Vol. 22  9/2004                                                                                               4th year edition

Editor-in-chief:  Ñoă Hoaøng Nghóa    phutavanthu@yahoo.com 

 

 

TRUYỀN THỐNG ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

 

HÀ XUÂN LIÊM

 

 

          Phương Đông dường như không thích “triết lư”, mà chuộng “đạo học”, cho nên người Việt ta đă sống trong đạo Hiếu mà không có triết lư về chữ Hiếu. Đạo lư là bản căn, là gốc rễ cho nếp sống thường ngày của người dân nhưng họ không hề nhận thức vấn đề đơn thuần bằng luận lư : “Hiếu là ǵ ? Thế nào là Hiếu ?” mà triết lư phương Tây rất thích lối này.

          Người dân bao đời truyền miệng câu ca dao :

        “Công cha như núi Thái Sơn

        Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…”

         

Sao ví cha như “núi”, mà ví mẹ như “nước nguồn” ? Núi trông xa th́ b́nh thản và vững vàng, v́ đỉnh núi luôn luôn tiếp giáp với mây trời. Nói một cách khác, cha là lư tính, là trí tuệ… C̣n mẹ th́ uyển áo, dịu dàng như nguồn nước. Đặc biệt là t́nh thương của mẹ đối với con th́ vừa trong lành, vừa hiền dịu, vừa lưu hoá. Nh́n về phương diện sinh học th́ không có một loài động vật nào, trong đó có con người, một thứ cây ǵ không có nước mà có thể sống được. Cho nên “nước trong nguồn chảy ra” chính là nguồn sống luôn luôn tuôn trào. Mẹ thương con với t́nh thương của nước đối với vạn loại.

 

          Trong đời sống thường nhật của dân gian, có khi người con gái biểu lộ ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ bằng một thứ t́nh cảm rất đặc biệt, nhất là khi bước chân đi lấy chồng, không thể làm tṛn chữ Hiếu đối với cha mẹ như ḷng ḿnh mong muốn được.

 

          Lạy cha ba lạy một quỳ

          Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.

 

          Muốn hiểu được sự tri ân báo hiếu song thân lúc sinh tiền này, cần biết thêm một câu ca dao khác nữa, mới biết được tại sao “lạy cha ba lạy một quỳ”, tức một vái; c̣n lạy mẹ th́ đầy đủ “bốn lạy” ?

 

          Lui về lập miếu thờ vua

          Đâu “tran” thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

 

          Nghĩa đầu tiên xuất hiện trong câu này là hai nơi thờ vua và thờ cha tách rời khỏi căn nhà của ḿnh, biệt lập thành một nơi. C̣n thờ mẹ th́ phải “đâu tran”. “Đâu” tiếng cổ có nghĩa là “đóng”, “Đâu tran” là “đóng một cái tran”. “Tran” th́ thường thờ ở trong nhà, như “tran bếp”, “tran bà”. Người cha được đạo lư truyền thống dân gian đồng hoá với Phật. Cha có đủ Từ bi, Trí tuệ và Dũng cảm (Bi, Trí, Dũng), cho nên mới lập chùa để thờ cha. Lạy cha “ba lạy một vái”, đó cũng chính là cách lạy Phật. Cha là Đức Phật của con cái. Rơ ràng là thế. C̣n lạy mẹ đến “bốn lạy”. Số bốn (4) là con số nghiêm túc đầy đủ, vững vàng và chính đính nhất. “Bốn lạy” là kiểu lạy cúng truyền thống trong dân tộc Việt. Mẹ ở đây đă trở thành “thần bổn mạng” của người con gái khi bước chân ra đi lấy chồng. “Đâu tran” để thờ mẹ tức là thờ “thần bổn mạng” ở trong nhà ḿnh, dù nhà đó là nhà cả hai vợ chồng gây dựng sau này, sâu xa hơn, phải nói là thờ trong tâm khảm ḿnh….

 

          Nói đến người con trai có hiếu đối với cha mẹ th́ trong lịch sử Việt Nam đă có ghi nhiều tấm gương tiêu biểu. Dù người con trai đó ở cương vị một ông vua, một nhà nho, một vị Hoà thượng tu hành đắc đạo, th́ việc thực hiện đạo Hiếu bằng hành động đủ để cho hậu thế noi theo.

          Sách Đại Việt sử kư của Ngô Sĩ Liên có chép hai việc sau đây :

 

-         Vua Lư Nhân Tông (1072-1127) đă băi dịp Trung nguyên yến ẩm chúc tụng của bách quan đối với ḿnh để làm lễ Vu Lan Bồn cầu siêu cho mẹ đúng theo ư nghĩa Phật giáo.

 

-         Vua Lư Nhân Tông (1128-1138) cũng bỏ yến ẩm chúc tụng của bách quan dâng biểu ở điện Thiên Aân vào dịp lễ Trung nguyên để thiết lễ đại trai đàn, cầu siêu cho phụ hoàng là vua Nhân tông, và cử hành nghi lễ theo nghi thức Phật giáo. Đó là việc hai vua đời Lư báo hiếu cha, mẹ đă mất.

 

-         Chuyện báo hiếu đối với cha khi cha c̣n sinh tiền, sách Đại Việt sử kư ghi : Vua Trần Nhân Tông (1293-1314), say rượu nằm trong cung (1299), thái thượng hoàng Nhân Tông (1279-1308) ở cung Thiên Trường về thăm, bách quan đă hội đủ, nhưng không thấy vua ra chầu. Thái thượng hoàng giận ra lệnh cho bách quan về Thiên Trường lập triều ban. Khi tỉnh rượu, thấy vắng vẻ, vua hỏi rơ cơ sự, vội vă về Thiên Trường ra mắt chầu vua cha và xin chịu tội. Thái thượng hoàng quở trách những lời nặng nề. Vua Anh Tông sợ, lạy cha xin chừa rượu. Từ đó vua bỏ, không bao giờ uống rượu nữa.

 

          Sử cũng chép về vua Tự Đức (1829-1882) rằng một hôm vua đi bắn chim ở rừng Thuận Trực, An Nong, gặp nước lũ, thuyền vua về chậm, thái hậu sai quân đem thuyền đi đón. Về đến Thương Bạc, vua vội vă về cung, chỉnh trang y phục, sang chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, ngồi xây mặt vào vách. Vua Tự Đức tự nằm xuống gác cây roi mây trên lưng ḿnh chịu tội. Thái hậu quay mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt đêm để phê tấu chuẩn. Từ đó về sau vua không c̣n bỏ bê việc triều chỉnh nữa.

 

          Đặc biệt, nhiều sách c̣n ghi câu chuyện gương hiếu của một vị chân tu, đó là Hoà thượng Nhất Định (1784-1847). Dẫu khi đă 60 tuổi, nhưng ngài vẫn ngày ngày tự thân hành về chợ Bến Ngự mua cá lên An Dưỡng am (chùa Từ Hiếu hiện nay) để nuôi mẹ già 80 tuổi, với tinh thần vô ngại cao thâm, bất khả tư nghị. Khi vua Tự Đức biết chuyện, nhà vua vô cùng cảm phục. Tự Đức nguyên niên (1829), vua phong hiệu chùa Từ Hiếu là do tích này, và xuất phát từ thành ngữ “mẫu từ tử hiếu”, mẹ ăn ở hiền lành, sinh con có hiếu. Câu chuyện này đến nay vẫn c̣n được lưu truyền trong dân gian.

            -

 

Home