẩm chúc tụng của
bách quan dâng biểu ở điện Thiên Aân vào dịp
lễ Trung nguyên để thiết lễ đại trai đàn,
cầu siêu cho phụ hoàng là vua Nhân tông, và cử hành nghi
lễ theo nghi thức Phật giáo. Đó là việc hai vua đời
Lư báo hiếu cha, mẹ đă mất.
-
Chuyện báo
hiếu đối với cha khi cha c̣n sinh tiền, sách Đại
Việt sử kư ghi : Vua Trần Nhân Tông (1293-1314), say rượu
nằm trong cung (1299), thái thượng hoàng Nhân Tông (1279-1308)
ở cung Thiên Trường về thăm, bách quan đă
hội đủ, nhưng không thấy vua ra chầu. Thái thượng
hoàng giận ra lệnh cho bách quan về Thiên Trường
lập triều ban. Khi tỉnh rượu, thấy
vắng vẻ, vua hỏi rơ cơ sự, vội vă về
Thiên Trường ra mắt chầu vua cha và xin chịu
tội. Thái thượng hoàng quở trách những lời
nặng nề. Vua Anh Tông sợ, lạy cha xin chừa rượu.
Từ đó vua bỏ, không bao giờ uống rượu
nữa.
Sử cũng chép về vua
Tự Đức (1829-1882) rằng một hôm vua đi
bắn chim ở rừng Thuận Trực, An Nong, gặp nước
lũ, thuyền vua về chậm, thái hậu sai quân đem
thuyền đi đón. Về đến Thương
Bạc, vua vội vă về cung, chỉnh trang y phục, sang
chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, ngồi xây
mặt vào vách. Vua Tự Đức tự nằm xuống
gác cây roi mây trên lưng ḿnh chịu tội. Thái hậu quay
mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng
lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt
đêm để phê tấu chuẩn. Từ đó về sau
vua không c̣n bỏ bê việc triều chỉnh nữa.
Đặc biệt, nhiều
sách c̣n ghi câu chuyện gương hiếu của một
vị chân tu, đó là Hoà thượng Nhất Định
(1784-1847). Dẫu khi đă 60 tuổi, nhưng ngài vẫn
ngày ngày tự thân hành về chợ Bến Ngự mua cá lên
An Dưỡng am (chùa Từ Hiếu hiện nay) để
nuôi mẹ già 80 tuổi, với tinh thần vô ngại cao
thâm, bất khả tư nghị. Khi vua Tự Đức
biết chuyện, nhà vua vô cùng cảm phục. Tự Đức
nguyên niên (1829), vua phong hiệu chùa Từ Hiếu là do tích
này, và xuất phát từ thành ngữ “mẫu từ tử
hiếu”, mẹ ăn ở hiền lành, sinh con có hiếu.
Câu chuyện này đến nay vẫn c̣n được lưu
truyền trong dân gian.
-