Vol. 25  5/2005                                                                                        4th year edition

Editor-in-chief:  Ñoă Hoaøng Nghóa    phutavanthu@yahoo.com 

 

  

Con Đường Thứ Ba

 

Ta sống cả muôn năm ở trong ta, lấy sức ngầm đó đứng lên, chuẩn bị cho thời đại 2000.  Lư Đông A

 

 

Toàn dân Việt hăy mau chóng Dậy! Dậy! Dậy!  -  Phan Bội Châu

 

        Tháng 10 năm 2004, người Đức đă tưng bừng tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm ngày sụp đổ (năm 1989) của bức tường Bá Linh mà dân Đức thường gọi là "bức tường ô nhục" đă chia đôi thành phố Bá Linh: một phần theo cộng sản Đông Đức, c̣n phần kia theo Tây Đức tự do. Ngày kỷ niệm đó đánh dấu sự cáo chung của chế độ Cộng Sản tại Đông Đức, khởi đầu việc thống nhất nước Đức.

 

I.- Con đường thứ ba.

        Ngược ḍng lịch sử, trước đó ít lâu, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Sô là Gorbachev đă nhắn bảo lănh tụ các nước Đông Âu, đại khái như sau:

     "Các anh phải tự ḿnh thay đổi, nếu không sẽ chết. Chủ nghĩa cộng sản đă lỗi thời rồi, không thể làm cho đất nước thịnh vượng và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Các nước Đông Âu có toàn quyền lựa chọn con đường đi cho quốc gia: hoặc theo chủ nghĩa cộng sản như cũ, hoặc chuyển sang chế độ tư bản, hoặc theo một chế độ ưu việt nào mà các anh t́m ra. Nước Nga sẽ không can thiệp vào nội bộ các nước Đông Âu nữa."

     Sau khi Liên Xô bỏ rơi Đông Âu, dân chúng các nước Đông Âu đă nổi lên giành độc lập cho quốc gia. Kết quả là các nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Mă Ni, v.v... đă thoát khỏi ngục tù cộng sản, để tiến vào con đường dân chủ.

        Cựu tổng bí thư đảng cộng sản Hung Gia Lợi (tên rất khó đọc nên người viết quên rồi, mong độc giả thông cảm và thứ lỗi cho) hỏi Gorbachev: "Tôi khuyên các anh em nên theo chủ nghĩa tư bản. Anh nghĩ sao?"

      Gorbachev đáp: "Anh lầm rồi. Anh nên nhớ cộng sản phát sinh ra để chống tư bản. Chúng ta có thể nói: tư bản là chánh đề, cộng sản là phản đề. Nếu cho tư bản là tổng hợp đề th́ một thời gian sau đó, tư bản sẽ lại thành chánh đề, rồi lại có phản đề là cộng sản và hợp đề là tư bản. Cái ṿng luẩn quẩn đó không bao giờ chấm dứt. Như vậy, anh đă lầm lẫn khi khuyên anh em Hung Gia Lợi theo chế độ tư bản."

     Hỏi: "Cộng sản đă lỗi thời. Tư bản lại không thể chấp nhận được. Vậy ta nên đi theo con đường nào?"

     Đáp: "Tôi cũng chưa biết. Hăy tạm gọi là con đường thứ ba, sau tư bản và cộng sản.

     Tạm thời, đừng quá khắt khe với nhân dân, trong khi đi t́m con đường thứ ba."

       Thực tại cho chúng ta thấy các nước Đông Âu đang chập chững ngă theo chế độ dân chủ tư bản. Các nước Đông Âu không thiên hẳn về tư bản hay cộng sản, để đi t́m con đường phải theo.

       Riêng biệt, nước Nga sau một thời kỳ chuyển sang tư bản (với Yeltsin), nay lại quay về cộng sản (với Putin) nhưng không c̣n cứng rắn như trước. Trung Hoa cộng sản cởi mở một thời gian về kinh tế với Đặng Tiểu B́nh, rồi Giang Trạch Dân nên kinh tế phát triển nhanh chóng. Kết quả là đảng viên cộng sản và nhà cầm quyền cộng sản trở nên giầu có do tham nhũng, buôn lậu, v.v... c̣n dân chúng vẫn nghèo sơ xác, đời sống vô cùng cơ cực. Xă hội Trung Hoa đi đến chỗ băng hoại và nhiễu loạn khắp nơi. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Hoa, kiêm chủ tịch nhà nước hiện nay là Hồ Cẩm Đào lại quay về cộng sản nhưng cũng không c̣n cứng ngắc như trước.

       Hai nước Nga và Trung Hoa rơi vào ṿng luẩn quẩn như Gorbachev đă tiên liệu.

      (Nước Việt Nam rập theo con đường của Trung Hoa, nên xă hội Việt Nam hiện nay cũng bết bát như xă hội Trung Hoa, có khi c̣n tệ hại hơn).

    

- Con đường thứ ba như thế nào?

      Xin nói ngay: con đường thứ ba chỉ là nền văn minh nhân bản với ba yếu tố có nhân loại tính là nhân bản, nhân tính, nhân chủ:

     - Nhân bản (lấy con người làm gốc);

     - Nhân tính (con người cư xử với nhau theo nhân tính tức là t́nh người, đem t́nh thương và trí tuệ trải rộng khắp nơi: thương người như thể thương thân, lấy nhân tính làm y cứ cho các tổ chức xă hội);

     - Nhân chủ (Con người tự ḿnh làm chủ đời sống của chính ḿnh, để nhân tính làm chủ tư duy và hành động, chế ngự thú tính, mới loại bỏ được tham vọng và dục vọng là nguồn gốc của tranh chấp, xung đột, chiến tranh).

      Nền văn minh nhân bản dựa trên nền tảng triết học mà căn bản là 3 qui luật:

     1.- Tác động hai chiều

     2.- Đối lập thống nhất

     3.- Phân công hợp tác

    (với hàm ư: thành tâm thiện chí, tinh thần b́nh đẳng, để mưu cầu hạnh phúc cho cả đôi bên).

       Người viết đă tŕnh bày nền văn minh nhân bản trong nhiều bài đăng trên tuần báo Chính Luận ở thành phố Seattle - TB Washington, Hoa Kỳ từ năm, sáu năm nay (riêng biệt những bài: Văn Minh Nông Nghiệp Và Đời Sống Con Người, Dịch Và Lư Tắc Tiên Rồng, Thời Đại 2000, Dịch Và Nền Văn Minh Nhân Bản, Tâm Thức, ...).

        Để độc giả có một nhận định tổng quát và vững tin vào tương lai nước Việt, người viết xin ghi lại một số điểm trong những bài trên liên quan đến việc đi t́m con đường thứ ba của các triết gia trên thế giới (và lư do tại sao đến ngày nay họ vẫn chưa t́m ra được). Cuối cùng là nhân loại sẽ tiến tới con đường tất yếu là nền văn minh nhân bản.

 

II.- Hội nghị triết học thế giới

       Năm 1943, hội Triết Học Hoa Kỳ đề cử một ủy ban có 5 thành viên, mà nhiệm vụ là nghiên cứu chiều hướng phát triển của tri thức và sứ mệnh của triết học, sau những biến cố xă hội, chính trị, quân sự cùng khoa học, triết học trong mấy chục năm đầu của thế kỷ 20, báo hiệu một biến chuyển lớn lao trong đời sống và tư duy của nhân loại.

     Năm 1945, triết gia Brand Blanshard (một thành viên trong ủy ban), báo cáo kết quả cuộc nghiên cứu trong cuốn "Philosophy in American Education": các yêu cầu lớn về triết học là thống nhất tri thức (integration), thống nhất tâm thức (community of mind), tái giải thích dân chủ (reinterpretation of democracy) và triết học nhân sinh (philosophy of life).

      Triết gia Blanhard chỉ đề nghị và thiếu phần giải thích. Tư tưởng của ông cô đọng quá (và lại đi trước thời đại) nên không gây được tiếng vang nào.

     Trước đó mấy năm, nhà cách mạng Việt kiêm tư tưởng Lư Đông A đă viết nhiều tài liệu (phổ biến từ năm 1942 đến 1945) và đưa ra nhiều quan điểm liên hệ đến căn bản tư tưởng về triết học. Riêng biệt, Lư Đông A đă giải thích rất rơ những điểm mà triết gia Hoa Kỳ đưa ra năm 1945.

     Trong tài liệu "Chià Khóa Của Thắng Nghĩa", Lư Đông A đă đưa ra 4 điểm căn bản là:

    

1/- Căn bản nghĩa

       Thực tại cho ta thấy rằng đời sống con người gắn bó chặt chẽ với tự nhiên (tức thiên nhiên); con người luôn luôn tiếp xúc với người khác trong xă hội ở mọi sinh hoạt, và luôn luôn nhờ tư tưởng dẫn dắt trong mọi hành động.

      Luật tắc của 3 phạm trù tự nhiên, xă hội và tư tưởng cộng thông với nhau và là một. Sự vận động, kết hợp, lưu hành và diễn tiến của 3 phạm trù là thống nhất.

    "Tự nhiên, xă hội và tư tưởng thống nhất". Đó là căn bản nghĩa.

 

2/- Căn bản học

      Ba phạm trù "tự nhiên, xă hội và tư tưởng" thường hằng vận động thống nhất th́ những môn học về 3 phạm trù đó không thể tác rời nhau được khi muốn t́m hiểu hiện tượng sống đến tận nguồn gốc.

     Khoa học là môn học t́m ṭi sự thực của tự nhiên.

    Sử học là môn học t́m hiểu những qui luật về mọi vận động và phát triển của tư tưởng (trên tâm lư, triết học, lư học).

     Đạo học là môn học nghiên cứu các qui luật về mọi vận động và phát triển của tư tưởng (trên tâm lư, triết học, lư học)

      Theo căn bản nghĩa, ta không thể tách rời 3 môn học trên được: không có sự phân chia sử học, khoa học và đạo học (nói chung và triết học nói riêng). Ba môn học đó phải thống nhất thành một môn học duy nhất, tung hợp lại thành những nguyên lư và luật tắc làm nhận thức cho xă hội loài người.

     "Khoa học, sử học, đạo học thống nhất."

     Đó là căn bản học.

     Căn bản học này chính là điểm "integration"  nghĩa là thống nhất tri thức của triết gia Hoa Kỳ.

 

3/- Căn bản luận.

      Triết học có 3 bộ phận nền tảng cần thiết làm căn bản luận giúp cho con người đi sát với thực tại, v́ thực tại là tiêu chuẩn của chân lư. Đó là bản thể luận, nhận thức luận và phương pháp luận.

      - Bản thể luận suy cứu những nguyên lư về bản chất và cứu cánh của sự thực.

     Nghiên cứu một hiện tượng là t́m hiểu hiện tượng đó là ǵ? Hiện tượng đó từ đâu đến và kết thúc như thế nào?

     - Nhận thức luận t́m ṭi những quan hệ giữa tư tưởng và hiện tượng (tâm và xác, tinh thần và vật chất, chủ quan với khách quan, loài người với vũ trụ, v.v...). Nói một cách khác, nhận thức luận t́m hiểu tương quan giữa chất và lượng của hiện tượng, sự vận hành của hiện tượng và những liên hệ của hiện tượng đó với các hiện tượng khác trong vũ trụ.

    - Phương pháp luận t́m ṭi những đường lối, cách thức dẫn dắt tư tưởng, kiến lập tư tưởng, truyền thông tư tưởng để biến tư tưởng thành hành động cụ thể bám sát thực tại.

      Như vậy, muốn xây đắp hoặc loại bỏ một hiện tượng trong đời sống con người, ta phải có những luật tắc về mặt tư tưởng như thế nào để khi vận dụng vào hành động, ta phải tiến hành theo phương pháp nào?

      Trên nền tảng "tự nhiên, xă hội và tư tưởng thống nhất", ta phải hợp nhất 3 bộ phận trên.

       "Bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận thống nhất".

     Đó là căn bản luận.

 

4/- Căn bản quan

     Đời sống con người được giải thích tùy theo tư tưởng của mỗi phái triết học.

    Phái duy tâm cho rằng chỉ duy có tinh thần (yếu tố vô h́nh) sản sinh ra mọi hiện tượng sống.

     Phái duy vật lại quan niệm rằng hiện tượng sống là do vật chất (yếu tố hữu h́nh) sản sinh ra.

     Phái duy sinh là triết phái trung dung, t́m cách dung ḥa, vá víu tâm và vật, chủ trương rằng hiện tượng sống khởi điểm từ sinh nguyên, thực ra chỉ là cái tế bào của hữu cơ sinh vật.

      Tất cả ba triết phái đều có xu hướng thiên lệch giải quyết sự sống, c̣n, nối, tiến, hóa của con người.

     Thực tại cho ta thấy rằng đời sống của con người do sự vận động và kết hợp của 3 phạm trù vật, tâm, sinh.

      "Duy tâm, duy vật, duy sinh thống nhất".

    Đó là căn bản quan.

    Quan điểm căn bản này chính là điểm "community of mind" nghĩa là thống nhất tâm thức (tức là thống nhất tư tưởng) của triết gia Hoa Kỳ.

      Căn bản nghĩa, căn bản học, căn bản luận, căn bản quan là 4 chià khóa thiết yếu giúp ta có tư tưởng mới để hiểu rơ triết học duy nhân của nhà cách mạng Lư Đông A: đó là con đường thực hiện nền văn minh nhân bản để đem lại ḥa b́nh cho nhân loại. Nền văn minh nhân bản chính là con đường thứ ba mà các triết gia trên thế giới đang đi t́m.

      (Trong cuốn Huyết Hoa, Lư Đông A đă thẳng thắn phê b́nh nền dân chủ tư bản của Tây phương. Triết học nhân sinh cũng đă được Lư Đông A giải thích cặn kẽ trong cuốn Cương Thường. Hai chữ cương thường không có nghĩa như tam cương, ngũ thường của Nho gia. Cương thường chỉ mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với xă hội, giữa các xă hội với nhau, với mục đích giải quyết các vấn đề của loài người để ổn định xă hội loài người.

      Hai phần này (dân chủ và triết lư nhân sinh) ở ngoài phạm vi con đường thứ ba này nên người viết không đề cập đến).

     Chúng ta thấy Lư Đông A cũng như Brand Blanshard đă đi trước thời đại khoảng 60 năm.

                         ***

       Đệ nhị thế chiến chấm dứt năm 1945. Năm 1949, nhiều triết gia Hoa Kỳ đă triệu tập "Hội Nghị Triết Học Thế Giới" (lần thứ nhất) tại Honolulu để t́m phương thức đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.

      Triết gia lỗi lạc hàng đầu của thế kỷ 20 là Heidegger đă thẳng thắn tuyên bố: "Văn hóa Tây phương hỏng từ nền tảng, đem truyền bá tới đâu th́ chỉ gieo máu và nước mắt tới đó."

     Thế kỷ 20 đă chứng thực lời nói trên.

      Nền tảng của văn hóa Tây phương là ǵ? Đó là nền triết học duy lư mà căn bản là luật mạnh được yếu thua tức là luật tác động một chiều dẫn tới luật đối lập tiêu diệt (cộng sản gọi là mâu thuẫn hủy diệt). Văn hóa Tây phương có nguồn gốc là văn hóa du mục. Dân du mục sống bằng nghề chăn nuôi súc vật. Họ luôn luôn la hét, đánh đập thú vật lạc đàn nên trọng sức mạnh và có tính hiếu chiến. Do đó, các triết gia Tây phương thiên về lư của kẻ mạnh, chỉ chú trọng đến những việc xảy ra trên rừng núi hay trong sông biển. Họ chỉ thấy luật rừng mạnh được yếu thua và luật biển cá lớn nuốt cá bé (cũng chỉ là luật mạnh được yếu thua). Điều này đă rơ rệt trong thế kỷ 20 vừa qua: Phát Xít và Cộng Sản xử dụng luật rừng c̣n tư bản xử dụng luật biển.

      Luật mạnh được yếu thua (tức là luật tác động một chiều dẫn đến luật đối lập tiêu diệt) là nguyên nhân của những biến động trong thế kỷ 20. Người tàn sát người bằng quân sự như Phát Xít đă thực hiện. Người áp bức người bằng chính trị (và tàn sát người bằng quân sự) theo chủ trương của cộng sản. Người bóc lột người bằng kinh tế (và tàn sát người bằng chiến tranh) theo chính sách của tư bản.

      Văn hóa Tây phương (gốc du mục) đă gây ra các kết quả vô cùng khốc hại cho nhân loại.

                       ***

       Chúng ta đều biết rằng con người dù là công dân của bất cứ quốc gia nào, bao giờ cũng có tính tốt (hay nhân tính) và tính xấu (hay thú tính). Từ nhiều thế kỷ nay (và riêng biệt thế kỷ 20) con người đă để thú tính làm chủ tư duy và hành động (ngơ hầu thỏa măn các dục vọng, tham vọng) cho nên con người mới hành động như súc vật, nghĩa là dùng luật rừng mạnh được yếu thua hay luật biển cá lớn nuốt cá bé của súc vật.

      Chúng ta biết rằng súc vật không có văn hóa, c̣n con người có văn hóa. Vậy văn hóa là nội dung phân biệt giữa con người và súc vật. Con người đă để thú tính chỉ huy hành động của con người nên mới xảy ra việc người tàn sát người. Con người không thể hành động như súc vật không có văn hóa. Con người cần phải chuyển hóa tâm thức (nghĩa là thay đổi tư tưởng) để suy nghĩ theo con người có văn hóa, phải thay đổi hành động để nhân tính làm chủ tư duy và hành động. Con người cần phải phát huy nhân tính, để nhân tính chế ngự thú tính, th́ con người mới dứt bỏ được những hành động xấu xa giữa người với người, nhất là loại bỏ hành động người tàn sát người. Được như thế, con người mới tỏ ra có văn hóa.

     Trong bao nhiêu lâu nay, con người đă chạy theo tiền tài, danh vọng: con người làm nô lệ cho tiền tài, danh vọng v́ con người chưa có tinh thần tự chủ. Con người chưa làm chủ chính ḿnh để tự thắng; nói cách khác, con người chưa có tinh thần nhân chủ nên mới chưa chế ngự được thú tính, và hành động như súc vật không có văn hóa.

      Nền văn hóa Tây phương hỏng từ nền tảng nên không thể tiếp tục đem phổ biến trong xă hội nhân loại được nữa. Nhiều triết gia thấy rằng cần phải có một nền văn hóa mới thay thế văn hóa Tây phương: đó là con đường thứ ba để đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.

      Marilyn Ferguson đă viết trong cuốn sách The Aquarian Conspiracy (trang 422) của nhà xuất bản Putman's Sons (New York): "... theo nhận định của các thức giả hiện đại Tây phương, chúng ta đang bước vào kỷ nguyên Thái B́nh Dương, chẳng những về mặt kinh tế mà cả về văn hóa nữa. Kỷ nguyên này có thể tiên báo một sự kiện vô tiền khoáng hậu: không phải là một trật tự thế giới mới mà là một "nền văn hóa thế giới mới".

    (Trích bài của Thường Nhược Thủy, tr. 54, cuốn Đạo Sống Việt của tủ sách Việt Thường, xuất bản tại Houston năm 2000).

                       ***

        Trong cuộc hội nghị triết học thế giới lần thứ 1 (năm 1949) tại Honolulu, các triết gia đă loại bỏ nền triết học duy lư của Tây phương, và hướng sang Đông phương với hy vọng t́m được một nền triết học làm nền tảng cho nền văn hóa mới có thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại. Các triết gia chỉ thấy có ba khuôn mặt lớn là Thích Ca Mâu Ni, Lăo Tử và Khổng Tử, thủy tổ của Phật Giáo, Lăo Giáo và Khổng Giáo.

     Các triết gia trên thế giới loại bỏ ngay Thích Ca là vị sáng lập ra Phật Giáo v́ không muốn dính líu đến tôn giáo, e ngại phản ứng của những giáo phái khác (như Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, v.v...) có thể xảy ra chiến tranh tôn giáo th́ đương nhiên không thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.

     Chỉ c̣n lại Lăo Tử và Khổng Tử.

 

1.- Lăo Tử

       Lăo Tử tên là Lư Nhĩ, tự Lăo Đam, sinh tại nước Sở khoảng 500 năm trước Công Nguyên (TCN), đồng thời với Thích Ca và Khổng Tử. Lăo Tử nổi danh là một đại hiền triết của nước Sở, thuộc Bách Việt.

     (Năm 214 TCN, nước Sở bị Tần Thủy Hoàng thôn tính, rồi sát nhập vào Trung Hoa, nên sử sách Trung Hoa đều gọi Lăo Tử là người Hoa - chứ không nói Lăo Tử là người Bách Việt - nên nhiều nhà trí thức Việt Nam vẫn đinh ninh rằng Lăo Tử là người Hoa).

      Lăo Tử soạn ra cuốn Đạo Đức Kinh vào thời Chiến Quốc (736-221 TCN) luôn luôn có chiến tranh giữa các nước của Trung Hoa. Chủ trương của Lăo Tử là nên sống theo đạo tức là theo luật tuần hoàn của thiên nhiên (hay tự nhiên).

      Đạo là mẹ của vạn vật. Đạo sinh ra âm dương, từ đó mới có trời đất, rồi vạn vật. Muôn loài sinh ra, rồi lại trở về đạo: đó là luật tuần hoàn của tự nhiên.

     Từ đạo mới có đức: đạo bao la c̣n đức ở trong con người. Sống hợp với đạo là người có đức.

      Chủ trương của Lăo là không làm điều ǵ trái với tự nhiên. Hậu thế gọi là thuyết vô vi, nên cho Lăo là bi quan, yếm thế, xa lià trần thế, th́ xă hội không thể có tiến bộ và đạt tới văn minh được.

     Có điểm nên lưu ư là Lăo Tử không có quan niệm Thượng Đế, c̣n Khổng Tử đề cao thiên mệnh.

     Sống theo chủ trương của Lăo, con người mới chế ngự được tham vọng, dục vọng là nguyên nhân của tranh chấp, xung đột, chiến tranh.

    Lăo Tử thấy xă hội loạn ly thời chiến quốc, khó có thể đem đạo ra phổ biến được, nên Lăo bỏ vào núi rồi mất tích.

       Sử sách Trung Hoa xuyên tạc, bảo Lăo Tử vào núi tu tiên, nên sinh ra Đạo Giáo Thần Tiên, về sau lại thêm Đạo Giáo Phù Thủy đầy mê tín dị đoan. Các triết gia Tây phương có thể không ngờ đến sự xuyên tạc của người Hoa, nên cũng loại bỏ luôn Lăo Tử, tuy rằng có một số triết gia đă nhận định: "Cuốn Đạo Đức Kinh của Lăo Tử chỉ có khoảng 5.000 chữ (xin nhớ: năm ngàn chữ) mà chứa đựng tất cả sự khôn ngoan của loài người."

      Kết quả là chỉ c̣n lại Khổng Tử.

   

2.- Khổng Tử

     Khổng Tử (551-479 TCN) tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh tại nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông thuộc Đông Bắc Trung Hoa). Sau khi đi du học vào năm 28 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ để dạy học.

     Về sau, Khổng được vua Lỗ cử giữ chức tương tự tể tướng. Chỉ bảy ngày sau, Khổng hạ lệnh chém đầu một đại phu; giữ chức được 15 ngày, Khổng Tử ra lệnh chém đầu hai tử tội, mà không khoan dung giảm tội cho họ (không biết ḷng nhân của Khổng Tử có không, mà các môn sinh của Khổng Tử đă đề cao chữ nhân (?) khởi điểm cho ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.)

      Để rơ ḷng dạ của Khổng, xin ghi thêm ư kiến của Vương Sóc, nhà văn nổi tiếng hàng thứ ba sau Lỗ Tấn và Kim Dung, đă viết trong cuốn sách: "Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê" (trang 172):

      Ông ta (Khổng Tử) đi chu du một loạt nước, chẳng qua là để kiếm một chút chức tước. Ông ta nói nhân nghĩa, nhưng khi đă được làm quan rồi th́ cũng độc ác tàn nhẫn như thường; làm được mấy ngày chức đại tư khấu th́ giết luôn Thiếu Chính Măo.

     Như vậy, Khổng đă "nói một đằng, làm một nẻo" không khác ǵ bọn gian thương "treo đầu dê, bán thịt chó" theo tục ngữ Việt.

     Khổng chủ trương dùng chính danh (danh chính th́ ngôn thuận). Nếu danh không chính th́ ngôn không thuận nên luật lệ sẽ không được nghiêm minh: đó là nguồn gốc của loạn ly.

      Về sau, vua Lỗ ham mê nữ sắc, lơ là việc triều chính nên Khổng xin từ chức.

      Khổng chú trọng đến sự liên hệ giữa trời-đất-người (thiên địa nhân) và chủ trương con người phải chịu mệnh trời (thiên mệnh), nên phải phục ṭng con trời là thiên tử nhà Chu, thay trời trị dân. Do đó, Khổng chủ trương các nước chư hầu phải phục ṭng nhà Chu.

     Sau khi từ chức ở nước Lỗ, Khổng đi chu du các nước Vệ, Tấn rồi Tống. Nước nào cũng ở t́nh trạng loạn ly, giặc dă khắp nơi nên không có nước nào trọng dụng Khổng. Mục đích của Khổng là muốn kiếm một chức tước tại một nước, rồi thuyết phục các nước chư hầu phải xem nhà Chu là minh chủ, nhưng Khổng đă thất bại, v́ nước nào cũng muốn trở nên mạnh để thôn tính nước khác, thống nhất thiên hạ chứ không chịu phục ṭng nhà Chu.

      Sau cùng Khổng trở về nước Lỗ, san định lại các sách và dạy học. Khổng mất năm 479 TCN, hưởng thọ 72 tuổi. Môn sinh của Khổng đông khoảng ba ngàn người, suy tôn Khổng là bậc đại hiền, là vạn thế sư.

      Ghi thêm:

       Nước Đại Việt vào thời Hậu Lê đă đưa Nho Giáo của Khổng lên hàng mạnh nhất trong Tam Giáo (Nho, Lăo, Phật). Các nhà khoa bảng thời đó và các triều đại sau đều đề cao tư tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ của Khổng (gọi tắt là tu, tề, trị, b́nh). Ngày nay, nhiều nhà trí thức, đại trí thức Việt Nam cũng đề cao chủ trương đó và coi như khuôn vàng thước ngọc phải thực hiện. Chúng ta hăy xét quan điểm này.

      Tu thân: đây là điều cần thiết cho tất cả mọi người. Tu thân để trở thành con người đức độ, được mọi người kính nể th́ mọi việc sẽ được giải quyết dễ dàng.

      Câu viết cho ta thấy rằng: tu thân để tề gia, rồi trị quốc, sau đó là b́nh thiên hạ. Theo quan điểm của Khổng, tề gia th́ có t́nh trạng chồng chúa vợ tôi trong gia đ́nh; trị quốc th́ xă hội theo chủ trương trọng nam khinh nữ.

      B́nh thiên hạ: các nước chư hầu thời Chiến Quốc phải tuân theo mệnh lệnh của thiên tử nhà Chu. Theo chủ trương của Khổng, nước nào cưỡng lại, không chịu phục ṭng nhà Chu th́ nước bá chủ (nước chư hầu mạnh nhất) sẽ đem quân binh đến hỏi tội để buộc nước đó phải trở về là nước chư hầu và tuân theo mệnh lệnh nhà Chu: Khổng chủ trương dùng quân sự để b́nh định thiên hạ bất phục ṭng nhà Chu.

      Chúng ta thấy đây là năo trạng của con người gốc du mục (trọng sức mạnh, trọng nam khinh nữ, trọng kỷ luật). Các sắc dân du mục theo luật mạnh được yếu thua nên nước mạnh dùng chiến tranh để khuất phục nước yếu.

     Chủ trương tu tề trị b́nh của Khổng Giáo chỉ thích hợp với nước Trung Hoa (gốc văn hóa du mục), chứ không phù hợp với xă hội Việt (gốc văn hóa nông nghiệp).

      Đối với nước Việt có gốc văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước, người dân Việt thiên về t́nh cảm (chứ không thiên về sức mạnh), chủ trương nam nữ b́nh đẳng để phân công hợp tác trong xă hội (nông nghiệp) cũng như trong gia đ́nh. Do đó, không hề có t́nh trạng trọng nam khinh nữ trong xă hội và chồng chúa vợ tôi trong gia đ́nh. Chủ trương tề trị b́nh không thích hợp với dân Việt. Chủ trương bành trướng của tộc Hoa gốc du mục sang các nước láng giềng, vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay).

      Sau khi Hán Cao Tổ thống nhất Trung Hoa - trong đó có việc sát nhập Bách Việt - các vua những triều đại về sau như Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, rồi đến các lănh tụ Trung Hoa Quốc Gia như Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch và gần đây các lănh tụ Trung Hoa Cộng Sản như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh, Giang Trạch Dân và hiện nay là Hồ Cẩm Đào đều mắc "hội chứng Đại Hán" nên tất cả đều muốn bành trướng đất đai (b́nh thiên hạ và sau này là thiên triều Hán tộc chủ nghĩa) ra chung quanh; riêng biệt, các lănh tụ Trung Hoa đều muốn thôn tính Việt Nam để làm bàn đạp tiến xuống phương Nam, làm bá chủ vùng Đông Nam Á, sau đó đến thiên hạ. Lịch sử Việt đă nhiều lần chứng minh dă tâm đó của người Hoa.

      Người Việt hiện nay cần đề cao cảnh giác về giấc mộng xâm lăng của người Hoa.

      Tiếc thay, từ triều đại Hậu Lê đến triều đại Nguyễn (Gia Long), các sĩ tử Việt khi đă đậu cử nhân, tiến sĩ Hán học, được bổ ra làm quan, đều đem thực thi những điều đă học trong Tứ Thư Ngũ Kinh của Khổng Giáo (mà họ đề cao là chữ nghĩa thánh hiền) nên mới phát sinh (tại thành thị) t́nh trạng trọng nam khinh nữ trong xă hội Việt và t́nh cảnh chồng chúa vợ tôi trong gia đ́nh. Tinh thần "mặc cảm tự ty dân tộc" cũng đă nảy sinh, rồi đầu óc vọng ngoại (Trung Hoa) cũng nảy nở.

     Nông dân Việt bị ảnh hưởng rất ít nhờ có hương ước và tinh thần ḥa cả làng nên nông dân Việt vẫn duy tŕ được tính phân công hợp tác trong gia đ́nh và thôn xóm xă ấp, chủ trương nam nữ b́nh đẳng vẫn y nguyên, không thay đổi. Tinh thần vọng ngoại cũng chưa phát sinh nên nông dân Việt vẫn duy tŕ được tinh thần bất khuất, nhất quyết chống trả các cuộc xâm lăng của ngoại bang.

     Cho đến ngày nay, rất nhiều nhà trí thức Việt không nghĩ rằng t́nh trạng trọng nam khinh nữ và t́nh cảnh chồng chúa vợ tôi chỉ mới có tại đất Việt khoảng năm, sáu trăm năm nay (từ thời Hậu Lê khi Nho Giáo trở nên mạnh nhất trong Tam Giáo), mà lại cho rằng đó là truyền thống của văn hóa Việt. Thật đáng chê trách. Tinh thần "mặc cảm tự ti dân tộc" vẫn c̣n tồn tại ở nhiều nhà trí thức (theo văn hóa Tây phương); từ đó phát sinh ra tinh thần trọng ngoại, úy ngoại rồi vọng ngoại. Tinh thần yếu đuối này đến bao giờ mới chấm dứt? Thật đáng buồn cho đa số những khoa bảng, trí thức Việt.

 

III.- Nền văn minh nhân bản

       Trở lại Hội Nghị Triết Học Thế Giới lần thứ nhất vào năm 1949 tại Honolulu, sau khi đă loại bỏ Thích Ca và Lăo Tử, chỉ c̣n lại Khổng Tử, các triết gia Tây phương không c̣n sự lựa chọn nào nữa, đành chấp nhận Khổng Tử làm "nhạc trưởng" cho cuộc ḥa tấu bản nhạc ḥa b́nh, với niềm hy vọng triết học của Khổng có thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.

       Qua vài kỳ họp kế tiếp, các triết gia mới nhận ra rằng chính triết thuyết của Khổng cũng không đem lại được ḥa b́nh cho nước Lỗ (quê hương của Khổng) và Trung Hoa th́ triết thuyết của Khổng làm sao có thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại đang sống trong một thế giới chỉ thấy chiến tranh và chiến tranh, không khác ǵ thời Chiến Quốc của Trung Hoa lúc sinh thời của Khổng. Các triết gia lại loại bỏ nốt Khổng Tử, rồi tiếp tục họp để t́m con đường thứ ba với nền văn hóa mới.

        Trong gần 50 năm (1949-1998) với 17 phiên họp, các triết gia trên thế giới vẫn chưa t́m ra được phương thức xây dựng nền ḥa b́nh cho nhân loại.

       Đến năm 1998, các triết gia triệu tập Hội Nghị Triết Học Thế Giới lần thứ 18 tại nước Anh.

        Hội nghị qui tụ hơn 200 triết gia thuộc 70 phái đoàn các nước. Ba phái đoàn Hoa Kỳ, Pháp và Nga có nhiều triết gia hơn cả. Các triết gia và giáo sư triết học đă loại bỏ chủ nghĩa duy tâm, suy vật, duy sinh và nh́n thẳng vào thực tại: vấn đề của loài người phải do con người định đoạt. Con người đă gây ra chiến tranh th́ chính con người mới xây dựng được ḥa b́nh, chứ không phải là ư muốn của thần linh hay thượng đế.

       Các triết gia đă đưa ra các chủ đề về con người như sau:

      - Thực thể con người với tính cách là đối tượng của triết học;

     - Thực thể con người: bản chất, tinh thần và tính cộng động;

      - Lịch sử xă hội và con người

     - Vai tṛ nhận thức của con người;

     - Hiện tại và tương lai của nhân loại.

       Như vậy, các triết gia đă lấy con người làm tiền đề triết học, nghĩa là lấy con người làm gốc: đó là yếu tố nhân bản (nhân=người; bản=gốc) của nền văn hóa mới.

     Các triết gia mới chỉ thấy một yếu tố về nền văn hóa mới. Ngoài vấn đề nhân bản, họ cũng chưa có thêm ư kiến ǵ khác và cũng chưa t́m ra nền triết học làm nền tảng cho nền văn hóa mới.

       Chúng ta nên biết rằng: lấy con người làm gốc th́ mọi hiện tượng sống được tạo ra bởi người, v́ người và cho người. Do đó, sứ mệnh của con người trong xă hội là phục vụ người, v́ người, cho người, chứ không phải v́ tham vọng, dục vọng, v́ tiền tài danh vọng. Từ những điểm căn bản đó, chúng ta mới có thể t́m ra những yếu tố nhân loại tính của nền văn hóa mới cùng những qui luật triết học làm nền tảng cho nền văn hóa mới.

       Tại sao các triết gia trên thế giới lại chưa t́m ra phương thức đem lại ḥa b́nh cho nhân loại?

      Chúng ta có thể nói: các triết gia Tây phương thuộc sắc dân gốc du mục (đặc tính là: trọng sức mạnh, hiếu chiến, coi thường thiên nhiên) nên trong nhiều thế kỷ nay, họ chỉ quan tâm đến lư của kẻ mạnh (luật mạnh được yếu thua).

       Chúng ta biết rằng dân gốc du mục di chuyển nay đây mai đó. Nơi nào có đồng cỏ mênh mông để nuôi súc vật là họ dừng chân ở đó, nên dân du mục không quan tâm đến địa lư, khí hậu; do đó, họ không coi trọng thiên nhiên.

     Trời nắng quá nhiều gây ra hạn hán, hoặc khí hậu quá lạnh, tuyết rơi nhiều, hay trời giông băo, dân du mục sẽ bỏ ngay nơi đó để đi đến nơi khác mà thời tiết không khắc nghiệt. Do đó, khí hậu, thời tiết đối với dân du mục không quan trọng bằng những cánh đồng cỏ. Đó là nguyên nhân của tinh thần coi thường thiên nhiên. Với tâm trạng đó, người Tây phương mới t́m cách chinh phục thiên nhiên.

      Ngoài ra, thiên nhiên có thể tiêu diệt con người do các thiên tai như giông băo, lụt lội, động đất, cháy rừng, v.v... nên người Tây phương coi thiên nhiên như kẻ thù. Họ không thể tiêu diệt được thiên nhiên nên họ t́m cách chế ngự thiên nhiên. Từ suy nghĩ đó, người Tây phương mới t́m cách đổ bộ xuống mặt trăng, phóng vệ tinh lên không trung để thám hiểm Hỏa tinh. Họ cũng t́m cách cải biến genes của cây thực phẩm, súc vật để tăng gia sản xuất (họ chỉ lưu tâm đến lượng chứ không nghĩ đến phẩm). Họ c̣n thực hiện sản sinh vô tính để đoạt quyền Tạo Hóa.

       V́ coi thường thiên nhiên, người Tây phương không có quan niệm rộng răi về âm dương nên mới chấp nhận đồng tính luyến ái.

      Tâm lư coi thường thiên nhiên khiến người Tây phương chịu khó t́m ṭi, sáng tạo nên khoa học mới phát triển mạnh, từ đó đời sống vật chất của con người mỗi ngày mỗi tươi đẹp hơn. Tuy nhiên, sự phát triển công, kỹ nghệ làm ô nhiễm môi sinh rất tai hại cho sức khỏe con người. Trái đất nóng dần, nhiệt độ tăng nên khó lường được kết quả khốc hại. Người mắc bệnh tâm thần chỉ tăng chứ không giảm. Nhiều chứng bệnh kỳ lạ đă xảy ra cho loài người và súc vật (viêm phổi cấp tính, cúm gia cầm ḅ điên, v.v...)

      Chính v́ coi thường thiên nhiên, người Tây phương không t́m hiểu đến nơi đến chốn các qui luật triết học trong thiên nhiên đă chi phối đời sống loài người: luật tác động một chiều dẫn đến luật đối lập tiêu diệt (khiến một yếu tố biến mất, chỉ c̣n một yếu tố), và luật tác động hai chiều dẫn đến luật đối lập thống nhất (nên cả hai yếu tố đều tồn tại), qua các hiện tượng thiên nhiên có liên hệ trực tiếp đến đời sống con người như sáng - tối (hay ngày đêm) và nóng lạnh (để có 4 mùa xuân hạ thu đông).

      Truy rằng các khoa học gia Tây phương đă khám phá ra luật vạn vật hấp dẫn, nhưng rất có thể họ chỉ quan niệm đó là qui luật khoa học của vật chất liên quan đến vạn vật, nhất là đối với các tinh tú và hành tinh. Trên mặt đất, họ chỉ lưu tâm đến luật của sức mạnh (v́ họ thuộc các sắc dân gốc du mục), nên chỉ biết đến luật rừng mạnh được yếu thua và luật biển cá lớn nuốt cá bé (cũng chỉ là luật mạnh được yếu thua). Luật rừng và luật biển chỉ là luật tác động một chiều dẫn đến luật đối lập tiêu diệt (một mất, một c̣n). Do đó, họ không biết đến luật tác động hai chiều dẫn đến luật đối lập thống nhất (cả hai yếu tố đối lập đều tồn tại).

       Phần trên cho phép ta suy đoán rằng: chỉ có sắc dân gốc nông nghiệp, nhất là nông nghiệp trồng lúa nước (trọng t́nh cảm, hiếu ḥa, coi trọng thiên nhiên) - trong các sắc dân đó, có Việt Nam - mới có thể t́m ra được những yếu tố căn bản của nền văn hóa mới cùng những qui luật triết học làm nền tảng cho văn hóa mới.

       Các triết gia Tây phương cũng đă loại bỏ ba chủ nghĩa duy tâm, duy vật và duy sinh v́ các chủ nghĩa đó chỉ đem lại chiến tranh giữa các dân tộc, gây ra chuyện người tàn sát người nên không thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại và hạnh phúc cho loài người.

       Nói cho đúng, ba chủ nghĩa duy vật, duy tâm và duy sinh chỉ là phương tiện của con người (các nhà lănh đạo các nước tư bản, cộng sản, phát-xít) để gây ra chiến tranh với mục đích thỏa măn những tham vọng, dục vọng của họ.

      Cuối cùng, các triết gia trong Hội Nghị Triết Học Thế Giới lần thứ 18, tại nước Anh vào năm 1998, đă lấy con người làm tiền đề triết học nghĩa là lấy con người làm gốc: đó là yếu tố nhân bản của nền văn hóa mới.

      Một yếu tố nhân bản không đủ để loài người đạt đến văn minh nhân bản. Tại sao vậy? Chúng ta đều biết rằng thế giới tự do theo duy tâm, thế giới cộng sản theo duy vật và các nước phát-xít theo duy sinh, đều đă xử dụng con người trong mọi sinh hoạt liên quan đến kinh tế, chính trị, quân sự, trong thương mại, kỹ nghệ tuy rằng trên lư thuyết họ thiên về tinh thần (phái duy tâm) hay vật chất (phái duy vật) hoặc vá víu tinh thần và vật chất (phái duy sinh). Họ sử dụng con người, nhưng không tôn trọng con ng+