|
|
||
|
|
Thưa quí vị, Một sinh hoạt văn
hóa qui mô trong tháng 10
tại San Jose là Họp Mặt Văn Hoá và
Tư Tưởng Việt 2005 (HMVH2005) tại San Jose State
University . Sinh hoạt trong 2 ngày 8 và 9/10 , từ 8 giờ
sáng đến 5 gị chiều mỗi ngày, với
chương tŕng gồm 20 đề tài thuyết tŕnh, 20
diễn giả đến từ khắp nơi, thêm 3
cuộc hội luận cộng với Ddêm Nhạc
Hội T́m Về Cội Nguồn cho thấy đây là
một sinh hoạt qui mô, được chuẩn bị
công phu , phối hợp hai thế hệ già trẻ. V́ không tham dự
được đầy đủ toàn thể 2 buổi
họp mặt nên chỉ xin đưa ra một nhận
xét : ngày đầu th́ số người tham dự mà chân tóc đă bạc chiếm
đa số và ngày hôm sau th́ ngược lại, số người
mà chân tóc c̣n đen đă trội hẳn. CVA Lưu Văn Vịnh
tham gia tích cực vào sinh hoạt văn hóa này , đă
thuyết tŕnh về đề tài " Mẫu
Người Hiền Lành của Văn Hóa Hữu
Lễ" , điều
hợp buổi Hội
Luận III " Nghệ thuật Việt so với Tây và
Tàu " và kiêm luôn việc ...nhắc ...gần ...hết
giờ cho các diễn giả
chưa nói hết . Xin chuyển đến
quư vị bài nói truyện "Mẫu Người Hiền của
Văn Hóa Hữu Lễ " trên của CVA Lưu Văn
Vịnh . Phạm Huy Thịnh |
MẪU NGƯỜI HIỀN CỦA VĂN HÓA
HỮU LỄ
LƯU VĂN
VỊNH
·
Kết tinh Văn Hóa Hữu Lễ Việt: mẫu người Hiền Lành
· Kinh
nghiệm thịnh trị Lư-Trần: dân bản, văn ôn vũ luyện, dung hóa khai phóng.
· Cách
mạng giáo dục - Người
Hiền lành trong văn minh kỹ thuật
· Ai đào tạo Mẫu
người Hiền ?
MẪU NGƯỜI VĂN
HÓA VIỆT: Người Hiền
Lành
Mỗi
nền văn hóa đều tạo nên một mẫu
người ( exemplary person, role model, hay Pháp ngữ: homme
type), mẫu người Quân tử của Nho giáo, mẫu
người Lịch sự quư phái-gentleman của Anh
quốc, mẫu người Hiệp sĩ samurai của
Nhật bản, mẫu người đạo sĩ-yogi
của Ấn độ, tiên của Lăo Trang, thiện trí
thức của Phật.. chưa kể
các mẫu người khác, như người công dân
tốt - bon citoyen của Pháp, mẫu người kinh doanh
quản trị của xă hội kinh thương
mới-businessman, entrepreneur, mẫu người hùng siêu nhân
của Nietzsche..Xă hội Việt Nam, cả hai ngh́n năm
thấm nhuần văn hóa Tam giáo, cả ba ngh́n năm
đặt căn bản trên làng xă lũy tre xanh, hẳn
cũng kết tinh một mẫu người lư
tưởng b́nh dân thuần túy dân tộc: đấy là
mẫu người HIỀN LÀNH.
Thật vậy, trong ngôn
ngữ Việt, phẩm từ HIỀN được dùng
nhiều nhất để chỉ định một
người TỐT: Mẹ
hiền, vợ hiền, cha hiền, anh hiền, chị
hiền, vua hiền, tôi hiền..hiền
như Bụt, ở hiền gặp lành... hay hiền
như ma soeur!
Thế
nào là HIỀN ?
Khi nói
Ở hiền gặp lành,
th́ cũng như nói làm Phước th́ có Đức, cha mẹ hiền lành để
đức cho con, ngược lại với câu “Đời cha ăn mặn
đời con khát nước”, đó là lối nói b́nh dân
diễn ư nhân quả,..một cách thiết thực nôm na.
Người hiền lành chính là người lương
thiện, có đức, có độ lượng..là đối cực của ác, bất
lương, hung dữ.
HIỀN
LÀNH trong tiếng Việt hơi khác với Hiền trong
chữ Nho, hiền giả,
hiền triết,hiền tài (như thất thập nhị
hiền), khi nói mẹ hiền, vua hiền..ta không có ư nói người mẹ hiền
triết, hay ông vua hiền giả, mà chỉ giản dị
nói bà mẹ hiền lành, chiều chồng thương con,
ông vua hiền từ, thương dân..Khi nói ông Tô Hiến
Thành là bậc tôi hiền th́ không có nghĩa là hiền
như cục đất, hay hiền triết cao xa, mà
nghiêng về nghĩa người lương thiện, có
khả năng đức độ chăm lo việc
nước, hiền ḥa với mọi người.
HIỀN
trong tiềm thức Việt bao gồm ư nghĩa: hiền lành, hiền lương,
hiền hậu, hiền ḥa..hơn là
hiền tài, hiền triết, hiền giả, mặc
dầu nội dung của HIỀN nôm na và HIỀN nho bao
bọc nhau, hiền thê hay vợ hiền cũng cùng
một ư.
Người
Hiền là mẫu người lư tưởng của dân
Việt, được mọi người ngưỡng
mộ, khi ở cấp quốc gia, như vua Hùng gặp
giặc Ân phải đi cầu hiền đánh giặc,
triều Trần xây gác Tập Hiền (1280) trong thành
Thăng Long để quy tụ các người hiền
trong dân gian theo truyền thống vua dân một ḷng của
hội nghị Diên Hồng..Chúa Nguyễn trọng dụng
người hiền Đào Duy Từ, vua Quang Trung vời
người hiền La sơn phu tử..ra
giúp nước v.. v..khi
ở nghĩa b́nh dân, người tốt, hiền lành, không
hại ai.
Cũng
có thể nói mẫu người HIỀN LÀNH Việt Nam là
kết tinh của văn hóa hiếu ḥa dân tộc, bao dung
nhân bản, đồng tôn mọi đạo giáo, chủng
tộc, là ước mơ của người dân
được sống yên lành, là mục tiêu của giáo
dục lễ giáo, lấy LỄ NGHĨA hun đúc con
người, tước bỏ thú tính hung ác, bồi
đắp nhân tính, Hiền từ bên trong, Lành ra bên ngoài,
tạo dựng một xă hội văn hóa HỮU LỄ,
tránh sát phạt nhau, tránh tiêu diệt nhau, tránh bạo
động..Mẫu người Hiền Lành Việt là kết
tinh của đức từ bi nhẫn nhục, đức
vô vi nhân ái thương
người như thể thương thân, mà
người dân yêu mến kính trọng, là lư tưởng
giáo huấn của cổ nhân nhằm xây dựng một xă
hội trên thuận dưới ḥa với bậc thang giá
trị tinh thần sĩ, nông,
công, thương, hay theo đôi mắt của
người phụ nữ về người đàn ông lư
tưởng: chẳng tham
ruộng cả ao liền, tham v́ cái bút cái nghiên anh
đồ... hoặc mong ước của bậc cha
mẹ có dâu hiền rể
thảo.
Lễ phép hiền ḥa là đầu mối của
một xă hội nhân bản, làm sao có làng xóm yên vui nếu
không giữ lễ phép với nhau? Bỏ lễ phép, cá mè
một lứa, xă hội gẫy đổ tán loạn, dân
chủ b́nh đẳng hiểu lệch lạc dẫn
tới độc tài phong kiến mới, do bè nhóm bất
lương, bất thiện, gian tham, lôi kéo lương dân
vào địa ngục thù hận giai cấp đấu tranh
hoặc lấy tiền tài quyền thế chèn ép nhau.
Mẫu
người Hiền Lành quả là kết tinh cần
thiết để thực hiện một xă hội thanh
b́nh, ổn định, dân chúng cần người hiền
hơn là cần người tài, v́ như Nguyễn Du kinh
nghiệm:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với
chữ tai một vần
Tài
dễ mang đến tai họa cho người và cho ḿnh,
hiền tạo sự lành cho tất cả, nhiều
người tài đưa tới tranh chấp, nhiều
người hiền mang tới an lạc ..cho
nên cổ nhân có tôn trọng kẻ sĩ, có tài, có học,
th́ cũng không bao giờ quên “chiêu
hiền đăi sĩ”, nghĩa là người Hiền
tiêu biểu cho đức độ, luôn luôn
được đề cao bên cạnh kẻ sĩ, tiêu
biểu cho trí óc. Nhưng, dường như cổ nhân
đặt hiền trước sĩ, hiền là con
người từ thứ dân đến thiên tử
đều kính trọng, c̣n sĩ vẫn là người
xuất thân cửa Khổng sân Tŕnh, vẫn c̣n vướng
vào khoa bảng sách vở, vẫn là người
được Tiến Cử
lên vua..hiền có thể xuất thân b́nh
dân, có thể không khoa bảng, lấy đức độ
khoan dung làm cách xử thế tiếp vật, vua cầu
hiền chứ hiền không quỵ lụy vua..Hiền
vượt trên danh lợi tham sân si, hiền ở
đẳng cấp giai tầng nào cũng là người
lành, người tốt, cảm hóa được quần
chúng..Tài giỏi là một phẩm tính,
hiền lành là một đức tính, khi cổ nhân
đặt tiến tŕnh giáo dục nhân cách tu, tề, trị, b́nh, th́ tu, tề nghiêng
về đức tính HIỀN, trị,
b́nh nghiêng về TÀI, hiền
là gốc, tài là ngọn, có đủ hai, HIỀN TÀI, th́ càng
hay, c̣n không th́ phải giữ lấy gốc HIỀN
trước, bàn dân thiên hạ không phải ai cũng có tài
năng, nhưng nếu mọi người đều
hiền lành th́ xă hội mới trở thành an lạc thanh
b́nh, một thiên đường dưới thế. Lư Thánh
Tôn, Trần Nhân Tôn..là những ông vua
hiền, dân chúng yêu mến, xă hội an lạc, Lê Lợi,
Nguyễn Huệ là những ông vua tài, uy vũ, nhưng không
phải là những ông vua hiền... đức trị, nhân trị và vơ trị rất khác biệt nhau vậy.
Một
sai lầm trầm trọng của nền giáo dục
từ chương, thời Tống Nho khoa bảng, và
nhất là nền giáo dục Tây phương hiện
tại, là học đường chú trọng tới
việc rèn luyện Tài năng, nhồi nhét kiến
thức, mà lơ là hoặc bỏ quên gốc giáo dục
tôi luyện tính Hiền Lành. Mục đích của giáo dục
đúng nghĩa là tước bỏ thú tính của con
người, rèn luyện tu tập thành mẫu người
văn vẻ (civilized), chẳng khác ǵ luyện mănh thú, hoang
thú, thành hiền ḥa ngoan ngoăn, sống cạnh nhau, tôn
trọng nhau, biết kính biết nhường, ư thức
nhân vị nhân tính.
Trong
thời đại văn minh kỹ thuật, bên cạnh
việc giáo dục trọng kỹ thuật, ta c̣n cần
phát huy gốc giáo dục trọng LỄ của cổ nhân,
nói như Nă Phá Luân, phải giáo dục con em từ 30 năm
trước khi chúng ra đời, nghĩa là giáo dục
chính cha mẹ, thày cô ở học đường.
Văn
hóa Việt Nam cốt tủy là văn hóa HỮU LỄ qua
cách xưng hô theo ngôi thứ gia tộc: cô d́ chú bác anh em con cháu ông cụ... hậu thế
cần bồi đắp văn hóa gốc nguồn này
bằng một nền giáo dục nhắm đào tạo
mẫu người HIỀN LÀNH, kết tinh của văn
hóa Bách Việt Hữu Lễ, chính là lư tưởng sâu
rễ bền gốc của giống ṇi Việt vậy.
KINH NGHIỆM THỊNH
TRỊ ĐỜI LƯ-TRẦN
Không
phải tự nhiên Trời cho mà hai triều Lư Trần
sản sinh vô kể lương tướng tôi hiền,
suốt 400 năm hai đời Lư Trần đă thành công v́
giữ vững ba cơ sở tinh thần dân tộc sau
đây:
1.Cơ sở tinh thần dân bản Hùng Vương.
Tuy bị Tầu đô hộ gần ngàn năm, tinh
thần dân bản Văn Lang vẫn kiên thủ ở làng xă
và tới Đinh, Lê, Lư, Trần tinh thần này lại có
dịp vươn lên. Các vua quan thời Lư, Trần rất gần
gũi với dân, vua Lư lấy áo đắp cho người
già yếu, vua Trần và hoàng thích “gá chân nhau nằm ngủ”, tướng sĩ coi
nhau như cha con anh em (đặc biệt là Phạm Ngũ
Lăo), lúc quốc biến th́ Vua cẩn trọng hội ư bô
lăo toàn quốc (trọng lễ),
lúc tuyển tướng chọn quân th́ dựa trên
đức độ hiền tài (trọng hiền) nên những người áo
vải dân đen như Phạm Ngũ Lăo ngồi đan
sọt, Trần Khánh Dư bán than, Nguyễn Khoái, Yết
Kiêu, Dă Tượng... đều có
dịp lập công với nước. Tinh thần dân
bản này đă huy động được toàn dân
từ làng xóm thôn quê, từ tận “đáy” dân tộc, nên Lư
Thường Kiệt mới phá Tống b́nh Chiêm, Hưng
Đạo mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng
tự lực tự cường, không có ngoại viện
nào đằng sau.
2-Cơ sở giáo dục
văn ôn vũ luyện
Đạo
học của đời Lư Trần nhằm đào tạo
người quân b́nh văn vơ, không chuộng hư văn
khoa bảng, nên đời Lư xuất ra những bậc
văn vơ toàn tài không khoa bảng như Lư Thường
Kiệt, Tô Hiến Thành, Lư Đạo Thành... đời
Trần như Hưng Đạo, Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lăo... Các vua đời Lư, Trần theo
đạo thánh hiền và dũng lược, lúc quốc
biến đều thân chinh đi dẹp giặc, vào sinh ra
tử với quan quân, không ngồi hưởng ngai vàng ngâm
hoa vịnh nguyệt như các đời sau.
Truyền thống văn ôn vũ luyện đúng là
truyền thống giáo dục thích hợp với xă hội
Việt-Nam luôn luôn tao loạn và toàn dân phải
thường trực pḥng vệ tổ quốc. Truyền thống này, song
song với bao chiến công hiển hách, rơ ràng là cơ
sở giáo dục đúng nhất cho dân Việt. Thời loạn, nó cung ứng cho dân tộc
những chiến sĩ thao lược, thời b́nh nó hun
đúc tinh thần thượng vơ, ngay thẳng và quả
cảm, có thể ngăn ngừa được kẻ gian
ác hại dân hại nước. Một
xă hội trọng hư văn, một lớp sĩ trói gà không chặt, khó chống được
giặc trong thời loạn, khó cản được tà
trong thời b́nh.
Tiếc thay truyền
thống giáo dục cao đẹp này từ thế kỷ
XV trở đi (sau Nguyễn Trăi) bắt đầu bị
khoa cử hư văn làm lu mờ
dần bằng tiêu chuẩn giáo dục Tiên học lễ,
hậu học văn.
3.Cơ sở tinh thần dung hóa khai phóng.
Nhà Lư
đă đủ thế lực để xác định
với phương Bắc:
“Nam quốc sơn hà Nam
đế cư”
(Lư
Thường Kiệt)
th́ nhà
Trần cũng thừa khả năng để huy
động toàn quốc vào đại cuộc:
“Thái b́nh tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang
san”
(Trần
Quang Khải)
Tu
nỗ lực ở đây là công tŕnh tổng hợp văn
hóa tư tưởng Đại Việt bắt nguồn
từ truyền thống dân bản Văn Lang, trọng
hiền trọng lễ từ hơn 2000 năm, với Tam
giáo Phật, Nho, Lăo đă hiện diện được
1000 năm trên đất nước tính đến thế
kỷ XII-XIII.
Bốn
trăm năm thịnh trị Lư, Trần đă nhào nặn
đúc kết một nền văn hóa bền vững,
nằm trong đại khối văn hóa Đông phương
nhưng vẫn mang sắc thái đặc biệt dân
tộc. Phật giáo được xiển dương theo
hướng “Phật tại
tâm” của Thiền môn Vạn Hạnh, Trúc Lâm, Nho giáo
được phát huy theo tinh thần “cùng lư chính tâm” của Chu Văn An, Lăo giáo phối
hợp với nội đạo Thần Tiên và cùng với
Phật, Nho, bổ túc cho đạo sống quân b́nh
xuất xử, t́nh và lư, thiên nhiên và tâm linh.
Nhà
Trần đă kết tạo được một cốt cách văn hiến, rèn
đúc bản lănh kẻ sĩ Việt, tạo phong
độ hiệp sĩ trượng phu bền chặt
đến nỗi trải bao thăng trầm thử thách,
nó vẫn tiềm tàng trong một Phan Chu Trinh sâu rễ
bền gốc để thâu hóa tân trào, một Nguyễn
Thái Học “không thành công th́
thành nhân”, một Lư Đông A… phản ảnh rơ rệt
truyền thống Đại Việt mà nhà Trần đă trao
lại.
MỘT CỘNG
ĐỒNG HIỀN LÀNH
TRONG THẾ
GIỚI VĂN MINH KỸ THUẬT
Kỹ thuật,
kỹ thuật và kỹ thuật.
Kỹ thuật là ch́a khóa
của văn minh, là trường thành bảo đảm
sinh tồn ṇi giống.
Những
cao điểm của văn minh Việt đều gắn
liền với cao điểm kỹ thuật: văn minh
trống đồng, kỹ thuật nỏ thần mũi
tên đồng 2500- 3000 năm trước, đời nhà
Trần kháng được quân Mông nhờ kỹ thuật
chế tạo vũ khí (tại trung tâm Vạn Kiếp),
thuật đóng cọc xuống ḷng sông... nhà Hồ chú
trọng tới thực học, nhà Mạc coi trọng công
thương... các nhà khác từ Hậu Lê chỉ thiên về
từ chương nên Việt Nam cả ngàn năm kỹ
thuật vẫn ở mức “con
trâu kéo cầy”, máy móc không có, dụng cụ nghèo nàn.
Nguyễn Ánh không có tàu chiến của người Tây giúp
th́ không đánh bại được Tây Sơn,
súng Cao Thắng không cản được quân Pháp, trận
Điện Biên không thể thắng nếu thiếu 200 cổ
đại pháo đặt quanh núi. Cho nên nh́n lại lịch
sử, xă hội Việt Nam chậm tiến chính là chậm
tiến về kỹ thuật mặc dù ta cứ tự hào
xưng là văn hiến cao. Các cụ rung đùi ngâm thơ
đọc phú nhưng không có kẻ sĩ nào biết
chế ra mực Tầu giấy hoa, đừng nói tới
việc chế biến dụng cụ máy móc. Giới
công thương rất hiếm hoi và không được
văn hóa Tống Nho chú trọng.
Viện
Kỹ Nghệ, Kinh Tế và Thương Mại Đại Hàn
(KIET) đưa ra con số sau đây: cứ 100,000
người Đại Hàn th́ có 80 kỹ sư, ở Nhật
là 41/100,000. Nhờ khối kỹ sư
đông đảo, Đại Hàn đă đủ nhân lực
để vận chuyển guồng máy đại kỹ
nghệ ngang hàng với các cường quốc kinh tế
khác. Hiện nay, số kỹ sư trẻ ở
Mỹ và Ấn gần ngang nhau, hơn nửa triệu
người, ở Tầu , gấp ba, khoảng 1.7
triệu kỹ thuật gia trẻ.
Nhưng
ở Việt Nam v́ tinh thần từ chương đă bén
rễ quá lâu nên cần có cuộc Cách Mạng Giáo Dục
mới mong chuyển hóa được xă hội nông
nghiệp sang xă hội công nghiệp. Cuộc
Cách Mạng Giáo Dục có thể bắt đầu bằng
cách đổi ít nhất 50% các trường tiểu
học và trung học thành trường tiểu học và
trung học kỹ thuật, chương tŕnh học
nhằm huấn luyện trẻ em và thiếu niên biết
nghĩ và làm chính xác. Số học sinh
khổng lồ này học lên thành kỹ sư các ngành,
bỏ ra đi làm có nghề
trung cấp trong các ngành công kỹ nghệ. Trong
khoảng hai mươi năm, không những có đủ
số kỹ sư, số thợ, số cai thợ, mà c̣n chuyển
hướng xă hội về công kỹ nghệ là
hướng tất yếu để tồn tại và
cạnh tranh trong thế giới kỹ thuật tràn
ngập đời sống hàng ngày, từ thành thị
đến thôn quê.
Số
trường c̣n lại 50%, cũng phải được
chuyển sang thực học, khoa học nhân văn hoặc
khoa học thực nghiệm với chủ hướng
huấn nghiệp hơn là cung cấp kiến thức
tổng quát trên trời dưới đất. Giáo dục
thực tiễn này sẽ đào tạo ra một lớp
người trọng lao động, những “con ong
thợ”, hơn là những “ong chúa” trong tháp ngà.
Ảnh hưởng từ chương của Tàu,
ảnh hưởng trí thức Pháp, đă không giúp Việt
Nam tiến bộ. Ngược lại ảnh hưởng Anh, Mỹ
đă giúp nhiều nước thoát cảnh chậm
tiến, nguyên do là giáo dục
Anh Mỹ trọng làm hơn nói, trọng tay hơn
đầu, đó là nền
giáo dục cộng đồng đại chúng uyển
chuyển theo nhu cầu thời đại và địa
phương. Kết quả là xă hội có những bàn tay xây dựng, từ trên xuống
dưới đều lao động trí óc hoặc tay chân.
Xă hội ổn định, an cư lạc nghiệp nên
sự ghen ghét sân hận giai cấp được giảm
thiểu tối đa, tầng lớp trung lưu chuyên
nghiệp (professionals, middle class) càng lớn th́ xă hội càng
bớt xáo trộn, tầng lớp trí thức không
tưởng và chính trị gia chuyên nghiệp càng ít th́ xă
hội càng bớt phiêu lưu. Những xáo trộn của
chính trường Pháp, Ư.. trong
những năm 1960-1970 đă bớt dần dần từ
thập niên 1980 chính là nhờ ở sự chuyển
hướng sang nền kinh tế đại thị
trường với kỹ thuật điện tử,
tạo ra một lớp chuyên viên và trung lưu đông
đảo. Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan... và gần đây,
Trung Cộng, đă và đang đi theo chiều
hướng ổn định này. (Tầng lớp trung
lưu ở Mỹ, Tây Âu được ước
lượng vào thập niên 1990 là 80% dân số, ở
Viễn Đông và Nam Á là 8 - 11%, nay chắc đă tăng
nhiều).
Để chuyển
hóa xă hội chậm tiến Việt Nam
Sức
mạnh của xă hội Việt phụ thuộc vào
sức mạnh thể xác và tinh thần của
người dân, v́ thế trọng tâm đại kế
kiến quốc phải là:
1.Quốc sách Dưỡng Sinh và Giáo dục Vơ Thuật.
Bồi
dưỡng cơ thể, chú trọng tới dinh
dưỡng mẫu nhi để bảo
đảm sức khỏe cho thế hệ tương lai.
Nâng cao y tế đại chúng, vệ sinh thành
thị và nông thôn, diệt trừ ô nhiễm môi sinh.
Thể dục và Vơ thuật cần trở thành môn
học bắt buộc từ lớp 1 tới lớp 12. Chính tinh thần thể
thao và vơ đạo là ch́a khóa lành mạnh hóa xă hội, là
động cơ chuyển vận con người về
hướng thiện, thẳng thắn, trung thực, khác
hẳn với tinh thần cạo
giấy, mọt sách, mưu mô thủ đoạn...
Thể xác lành mạnh tạo trí lực lành mạnh, nâng cao
năng suất làm việc... Xă hội
trọng vơ thuật đời Lư, Trần, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Hoa Kỳ (thể thao)... có thể minh
chứng cho lập luận trên.
2. Quốc sách Giáo dục
kỹ thuật
Chuyển
50% các trường tiểu học và trung học thành
trường Kỹ Thuật, 50% c̣n lại thành
trường Huấn nghiệp Cộng đồng dựa
trên nhu cầu địa phương. Kiến
thức tổng quát được giảng dạy song song
nhưng phần áp dụng thực tế phải là
trọng điểm sư phạm. Riêng
hai môn Vệ sinh y tế pḥng ngừa và Kinh tế thực
dụng giản yếu cần được giảng
dậy từ trung học.
Lớp
11, 12 dành cho các môn nhiệm ư dự bị Đại Học,
nhờ thế chương tŕnh Đại Học có thể rút
ngắn để tập trung vào các môn chuyên nghiệp. Một số nhỏ trường trung học có
thể dành riêng cho các học sinh năng khiếu thiên tài.
Giáo
dục kỹ thuật là trường kế để
chuyển đổi sang kinh tế thị trường,
tạo thế vững chắc để sản xuất và
cạnh tranh trong thời đại kỹ thuật
điện tử toàn cầu. Ngoài ra nền
giáo dục kỹ thuật cũng tạo được
một thế hệ mới, có đầu óc thực
tiễn lành mạnh tri hành hợp nhất hơn là không
tưởng từ chương.
a/ Á Đông
hiện tại đang ở thời điểm thuận
lợi để hợp tác phát triển. Đại
thị trường chỉ phồn thịnh nếu các
nước đều có hàng hóa trao đổi, nước
nghèo quá lấy đâu ra măi lực tiêu thụ. V́ thế Việt Nam sẽ có bàn đạp
để đồng tiến, thoát dần cảnh nghèo khó
chậm tiến. Nhưng Việt Nam phải sửa
soạn thật kỹ cho giai đoạn sau: Giai
đoạn cạnh tranh trên thị trường quốc
tế. Giáo dục kỹ thuật từ trung
học bảo đảm cho giai đoạn cạnh tranh
tất yếu này.
b/
Cuộc cách mạng điện tử có hai đặc
điểm là tốc độ chuyển biến và thay
đổi nhiên liệu. Lấy Đại Hàn làm thí dụ:
nhờ phát triển vào đúng thời điện tử,
Đại Hàn đă tiến rất nhanh, chỉ cần hơn
20 năm đă trở thành cường quốc kỹ
nghệ trong khi Nhật Bản mất gần 100 năm
(1860 - 1960) để canh tân kỹ thuật. Tiến nhanh mà
không nhất thiết phải giàu nhiên liệu v́ kỹ
thuật điện tử mở ra một chân trời
mới với “nhu liệu” làm mất thế độc
diễn của nhiên liệu. Nguyên tử năng, xe hơi chạy điện... trong những
thập niên tới sẽ làm dầu khí bớt tầm quan
trọng huyết mạch trên trường kinh tế
thế giới. Giả dụ kỹ thuật
tân tiến thế kỷ XXI có thể dùng năng
lượng vô tận từ mặt trời, từ
nước biển... th́ hệ thống tư bản dựa
trên mỏ dầu/vàng đen sẽ bị thay đổi
từ gốc rễ và có thể tan ră.
Giáo dục kỹ thuật toàn diện sẽ giúp
Việt Nam nắm được tốc độ cải
tiến và nắm lấy chiều hướng kỹ
thuật tân kỳ tạo thế đứng quốc
tế.
c/ Các
cuộc cách mạng xă hội xưa nay trong lịch sử
phần nhiều là các đột biến tranh giành phe phái,
thay chúa đổi ngôi hơn là hoán cải gốc rễ xă
hội. Nước Anh không cần hủy bỏ quân
chủ mà vẫn có dân chủ trước nước Pháp,
nước Nga thay thế phong kiến này bằng loại
phong kiến khác, nước Tàu cách mạng văn hóa
để thụt lùi... Xét ra chỉ có cách
mạng giáo dục kỹ thuật mới tạo
được lớp người mới, xă hội
mới, vừa hợp với trào lưu thế giới,
vừa hợp với khung cảnh chính trị nước
nhà. Cuộc cách mạng này không nhằm triệt tiêu
cơ cấu nào, không cần phá đổ hệ thống
nào, mà là cuộc chuyển hoán trường kỳ, tự
nhiên, thúc đẩy mọi xu hướng, toàn dân vào lề
lối sinh hoạt mới trong ṿng 20 năm. Đây
không phải là xu hướng tôn thờ máy móc cơ tâm,
đây là trào lưu thế giới giúp con người thoát
ly bệnh mọt sách, tôn thờ giáo điều, tôn thờ
lănh tụ. Càng hướng về “làm” bao nhiêu, óc khoa
bảng và không tưởng càng bớt đi bấy nhiêu;
càng hướng về “kỹ thuật” bao nhiêu, tri thức
càng bén nhậy và chính xác bấy nhiêu. Đạt
tới mức xă hội kinh tế phát triển, kỹ
thuật tân tiến, những căn bệnh chậm
tiến tự nó sẽ bớt dần và xă hội sẽ có
cơ hội ổn định lâu dài.
AI ĐỨNG RA ĐÀO TẠO
NGƯỜI HIỀN ?
Với
hệ thống giáo dục học đường chấp
kiến hiện tại, việc đào tạo bản lănh
trí thức và vun trồng đức tính mẫu
người HIỀN, chỉ c̣n trông chờ vào:
- Các nhà tu, trong đền chùa, nhà
thờ..
- Các nhà
giáo lương sư hưng quốc trồng người
như trồng cây: lấy lương tri, thiện căn
làm ánh sáng, làm nước, làm chất bón, tưới
tẩm nhân cách thế hệ VN mới.
- Chính
các nhà tu, nhà giáo và phụ huynh,
cần học tập về Đạo sống hiền ḥa
của người hiền lành trong truyền thống
Việt. Tuyệt đối tránh đánh, mắng, phạt,
con em học sinh..lối giáo dục
ấy chỉ tạo ra con người hung dữ, ác
độc, bạo hành.
-
Chương tŕnh giáo dục phải dành ít nhất 30 phút
mỗi ngày để tu luyện tâm trí, như luyện
Thiền, định tâm, tập trung tư tưởng,
cảm thông- Th́ giờ dành cho tín ngưỡng, đạo
giáo , tu bổ đạo đức, cần
được khuyến khích như một trách vụ công
dân.
Giáo
dục kỹ thuật giúp Việt Nam hội nhập vào
cuộc Toàn cầu hóa kinh tế, giáo dục mẫu
Người HIỀN sẽ đưa văn hóa Hữu
Lễ Việt tộc vào cùng thế giới xây dựng
nền văn minh nhân bản thái b́nh toàn cầu.