|
|
||
|
Con Đường
Thứ Ba
Ta
sống cả muôn năm ở trong ta, lấy sức
ngầm đó đứng lên, chuẩn bị cho thời đại
2000. Lư Đông A

Toàn
dân Việt hăy mau chóng Dậy! Dậy! Dậy! - Phan
Bội Châu
Tháng 10 năm 2004, người
Đức đă tưng bừng tổ chức lễ
kỷ niệm 15 năm ngày sụp đổ (năm 1989)
của bức tường Bá Linh mà dân Đức thường
gọi là "bức tường ô nhục" đă chia đôi
thành phố Bá Linh: một phần theo cộng sản Đông
Đức, c̣n phần kia theo Tây Đức tự do. Ngày
kỷ niệm đó đánh dấu sự cáo chung
của chế độ Cộng Sản tại Đông Đức,
khởi đầu việc thống nhất nước Đức.
I.- Con
đường thứ ba.
Ngược ḍng lịch
sử, trước đó ít lâu, tổng bí thư
đảng cộng sản Liên Sô là Gorbachev đă nhắn
bảo lănh tụ các nước Đông Âu, đại khái
như sau:
"Các anh phải
tự ḿnh thay đổi, nếu không sẽ chết. Chủ nghĩa cộng sản đă lỗi
thời rồi, không thể làm cho đất nước
thịnh vượng và đem lại hạnh phúc cho nhân
dân. Các nước Đông Âu có toàn quyền lựa
chọn con đường đi cho quốc gia: hoặc theo chủ nghĩa cộng sản như
cũ, hoặc chuyển sang chế độ tư
bản, hoặc theo một chế độ ưu việt
nào mà các anh t́m ra. Nước Nga sẽ không can thiệp vào
nội bộ các nước Đông Âu nữa."
Sau khi Liên Xô bỏ
rơi Đông Âu, dân chúng các nước Đông Âu đă
nổi lên giành độc lập cho quốc gia.
Kết quả là các nước Đông Âu như Tiệp
Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Mă Ni, v.v...
đă thoát khỏi ngục tù cộng
sản, để tiến vào con đường dân
chủ.
Cựu tổng bí thư đảng cộng sản Hung Gia
Lợi (tên rất khó đọc nên người viết
quên rồi, mong độc giả thông cảm và thứ
lỗi cho) hỏi Gorbachev: "Tôi khuyên các anh em nên theo
chủ nghĩa tư bản. Anh nghĩ
sao?"
Gorbachev đáp: "Anh lầm
rồi. Anh nên nhớ cộng sản phát sinh
ra để chống tư bản. Chúng ta có thể
nói: tư bản là chánh đề, cộng sản là
phản đề. Nếu cho tư bản là
tổng hợp đề th́ một thời gian sau đó, tư
bản sẽ lại thành chánh đề, rồi lại có
phản đề là cộng sản và hợp đề là
tư bản. Cái ṿng luẩn quẩn đó
không bao giờ chấm dứt. Như vậy, anh đă
lầm lẫn khi khuyên anh em Hung Gia Lợi theo
chế độ tư bản."
Hỏi: "Cộng sản đă
lỗi thời. Tư bản lại không
thể chấp nhận được. Vậy ta nên đi
theo con đường nào?"
Đáp: "Tôi cũng chưa
biết. Hăy tạm gọi là con đường thứ ba,
sau tư bản và cộng sản.
Tạm thời, đừng
quá khắt khe với nhân dân, trong khi đi t́m con đường
thứ ba."
Thực tại cho chúng ta
thấy các nước Đông Âu đang chập chững ngă
theo chế độ dân chủ tư
bản. Các nước Đông Âu không thiên hẳn về tư
bản hay cộng sản, để đi t́m con đường
phải theo.
Riêng biệt, nước Nga
sau một thời kỳ chuyển sang tư bản
(với Yeltsin), nay lại quay về cộng sản
(với Putin) nhưng không c̣n cứng rắn như trước.
Trung Hoa cộng sản cởi mở một
thời gian về kinh tế với Đặng Tiểu
B́nh, rồi Giang Trạch Dân nên kinh tế phát triển nhanh
chóng. Kết quả là đảng viên cộng sản
và nhà cầm quyền cộng sản trở nên giầu có
do tham nhũng, buôn lậu, v.v... c̣n dân
chúng vẫn nghèo sơ xác, đời sống vô cùng cơ
cực. Xă hội Trung Hoa đi đến chỗ băng
hoại và nhiễu loạn khắp nơi. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Hoa,
kiêm chủ tịch nhà nước hiện nay là Hồ
Cẩm Đào lại quay về cộng sản nhưng
cũng không c̣n cứng ngắc như trước.
Hai nước
Nga và Trung Hoa rơi vào ṿng luẩn quẩn như Gorbachev đă
tiên liệu.
(Nước Việt Nam rập
theo con đường của Trung Hoa,
nên xă hội Việt Nam hiện nay cũng bết bát như
xă hội Trung Hoa, có khi c̣n tệ hại hơn).
- Con đường
thứ ba như thế nào?
Xin nói ngay: con đường
thứ ba chỉ là nền văn minh nhân bản với ba
yếu tố có nhân loại tính là nhân bản, nhân tính, nhân
chủ:
- Nhân bản (lấy con người
làm gốc);
- Nhân tính (con người cư
xử với nhau theo nhân tính tức là
t́nh người, đem t́nh thương và trí tuệ
trải rộng khắp nơi: thương người như
thể thương thân, lấy nhân tính làm y cứ cho các
tổ chức xă hội);
- Nhân chủ (Con người
tự ḿnh làm chủ đời sống của chính ḿnh, để
nhân tính làm chủ tư duy và hành động, chế
ngự thú tính, mới loại bỏ được tham
vọng và dục vọng là nguồn gốc của tranh
chấp, xung đột, chiến tranh).
Nền văn minh nhân bản
dựa trên nền tảng triết học mà căn bản
là 3 qui luật:
1.- Tác động
hai chiều
2.- Đối
lập thống nhất
3.- Phân công
hợp tác
(với hàm ư:
thành tâm thiện chí, tinh thần b́nh đẳng, để
mưu cầu hạnh phúc cho cả đôi bên).
Người viết đă
tŕnh bày nền văn minh nhân bản trong nhiều bài đăng
trên tuần báo Chính Luận ở thành phố Seattle - TB
Washington, Hoa Kỳ từ năm, sáu năm nay (riêng biệt
những bài: Văn Minh Nông Nghiệp Và Đời Sống
Con Người, Dịch Và Lư Tắc Tiên Rồng, Thời Đại
2000, Dịch Và Nền Văn Minh Nhân Bản, Tâm Thức,
...).
Để độc
giả có một nhận định tổng quát và vững
tin vào tương lai nước Việt, người
viết xin ghi lại một số điểm trong
những bài trên liên quan đến việc đi t́m con đường
thứ ba của các triết gia trên thế giới (và lư do
tại sao đến ngày nay họ vẫn chưa t́m ra được).
Cuối cùng là nhân loại sẽ tiến tới con đường
tất yếu là nền văn minh nhân bản.
II.- Hội nghị triết học thế
giới
Năm 1943, hội Triết
Học Hoa Kỳ đề cử một ủy ban có 5 thành
viên, mà nhiệm vụ là nghiên cứu chiều hướng
phát triển của tri thức và sứ mệnh của
triết học, sau những biến cố xă hội, chính
trị, quân sự cùng khoa học, triết học trong
mấy chục năm đầu của thế kỷ 20,
báo hiệu một biến chuyển lớn lao trong đời
sống và tư duy của nhân loại.
Năm 1945, triết gia Brand
Blanshard (một thành viên trong ủy ban), báo cáo kết
quả cuộc nghiên cứu trong cuốn "Philosophy in
American Education": các yêu cầu lớn về triết
học là thống nhất tri thức (integration), thống
nhất tâm thức (community of mind), tái giải thích dân chủ
(reinterpretation of democracy) và triết học nhân sinh (philosophy
of life).
Triết gia
Blanhard chỉ đề nghị và thiếu phần
giải thích. Tư tưởng của
ông cô đọng quá (và lại đi trước thời đại)
nên không gây được tiếng vang nào.
Trước đó mấy năm,
nhà cách mạng Việt kiêm tư tưởng Lư Đông A đă viết nhiều tài liệu (phổ
biến từ năm 1942 đến 1945) và đưa ra
nhiều quan điểm liên hệ đến căn
bản tư tưởng về triết học. Riêng
biệt, Lư Đông A đă giải thích
rất rơ những điểm mà triết gia Hoa Kỳ đưa
ra năm 1945.
Trong tài liệu "Chià Khóa
Của Thắng Nghĩa", Lư Đông A
đă đưa ra 4 điểm căn bản là:
1/- Căn
bản nghĩa
Thực tại cho ta thấy
rằng đời sống con người gắn bó
chặt chẽ với tự nhiên (tức thiên nhiên); con người
luôn luôn tiếp xúc với người khác trong xă hội
ở mọi sinh hoạt, và luôn luôn nhờ tư tưởng
dẫn dắt trong mọi hành động.
Luật tắc của 3 phạm trù tự nhiên, xă
hội và tư tưởng cộng thông với nhau và là
một. Sự vận động,
kết hợp, lưu hành và diễn tiến của 3
phạm trù là thống nhất.
"Tự nhiên, xă
hội và tư tưởng thống nhất". Đó
là căn bản nghĩa.
2/- Căn
bản học
Ba phạm trù
"tự nhiên, xă hội và tư tưởng" thường
hằng vận động thống nhất th́ những môn
học về 3 phạm trù đó không thể tác rời nhau được
khi muốn t́m hiểu hiện tượng sống đến
tận nguồn gốc.
Khoa học là môn
học t́m ṭi sự thực của tự nhiên.
Sử học là môn
học t́m hiểu những qui luật về mọi
vận động và phát triển của tư tưởng
(trên tâm lư, triết học, lư học).
Đạo học là môn học
nghiên cứu các qui luật về mọi vận động
và phát triển của tư tưởng (trên tâm lư,
triết học, lư học)
Theo căn bản nghĩa, ta
không thể tách rời 3 môn học trên được: không
có sự phân chia sử học, khoa học và đạo
học (nói chung và triết học nói
riêng). Ba môn học đó phải thống nhất thành
một môn học duy nhất, tung hợp
lại thành những nguyên lư và luật tắc làm nhận thức
cho xă hội loài người.
"Khoa học,
sử học, đạo học thống nhất."
Đó là căn bản học.
Căn bản học này chính là điểm
"integration"
nghĩa là thống nhất tri thức của
triết gia Hoa Kỳ.
3/- Căn bản luận.
Triết học có 3 bộ
phận nền tảng cần thiết làm căn bản
luận giúp cho con người đi sát với thực
tại, v́ thực tại là tiêu chuẩn của chân lư. Đó là bản thể luận, nhận thức
luận và phương pháp luận.
- Bản thể luận suy
cứu những nguyên lư về bản chất và cứu cánh
của sự thực.
Nghiên cứu
một hiện tượng là t́m hiểu hiện tượng
đó là ǵ? Hiện tượng đó
từ đâu đến và kết thúc như thế nào?
- Nhận thức luận t́m ṭi
những quan hệ giữa tư tưởng và hiện tượng
(tâm và xác, tinh thần và vật chất, chủ quan với
khách quan, loài người với vũ trụ, v.v...). Nói một cách khác, nhận thức luận t́m
hiểu tương quan giữa chất và lượng
của hiện tượng, sự vận hành của
hiện tượng và những liên hệ của hiện tượng
đó với các hiện tượng khác trong vũ trụ.
- Phương pháp luận t́m ṭi
những đường lối, cách thức dẫn
dắt tư tưởng, kiến lập tư tưởng,
truyền thông tư tưởng để biến tư tưởng
thành hành động cụ thể bám sát thực tại.
Như vậy, muốn xây đắp
hoặc loại bỏ một hiện tượng trong đời
sống con người, ta phải có những luật
tắc về mặt tư tưởng như thế nào để
khi vận dụng vào hành động, ta phải tiến
hành theo phương pháp nào?
Trên nền
tảng "tự nhiên, xă hội và tư tưởng
thống nhất", ta phải hợp nhất 3 bộ
phận trên.
"Bản
thể luận, nhận thức luận, phương pháp
luận thống nhất".
Đó là căn bản luận.
4/- Căn
bản quan
Đời sống con người
được giải thích tùy theo tư
tưởng của mỗi phái triết học.
Phái duy tâm cho
rằng chỉ duy có tinh thần (yếu tố vô h́nh)
sản sinh ra mọi hiện tượng sống.
Phái duy vật lại quan
niệm rằng hiện tượng sống là do vật
chất (yếu tố hữu h́nh) sản sinh ra.
Phái duy sinh là triết phái trung
dung, t́m cách dung ḥa, vá víu tâm và vật, chủ trương
rằng hiện tượng sống khởi điểm
từ sinh nguyên, thực ra chỉ là cái tế bào của
hữu cơ sinh vật.
Tất cả ba
triết phái đều có xu hướng thiên lệch
giải quyết sự sống, c̣n, nối, tiến, hóa
của con người.
Thực tại cho ta thấy
rằng đời sống của con người do sự
vận động và kết hợp của 3 phạm trù
vật, tâm, sinh.
"Duy tâm, duy
vật, duy sinh thống nhất".
Đó là căn bản quan.
Quan điểm căn bản này
chính là điểm "community of mind" nghĩa là
thống nhất tâm thức (tức là thống nhất tư
tưởng) của triết gia Hoa Kỳ.
Căn bản nghĩa, căn
bản học, căn bản luận, căn bản quan là
4 chià khóa thiết yếu giúp ta có tư tưởng mới
để hiểu rơ triết học duy nhân của nhà cách
mạng Lư Đông A: đó là con đường thực
hiện nền văn minh nhân bản để đem
lại ḥa b́nh cho nhân loại. Nền văn minh nhân bản chính là con đường
thứ ba mà các triết gia trên thế giới đang đi
t́m.
(Trong cuốn Huyết Hoa, Lư Đông
A đă thẳng thắn phê b́nh nền
dân chủ tư bản của Tây phương. Triết
học nhân sinh cũng đă được Lư Đông A giải thích cặn kẽ trong cuốn Cương
Thường. Hai chữ cương thường không có
nghĩa như tam cương, ngũ thường của
Nho gia. Cương thường chỉ
mối quan hệ giữa người với người,
giữa con người với xă hội, giữa các xă
hội với nhau, với mục đích giải quyết
các vấn đề của loài người để
ổn định xă hội loài người.
Hai phần này (dân chủ và triết
lư nhân sinh) ở ngoài phạm vi con đường
thứ ba này nên người viết không đề cập đến).
Chúng ta thấy Lư Đông A
cũng như Brand Blanshard đă đi trước thời đại
khoảng 60 năm.
***
Đệ
nhị thế chiến chấm dứt năm 1945. Năm 1949, nhiều triết gia Hoa Kỳ đă
triệu tập "Hội Nghị Triết Học
Thế Giới" (lần thứ nhất) tại Honolulu để
t́m phương thức đem lại ḥa b́nh cho nhân
loại.
Triết gia lỗi lạc hàng đầu
của thế kỷ 20 là Heidegger đă thẳng thắn
tuyên bố: "Văn hóa Tây phương hỏng từ
nền tảng, đem truyền bá tới đâu th́ chỉ
gieo máu và nước mắt tới đó."
Thế kỷ 20 đă
chứng thực lời nói trên.
Nền tảng
của văn hóa Tây phương là ǵ? Đó là nền
triết học duy lư mà căn bản là luật mạnh được
yếu thua tức là luật tác động một
chiều dẫn tới luật đối lập tiêu
diệt (cộng sản gọi là mâu thuẫn hủy
diệt). Văn hóa Tây phương có nguồn
gốc là văn hóa du mục. Dân du
mục sống bằng nghề chăn nuôi súc vật.
Họ luôn luôn la hét, đánh đập thú
vật lạc đàn nên trọng sức mạnh và có tính hiếu
chiến. Do đó, các triết gia Tây phương thiên
về lư của kẻ mạnh, chỉ chú trọng đến
những việc xảy ra trên rừng núi hay trong sông
biển. Họ chỉ thấy luật rừng mạnh được
yếu thua và luật biển cá lớn nuốt cá bé
(cũng chỉ là luật mạnh được yếu
thua). Điều này đă rơ rệt trong thế kỷ 20
vừa qua: Phát Xít và Cộng Sản xử dụng luật
rừng c̣n tư bản xử dụng luật biển.
Luật mạnh được
yếu thua (tức là luật tác động một
chiều dẫn đến luật đối lập tiêu
diệt) là nguyên nhân của những biến động
trong thế kỷ 20. Người tàn sát người
bằng quân sự như Phát Xít đă thực hiện. Người
áp bức người bằng chính trị (và tàn sát người
bằng quân sự) theo chủ trương
của cộng sản. Người bóc lột người
bằng kinh tế (và tàn sát người bằng chiến
tranh) theo chính sách của tư bản.
Văn hóa Tây phương
(gốc du mục) đă gây ra các kết quả vô cùng
khốc hại cho nhân loại.
***
Chúng ta đều biết
rằng con người dù là công dân của bất cứ
quốc gia nào, bao giờ cũng có tính tốt (hay nhân tính)
và tính xấu (hay thú tính). Từ nhiều thế kỷ nay
(và riêng biệt thế kỷ 20) con người đă để
thú tính làm chủ tư duy và hành động (ngơ hầu
thỏa măn các dục vọng, tham vọng) cho nên con người
mới hành động như súc vật, nghĩa là dùng
luật rừng mạnh được yếu thua hay
luật biển cá lớn nuốt cá bé của súc vật.
Chúng ta biết rằng súc
vật không có văn hóa, c̣n con người có văn hóa. Vậy văn hóa là nội dung phân biệt giữa
con người và súc vật. Con người đă để
thú tính chỉ huy hành động của con người nên
mới xảy ra việc người tàn sát người.
Con người không thể hành động như súc
vật không có văn hóa. Con người cần phải
chuyển hóa tâm thức (nghĩa là thay đổi tư tưởng)
để suy nghĩ theo con người
có văn hóa, phải thay đổi hành động để
nhân tính làm chủ tư duy và hành động. Con người
cần phải phát huy nhân tính, để nhân tính chế
ngự thú tính, th́ con người mới dứt bỏ được
những hành động xấu xa giữa người
với người, nhất là loại bỏ hành động
người tàn sát người. Được
như thế, con người mới tỏ ra có văn hóa.
Trong bao nhiêu lâu nay, con người
đă chạy theo tiền tài, danh
vọng: con người làm nô lệ cho tiền tài, danh
vọng v́ con người chưa có tinh thần tự
chủ. Con người chưa làm chủ chính
ḿnh để tự thắng; nói cách khác, con người chưa
có tinh thần nhân chủ nên mới chưa chế ngự được
thú tính, và hành động như súc vật không có văn hóa.
Nền văn hóa
Tây phương hỏng từ nền tảng nên không
thể tiếp tục đem phổ biến trong xă hội
nhân loại được nữa. Nhiều triết
gia thấy rằng cần phải có một nền văn
hóa mới thay thế văn hóa Tây phương: đó là con đường
thứ ba để đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.
Marilyn Ferguson đă viết trong
cuốn sách The Aquarian Conspiracy (trang 422) của nhà xuất
bản Putman's Sons (New York): "... theo
nhận định của các thức giả hiện đại
Tây phương, chúng ta đang bước vào kỷ nguyên
Thái B́nh Dương, chẳng những về mặt kinh
tế mà cả về văn hóa nữa. Kỷ nguyên này có
thể tiên báo một sự kiện vô tiền khoáng
hậu: không phải là một trật tự thế
giới mới mà là một "nền văn hóa thế
giới mới".
(Trích bài của Thường Nhược
Thủy, tr. 54, cuốn Đạo Sống Việt của
tủ sách Việt Thường, xuất bản tại
Houston năm 2000).
***
Trong cuộc hội nghị
triết học thế giới lần thứ 1 (năm
1949) tại Honolulu, các triết gia đă loại bỏ
nền triết học duy lư của Tây phương, và hướng
sang Đông phương với hy vọng t́m được
một nền triết học làm nền tảng cho
nền văn hóa mới có thể đem lại ḥa b́nh cho
nhân loại. Các triết gia chỉ thấy có ba khuôn mặt
lớn là Thích Ca Mâu Ni, Lăo Tử và Khổng Tử, thủy
tổ của Phật Giáo, Lăo Giáo và Khổng Giáo.
Các triết gia trên thế
giới loại bỏ ngay Thích Ca là vị sáng lập ra
Phật Giáo v́ không muốn dính líu đến tôn giáo, e
ngại phản ứng của những giáo phái khác (như
Ki-tô Giáo, Hồi Giáo, v.v...) có thể xảy ra chiến tranh
tôn giáo th́ đương nhiên không thể đem lại ḥa
b́nh cho nhân loại.
Chỉ c̣n lại
Lăo Tử và Khổng Tử.
1.- Lăo
Tử
Lăo Tử tên là Lư Nhĩ,
tự Lăo Đam, sinh tại nước Sở khoảng 500
năm trước Công Nguyên (TCN), đồng thời
với Thích Ca và Khổng Tử. Lăo Tử nổi danh là một
đại hiền triết của nước Sở,
thuộc Bách Việt.
(Năm 214 TCN, nước
Sở bị Tần Thủy Hoàng thôn tính, rồi sát
nhập vào Trung Hoa, nên sử sách Trung Hoa đều gọi
Lăo Tử là người Hoa - chứ không nói Lăo Tử là người
Bách Việt - nên nhiều nhà trí thức Việt Nam vẫn đinh
ninh rằng Lăo Tử là người Hoa).
Lăo Tử soạn
ra cuốn Đạo Đức Kinh vào thời Chiến
Quốc (736-221 TCN) luôn luôn có chiến tranh giữa các nước
của Trung Hoa. Chủ trương của Lăo Tử
là nên sống theo đạo tức là
theo luật tuần hoàn của thiên nhiên (hay tự nhiên).
Đạo là
mẹ của vạn vật. Đạo
sinh ra âm dương, từ đó mới có trời đất,
rồi vạn vật. Muôn loài sinh ra, rồi lại
trở về đạo: đó là luật tuần hoàn
của tự nhiên.
Từ đạo mới có đức:
đạo bao la c̣n đức ở trong con người. Sống hợp với đạo là người
có đức.
Chủ trương
của Lăo là không làm điều ǵ trái với tự nhiên.
Hậu thế gọi là thuyết vô vi,
nên cho Lăo là bi quan, yếm thế, xa lià trần thế, th́
xă hội không thể có tiến bộ và đạt tới
văn minh được.
Có điểm nên lưu
ư là Lăo Tử không có quan niệm Thượng Đế, c̣n
Khổng Tử đề cao thiên mệnh.
Sống theo
chủ trương của Lăo, con người mới
chế ngự được tham vọng, dục vọng
là nguyên nhân của tranh chấp, xung đột, chiến
tranh.
Lăo Tử thấy
xă hội loạn ly thời chiến quốc, khó có thể đem
đạo ra phổ biến được, nên Lăo bỏ
vào núi rồi mất tích.
Sử sách Trung
Hoa xuyên tạc, bảo Lăo Tử vào núi tu tiên, nên sinh ra Đạo
Giáo Thần Tiên, về sau lại thêm Đạo Giáo Phù
Thủy đầy mê tín dị đoan. Các triết gia
Tây phương có thể không ngờ đến sự xuyên
tạc của người Hoa, nên cũng loại bỏ
luôn Lăo Tử, tuy rằng có một số triết gia đă
nhận định: "Cuốn Đạo Đức Kinh
của Lăo Tử chỉ có khoảng 5.000 chữ (xin
nhớ: năm ngàn chữ) mà chứa đựng tất
cả sự khôn ngoan của loài người."
Kết quả là
chỉ c̣n lại Khổng Tử.
2.-
Khổng Tử
Khổng Tử
(551-479 TCN) tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh tại nước
Lỗ (tỉnh Sơn Đông thuộc Đông Bắc Trung
Hoa). Sau khi đi du học vào năm 28
tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ để
dạy học.
Về sau,
Khổng được vua Lỗ cử giữ chức tương
tự tể tướng. Chỉ bảy ngày sau,
Khổng hạ lệnh chém đầu một đại
phu; giữ chức được 15 ngày, Khổng Tử ra
lệnh chém đầu hai tử tội, mà không khoan dung
giảm tội cho họ (không biết ḷng nhân của
Khổng Tử có không, mà các môn sinh của Khổng Tử đă
đề cao chữ nhân (?) khởi điểm cho ngũ thường
là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.)
Để rơ ḷng dạ của
Khổng, xin ghi thêm ư kiến của Vương Sóc, nhà văn
nổi tiếng hàng thứ ba sau Lỗ Tấn và Kim Dung, đă
viết trong cuốn sách: "Người đẹp
tặng ta thuốc bùa mê" (trang 172):
Ông ta (Khổng Tử) đi chu du một loạt nước, chẳng qua
là để kiếm một chút chức tước. Ông ta nói nhân nghĩa, nhưng khi đă được
làm quan rồi th́ cũng độc ác tàn nhẫn như thường;
làm được mấy ngày chức đại tư
khấu th́ giết luôn Thiếu Chính Măo.
Như vậy, Khổng đă
"nói một đằng, làm một nẻo" không khác
ǵ bọn gian thương "treo đầu dê, bán thịt
chó" theo tục ngữ Việt.
Khổng chủ trương
dùng chính danh (danh chính th́ ngôn thuận). Nếu danh không
chính th́ ngôn không thuận nên luật lệ sẽ không được
nghiêm minh: đó là nguồn gốc của loạn ly.
Về sau, vua Lỗ ham mê
nữ sắc, lơ là việc triều chính nên Khổng xin
từ chức.
Khổng chú trọng đến
sự liên hệ giữa trời-đất-người
(thiên địa nhân) và chủ trương con người
phải chịu mệnh trời (thiên mệnh), nên phải
phục ṭng con trời là thiên tử nhà Chu, thay
trời trị dân. Do đó, Khổng chủ trương
các nước chư hầu phải
phục ṭng nhà Chu.
Sau khi từ chức ở nước
Lỗ, Khổng đi chu du các nước Vệ, Tấn
rồi Tống. Nước nào cũng ở t́nh trạng
loạn ly, giặc dă khắp nơi nên không có nước
nào trọng dụng Khổng. Mục đích của
Khổng là muốn kiếm một chức tước
tại một nước, rồi thuyết phục các nước
chư hầu phải xem nhà Chu là minh chủ, nhưng
Khổng đă thất bại, v́ nước nào cũng muốn
trở nên mạnh để thôn tính nước khác,
thống nhất thiên hạ chứ không chịu phục
ṭng nhà Chu.
Sau cùng Khổng
trở về nước Lỗ, san định lại các
sách và dạy học. Khổng mất năm
479 TCN, hưởng thọ 72 tuổi. Môn
sinh của Khổng đông khoảng ba ngàn người, suy
tôn Khổng là bậc đại hiền, là vạn thế
sư.
Ghi thêm:
Nước Đại
Việt vào thời Hậu Lê đă đưa Nho Giáo của
Khổng lên hàng mạnh nhất trong Tam Giáo (Nho, Lăo,
Phật). Các nhà khoa bảng thời đó và các
triều đại sau đều đề cao tư tưởng
tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ của
Khổng (gọi tắt là tu, tề, trị, b́nh). Ngày nay, nhiều nhà trí thức, đại trí
thức Việt Nam cũng đề cao chủ trương
đó và coi như khuôn vàng thước ngọc phải
thực hiện. Chúng ta hăy xét quan điểm
này.
Tu thân: đây là điều cần
thiết cho tất cả mọi người. Tu thân để trở thành con người đức
độ, được mọi người kính nể
th́ mọi việc sẽ được giải quyết
dễ dàng.
Câu viết cho ta thấy
rằng: tu thân để tề gia, rồi trị quốc,
sau đó là b́nh thiên hạ. Theo quan điểm của
Khổng, tề gia th́ có t́nh trạng chồng chúa vợ tôi
trong gia đ́nh; trị quốc th́ xă hội theo
chủ trương trọng nam khinh nữ.
B́nh thiên hạ: các nước chư hầu thời Chiến Quốc
phải tuân theo mệnh lệnh của thiên tử nhà Chu.
Theo chủ trương của Khổng, nước nào cưỡng
lại, không chịu phục ṭng nhà Chu th́ nước bá
chủ (nước chư hầu mạnh nhất) sẽ đem
quân binh đến hỏi tội để buộc nước
đó phải trở về là nước chư hầu và
tuân theo mệnh lệnh nhà Chu: Khổng chủ trương
dùng quân sự để b́nh định thiên hạ bất
phục ṭng nhà Chu.
Chúng ta thấy đây là năo
trạng của con người gốc du mục (trọng
sức mạnh, trọng nam khinh nữ, trọng kỷ
luật). Các sắc dân du mục theo
luật mạnh được yếu thua nên nước
mạnh dùng chiến tranh để khuất phục nước
yếu.
Chủ trương
tu tề trị b́nh của Khổng Giáo chỉ thích hợp
với nước Trung Hoa (gốc văn hóa du mục),
chứ không phù hợp với xă hội Việt (gốc văn
hóa nông nghiệp).
Đối với nước
Việt có gốc văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước,
người dân Việt thiên về t́nh cảm (chứ không
thiên về sức mạnh), chủ trương nam nữ
b́nh đẳng để phân công hợp tác trong xă hội
(nông nghiệp) cũng như trong gia đ́nh. Do đó, không
hề có t́nh trạng trọng nam khinh nữ trong xă hội
và chồng chúa vợ tôi trong gia đ́nh. Chủ
trương tề trị b́nh không thích hợp với dân
Việt. Chủ trương bành trướng của
tộc Hoa gốc du mục sang các nước láng giềng,
vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay).
Sau khi Hán Cao Tổ thống
nhất Trung Hoa - trong đó có việc sát nhập Bách
Việt - các vua những triều đại về sau như
Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, rồi đến
các lănh tụ Trung Hoa Quốc Gia như Tôn Dật Tiên, Tưởng
Giới Thạch và gần đây các lănh tụ Trung Hoa
Cộng Sản như Mao Trạch Đông, Đặng
Tiểu B́nh, Giang Trạch Dân và hiện nay là Hồ Cẩm Đào
đều mắc "hội chứng Đại Hán"
nên tất cả đều muốn bành trướng đất
đai (b́nh thiên hạ và sau này là thiên triều Hán tộc
chủ nghĩa) ra chung quanh; riêng biệt, các lănh tụ Trung
Hoa đều muốn thôn tính Việt Nam để làm bàn đạp
tiến xuống phương Nam, làm bá chủ vùng Đông
Nam Á, sau đó đến thiên hạ. Lịch
sử Việt đă nhiều lần chứng minh dă tâm đó
của người Hoa.
Người Việt hiện
nay cần đề cao cảnh giác về giấc mộng
xâm lăng của người Hoa.
Tiếc thay, từ triều đại
Hậu Lê đến triều đại Nguyễn (Gia Long),
các sĩ tử Việt khi đă đậu cử nhân,
tiến sĩ Hán học, được bổ ra làm quan, đều
đem thực thi những điều đă học trong
Tứ Thư Ngũ Kinh của Khổng Giáo (mà họ đề
cao là chữ nghĩa thánh hiền) nên mới phát sinh
(tại thành thị) t́nh trạng trọng nam khinh nữ
trong xă hội Việt và t́nh cảnh chồng chúa vợ tôi
trong gia đ́nh. Tinh thần "mặc
cảm tự ty dân tộc" cũng đă nảy sinh,
rồi đầu óc vọng ngoại (Trung Hoa) cũng
nảy nở.
Nông dân Việt
bị ảnh hưởng rất ít nhờ có hương ước
và tinh thần ḥa cả làng nên nông dân Việt vẫn duy tŕ được
tính phân công hợp tác trong gia đ́nh và thôn xóm xă ấp,
chủ trương nam nữ b́nh đẳng vẫn y
nguyên, không thay đổi. Tinh thần vọng
ngoại cũng chưa phát sinh nên nông dân Việt vẫn duy
tŕ được tinh thần bất khuất, nhất
quyết chống trả các cuộc xâm lăng
của ngoại bang.
Cho đến ngày nay, rất
nhiều nhà trí thức Việt không nghĩ rằng t́nh
trạng trọng nam khinh nữ và t́nh cảnh chồng chúa
vợ tôi chỉ mới có tại đất Việt
khoảng năm, sáu trăm năm nay (từ thời
Hậu Lê khi Nho Giáo trở nên mạnh nhất trong Tam Giáo),
mà lại cho rằng đó là truyền thống của văn
hóa Việt. Thật đáng chê trách. Tinh
thần "mặc cảm tự ti dân tộc" vẫn
c̣n tồn tại ở nhiều nhà trí thức (theo văn hóa Tây phương); từ đó
phát sinh ra tinh thần trọng ngoại, úy ngoại rồi
vọng ngoại. Tinh thần yếu đuối
này đến bao giờ mới chấm dứt? Thật đáng buồn cho đa số những
khoa bảng, trí thức Việt.
III.- Nền văn minh nhân bản
Trở lại Hội Nghị
Triết Học Thế Giới lần thứ nhất vào năm
1949 tại Honolulu, sau khi đă loại bỏ Thích Ca và Lăo
Tử, chỉ c̣n lại Khổng Tử, các triết gia Tây
phương không c̣n sự lựa chọn nào nữa, đành
chấp nhận Khổng Tử làm "nhạc trưởng"
cho cuộc ḥa tấu bản nhạc ḥa b́nh, với
niềm hy vọng triết học của Khổng có
thể đem lại ḥa b́nh cho nhân loại.
Qua vài kỳ họp kế
tiếp, các triết gia mới nhận ra rằng chính
triết thuyết của Khổng cũng không đem
lại được ḥa b́nh cho nước Lỗ (quê hương
của Khổng) và Trung Hoa th́ triết thuyết của
Khổng làm sao có thể đem lại ḥa b́nh cho nhân
loại đang sống trong một thế giới chỉ
thấy chiến tranh và chiến tranh, không khác ǵ thời
Chiến Quốc của Trung Hoa lúc sinh thời của
Khổng. Các triết gia lại loại bỏ nốt
Khổng Tử, rồi tiếp tục họp để
t́m con đường thứ ba với nền văn hóa
mới.
Trong gần 50 năm (1949-1998)
với 17 phiên họp, các triết gia trên thế giới
vẫn chưa t́m ra được phương thức xây
dựng nền ḥa b́nh cho nhân loại.
Đến năm
1998, các triết gia triệu tập Hội Nghị
Triết Học Thế Giới lần thứ 18 tại nước
Anh.
Hội nghị
qui tụ hơn 200 triết gia thuộc 70 phái đoàn các nước.
Ba phái đoàn Hoa Kỳ, Pháp và Nga có nhiều
triết gia hơn cả. Các triết gia và giáo sư
triết học đă loại bỏ chủ nghĩa duy tâm,
suy vật, duy sinh và nh́n thẳng vào thực tại: vấn
đề của loài người phải do con người
định đoạt. Con người đă gây ra
chiến tranh th́ chính con người mới xây dựng được
ḥa b́nh, chứ không phải là ư muốn của thần linh
hay thượng đế.
Các triết gia đă đưa
ra các chủ đề về con người như sau:
- Thực thể con người
với tính cách là đối tượng của triết
học;
- Thực thể con người:
bản chất, tinh thần và tính cộng động;
- Lịch sử xă hội và con
người
- Vai tṛ nhận thức của
con người;
- Hiện tại và tương
lai của nhân loại.
Như vậy, các triết gia đă
lấy con người làm tiền đề triết
học, nghĩa là lấy con người làm gốc: đó
là yếu tố nhân bản (nhân=người;
bản=gốc) của nền văn hóa mới.
Các triết gia
mới chỉ thấy một yếu tố về nền
văn hóa mới. Ngoài vấn đề
nhân bản, họ cũng chưa có thêm ư kiến ǵ khác và
cũng chưa t́m ra nền triết học làm nền
tảng cho nền văn hóa mới.
Chúng ta nên biết rằng:
lấy con người làm gốc th́ mọi hiện tượng
sống được tạo ra bởi người, v́ người
và cho người. Do đó, sứ mệnh của con người
trong xă hội là phục vụ người, v́ người,
cho người, chứ không phải v́ tham vọng, dục
vọng, v́ tiền tài danh vọng. Từ những điểm
căn bản đó, chúng ta mới có thể t́m ra những
yếu tố nhân loại tính của nền văn hóa
mới cùng những qui luật triết học làm nền
tảng cho nền văn hóa mới.
Tại sao các
triết gia trên thế giới lại chưa t́m ra phương
thức đem lại ḥa b́nh cho nhân loại?
Chúng ta có thể nói: các
triết gia Tây phương thuộc sắc dân gốc du
mục (đặc tính là: trọng sức mạnh, hiếu
chiến, coi thường thiên nhiên) nên trong nhiều thế
kỷ nay, họ chỉ quan tâm đến lư của kẻ
mạnh (luật mạnh được yếu thua).
Chúng ta biết
rằng dân gốc du mục di chuyển nay đây mai đó.
Nơi nào có đồng cỏ mênh mông để nuôi súc
vật là họ dừng chân ở đó, nên dân du mục
không quan tâm đến địa lư, khí hậu; do đó,
họ không coi trọng thiên nhiên.
Trời nắng quá nhiều gây
ra hạn hán, hoặc khí hậu quá lạnh, tuyết rơi
nhiều, hay trời giông băo, dân du mục sẽ bỏ ngay
nơi đó để đi đến nơi khác mà
thời tiết không khắc nghiệt. Do đó, khí hậu,
thời tiết đối với dân du mục không quan
trọng bằng những cánh đồng cỏ. Đó là nguyên nhân của tinh thần coi thường
thiên nhiên. Với tâm trạng đó, người
Tây phương mới t́m cách chinh phục thiên nhiên.
Ngoài ra, thiên nhiên có thể tiêu
diệt con người do các thiên tai như
giông băo, lụt lội, động đất, cháy
rừng, v.v... nên người Tây phương
coi thiên nhiên như kẻ thù. Họ không
thể tiêu diệt được thiên nhiên nên họ t́m
cách chế ngự thiên nhiên. Từ suy
nghĩ đó, người Tây phương mới t́m cách đổ
bộ xuống mặt trăng, phóng vệ tinh lên không trung để
thám hiểm Hỏa tinh. Họ cũng t́m
cách cải biến genes của cây thực phẩm, súc
vật để tăng gia sản xuất (họ chỉ
lưu tâm đến lượng chứ không nghĩ đến
phẩm). Họ c̣n thực hiện
sản sinh vô tính để đoạt quyền Tạo Hóa.
V́ coi thường
thiên nhiên, người Tây phương không có quan niệm
rộng răi về âm dương nên mới chấp nhận đồng
tính luyến ái.
Tâm lư coi thường thiên nhiên
khiến người Tây phương chịu khó t́m ṭi, sáng tạo nên khoa học mới phát
triển mạnh, từ đó đời sống vật
chất của con người mỗi ngày mỗi tươi
đẹp hơn. Tuy nhiên, sự phát triển công, kỹ
nghệ làm ô nhiễm môi sinh rất tai
hại cho sức khỏe con người. Trái
đất nóng dần, nhiệt độ tăng nên khó lường
được kết quả khốc hại. Người
mắc bệnh tâm thần chỉ tăng chứ không
giảm. Nhiều chứng bệnh kỳ lạ đă
xảy ra cho loài người và súc vật (viêm phổi
cấp tính, cúm gia cầm ḅ điên, v.v...)
Chính v́ coi thường thiên
nhiên, người Tây phương không t́m hiểu đến
nơi đến chốn các qui luật triết học
trong thiên nhiên đă chi phối đời sống loài người:
luật tác động một chiều dẫn đến
luật đối lập tiêu diệt (khiến một
yếu tố biến mất, chỉ c̣n một yếu
tố), và luật tác động hai chiều dẫn đến
luật đối lập thống nhất (nên cả hai
yếu tố đều tồn tại), qua các hiện tượng
thiên nhiên có liên hệ trực tiếp đến đời
sống con người như sáng - tối (hay ngày đêm)
và nóng lạnh (để có 4 mùa xuân hạ thu đông).
Truy rằng các khoa học gia
Tây phương đă khám phá ra luật vạn vật
hấp dẫn, nhưng rất có thể họ chỉ quan
niệm đó là qui luật khoa học của vật
chất liên quan đến vạn vật, nhất là đối
với các tinh tú và hành tinh. Trên mặt đất, họ
chỉ lưu tâm đến luật của sức mạnh
(v́ họ thuộc các sắc dân gốc du mục), nên
chỉ biết đến luật rừng mạnh được
yếu thua và luật biển cá lớn nuốt cá bé
(cũng chỉ là luật mạnh được yếu
thua). Luật rừng và luật biển
chỉ là luật tác động một chiều dẫn đến
luật đối lập tiêu diệt (một mất,
một c̣n). Do đó, họ không biết đến
luật tác động hai chiều dẫn đến
luật đối lập thống nhất (cả hai
yếu tố đối lập đều tồn
tại).
Phần trên cho phép ta suy đoán
rằng: chỉ có sắc dân gốc nông nghiệp, nhất
là nông nghiệp trồng lúa nước (trọng t́nh
cảm, hiếu ḥa, coi trọng thiên nhiên) - trong các sắc
dân đó, có Việt Nam - mới có thể t́m ra được
những yếu tố căn bản của nền văn
hóa mới cùng những qui luật triết học làm
nền tảng cho văn hóa mới.
Các triết gia Tây phương
cũng đă loại bỏ ba chủ nghĩa duy tâm, duy
vật và duy sinh v́ các chủ nghĩa đó chỉ đem
lại chiến tranh giữa các dân tộc, gây ra chuyện
người tàn sát người nên không thể đem
lại ḥa b́nh cho nhân loại và hạnh phúc cho loài người.
Nói cho đúng, ba
chủ nghĩa duy vật, duy tâm và duy sinh chỉ là phương
tiện của con người (các nhà lănh đạo các nước
tư bản, cộng sản, phát-xít) để gây ra
chiến tranh với mục đích thỏa măn những tham
vọng, dục vọng của họ.
Cuối cùng, các triết gia
trong Hội Nghị Triết Học Thế Giới lần
thứ 18, tại nước Anh vào năm 1998, đă
lấy con người làm tiền đề triết
học nghĩa là lấy con người làm gốc: đó
là yếu tố nhân bản của nền văn hóa
mới.
Một yếu tố nhân bản không đủ để loài người đạt đến văn minh nhân bản. Tại sao vậy? Chúng ta đều biết rằng thế giới tự do theo duy tâm, thế giới cộng sản theo duy vật và các nước phát-xít theo duy sinh, đều đă xử dụng con người trong mọi sinh hoạt liên quan đến kinh tế, chính trị, quân sự, trong thương mại, kỹ nghệ tuy rằng trên lư thuyết họ thiên về tinh thần (phái duy tâm) hay vật chất (phái duy vật) hoặc vá víu tinh thần và vật chất (phái duy sinh). Họ sử dụng con người, nhưng không tôn trọng con ng+