Vol. 25  5/2005                                                                                     4th year edition

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

 

Xin cảm ơn ông Lê Điền, chủ nhiệm tuần báo Chính Luận tại tiểu bang Washington đă gởi tặng chúng tôi tập sách Chủ Thuyết Nhân Chủ viết lại tư tưởng của nhà cách mạng Lư Đông A và cho phép Đặc san Vietvodao được trích đăng toàn bộ.

Đỗ Hoàng Nghĩa

 

CHƯƠNG VII

 

Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị

 

Cuộc hội thảo của nhóm nghiên cứu Nhân Chủ đă diễn ra trong bầu khí thoải mái và bắt đầu sang ngày thứ ba. Vị chủ tọa đă giới thiệu thuyết tŕnh viên kế tiếp như sau: qua hai ngày chúng ta đă cùng nhau thảo luận được khá nhiều vấn đề then chốt. Theo sự đề nghị của đa số anh chị em hội thảo viên, chúng tôi xin kính mời bác niên trưởng thuyết tŕnh và cho hội nghị biết về mộtvấn đề tối ư quan trọng: Giáo Dục.

 

          Bác niên trưởng là một nhà giáo dục có rất nhiều uy tín đối với quốc nội cũng như quốc ngoại. Bác đă đào tạo được nhiều thanh niên qua nhiều thế hệ, (ít nhất 3 thế hệ), từ 1940 tới nay. Hơn thế nữa bác đă nghiên cứu về giáo dục cách mạng  cách mạng giáo dục theo đường hướng Duy Dân chủ nghĩa. V́ vậy trong chúng ta không ai có đủ điều kiện và khả năng như bác niên trưởng cố vấn. Xin kính mời bác niên trưởng.

 

          Niên trưởng cố vấn: Xin cám ơn vị chủ tọa H.O. cắt cỏ. Về điều kiện, bạn nói đúng. Nhưng về khả năng, có lẽ ta cần xét lại. Đă trên nửa thế kỷ tôi đă đọc cuốn Duy Nhân như Cương Thường và Thiết Giáo do cụ Lư Đông A viết. Lúc mới đọc, tôi hiểu rất mù mờ. Tới nay tôi vẫn đọc. Và mỗi lần đọc tôi lại học hỏi thêm được vài ba ư sáng tạo khác của cụ. Cuốn sách đó nhiều người có. Chẳng hay thiên hạ đă khai thác được tới đâu? Riêng tôi, theo lời yêu cầu của anh chị em, tôi xin được xử dụng một tài liệu do một giáo sư đă dày công nghiên cứu và trầm lặng suy tư nhiều năm về lư tưởng Lư Đông A. V́ mắc bận nên vị đó không có mặt trong buổi hội thảo này. Tôi đă liên lạc và được sự chấp thuận trước.

 

7.1. Một Nền giáo Dục Tương Lai.

 

          A. Diễn nhập: Hầu hết các tư tưởng căn bản trong tài liệu nghiên cứu này xuất phát rải rác từ các tài liệu huấn luyện của Thái Dịch Lư Đông A. Gần 400 năm nay từ cái học từ chương  ở thời Lê Mạt, tiếp Trịnh Nguyễn phân tranh đến cái nh́n cận thị Bế môn tỏa cảng của triều Nguyễn (Gia Long), rồi thực dân Pháp xâm lược, Nhật đảo chánh (1945) - Việt Minh cướp chính quyền biến Việt Nam thành băi chiến trường tranh chấp giữa cộng sản và tư bản - tiếp ngày nay dưới chế độ Cộng Ḥa Xă Hội chủ nghĩa đă và đang đưa đất nước Việt trên bờ vực thẳm !

         

Trước nguy cơ sâu rộng về mọi mặt: kinh tế th́ kiệt quệ, khoa học và kỹ thuật th́ lạc hậu, chính trị th́độc tài, độc đảng, phản dân chủ, phi nhân, phi dân tộc; tệ hại nhất là chính sách giáo dục chỉ nhằm phục vụ củng cố đảng, đất nước đ̣i hỏi cấp thiết một cuộc cách mạng triệt để và toàn diện.

Người dân Việt muốn no ấm và thanh b́nh cần có một nền chính trị biết thiết lập và thi hành các kế hoạch để ổn định đời sống toàn dân.

 

          Cuộc đấu tranh hiện tại thực sự và quyết liệt chính là cuộc đấu tranh giáo dưỡng. Giáo dưỡng để chuyển hóa các ác-lực thành hiệu-lực cho tồn, tiến; Giáo dưỡng để đào tạo những khối óc, bàn tay cùng trái tim của thế hệ thời đại, để kiến thiết toàn bộ sinh mệnh con người, xây dựng gia đ́nh và tu tạo toàn diện xă hội. Đó là mục tiêu của nền giáo dục tương lai.

 

B. Định Nghĩa: 

 

(1) Theo Hán Việt Tự Diển của Hội Khai Trí Tiến Đức: Giáo là dạy dỗ, Dục là nuôi. Giáo dục là dạy dỗ, gây nuôi cả trí dục, đức dục và thể dục.

 

(2) Theo The Random House College Dictionary Revised Edition 1988": Giáo dục là phương thức truyền đạt hay thâu nhận những kiến thức tổng quát, là phương thức khai triển khả năng lư luận hay xét đoán; Là phương thức truyền đạt hay thâu nhận kiến thức chuyên biệt, hay sở năng cho nghề nghiệp hay chức nghiệp; Là tŕnh độ, thứ bậc, hay học hiệu. (Education: The act or process of imparting or acquiring general knowledge and of developing the powers of reasoning and judgment; The act or process of imparting or acquiring particular knowledge or skills, as for a trade or profession;  a degree, level, or kind of schooling)

 

(3) Theo The American Heritage Dictionary Second College Edition, 1982: Giáo dục là phương thức truyền dạy hay thụ giáo; là phương thức để đào tạo, phát triển kiến thức và khả năng; là lănh vực học hỏi qua phương thức sư phạm (Education: the act or process of educating or being educated; the knowledge or skill obtained or developed by a learning process; the field of study that is concerned with teaching and learning pedagogy.)

 

Giáo dục bao gồm ư nghĩa vừa bồi dưỡng thân xác vừa trao truyền cho lớp trẻ những ǵ tốt đẹp và trọn vẹn.

 

C. Vấn Nạn Về Nền Giáo Dục.

 

(1) Quan niệm thiếu sót về giáo dục: Qua các định nghĩa trên, nói chung Đông cũng như Tây đă không đưa ra được một định nghĩa nào về giáo dục một cách trọn vẹn trên ư nghĩa nhân sinh mà con người đóng vai tṛ chủ động. Vấn nạn này, phải chăng do một số tư tưởng triết học hiện đại như Duy Tâm, Duy Vật, Duy Sinh … đă ảnh hưởng đến chính trị quan, xă hội quan và giáo dục quan.

 

a/  Theo tiền đề của triết học Duy Tâm, thần linh là nguyên ủy của mọi hiện tượng sống, nên Duy Tâm phái cho xă hội xuất phát y cứ vào nền trật tự sẵn có, đó là biểu hiệu tối cao mà mọi người đều phải tùng phục. “Thần” thuộc phạm trù siêu h́nh học nên không thể lấy ǵ mà kiểm nghiệm được.

 

b/  Xă hội lư tưởng theo phái Duy Vật là rập theo khuôn mẫu nguyên thủy cộng sản và theo tự nhiên kinh tế. Chủ thuyết “duy vật” đă hạ giá trị con người ngang hàng vật chất; nền giáo dục dưới chế độ Duy Vật Cộng Sản chỉ nhằm phục vụ, củng cố cho “đảng”. Trong khi đó tại các nước tư bản, mục đích giáo dục chỉ chú trọng đào tạo các chuyên viên xuất sắc, các nhân công giỏi cho kỹ thuật hơn là đào tạo một con người toàn diện.

 

c/ Theo Duy Sinh phái, tiền đề tối định là sinh tồn, vận động và xuất phát tối sơ là sinh thể. Phương châm lập nên và chỉ huy sự sống con người bằng một gịng máu ưu việt. Phương pháp thực hiện là chính sách “phát-xít” và ưu Việt chủng tộc ! Quan niệm “chủng tộc ưu việt” đă gây biết bao nhiêu tội ác về kỳ thị chủng tộc, những xâm lược bất chính (thiên triều chủ nghĩa) gây thù oán giữa người với người, những cuộc tàn sát tập thể …

 

(2) Con người là tổng hợp vật tâm sinh: Tổng quát, ta thấy mỗi nền triết học trên chỉ nghiên cứu một điều kiện hoạt động của con người hay của xă hội nên thiếu cái nh́n nhất thể và toàn bộ.

 

* Thực tế, con người đă khám phá ra hiện tượng sống. Không con người, vạn vật có cũng thế mà không có cũng thế (vô danh giả thiên địa chi thủy - Đạo Đức Kinh). Nói cách khác , có con người, vũ trụ mới có tên. Người chính là nguồn gốc của hiện tượng sống. Do đó, Người chính là tiền đề cho triết học. Con người là tổng hợp tâm vật sinh, là đối tượng cho sự kiến thiết.

 

* Đời sống người phải lấy người làm cứ điểm. Lấy con người làm gốc (nhân bản), lấy tính người (nhân tính) làm y cứ cho các tổ chức, lấy con người làm chủ sinh mệnh ḿnh (nhân chủ).

 

* Đời sống con người cần được giác ngộ chân chính, không bị trói buộc vào những lồng chụp về tinh thần, vật chất hay sinh lực, mà phải vận dụng cả ba mặt tâm-vật-sinh để thăng hoa cuộc sống con người.

 

* Loài người đă khám phá ra rằng hiện tượng sống không phải chỉ do yếu tố tinh thần (như phái Duy Tâm chủ trương) hay vật chất như phái Duy Vật khẳng định. Hiện tượng sống bao giờ cũng được sản sinh bởi ba phạm trù: tự nhiên, xă hội và tư tưởng. Ba phạm trù này thường hằng vận động, kết hợp và thống nhất.

 

 

Nhân chủ chính là một tiến tŕnh hành động để tự thắng. Có tự thắng mới khả dĩ giúp cho người khác tự thắng và đưa loài người đến mức tự thắng. Tự thắng trước hết là tự thắng tất cả các yếu hèn, dục vọng, dốt nát, chia rẽ, dă man c̣n ẩn tàng trong tâm tính vẩn đục t́nh người trong chính ḿnh. Tự thắng sau nữa là vận động, khai triển được hết khả năng tốt đẹp ẩn tàng, đem tinh hoa làm rực rỡ cho cả ba mặt vật-tâm-sinh phát triển cuộc sống con người, gia đ́nh, dân tộc và nhân loại. (huyết Hoa)

 

* Tóm lại, người không sống thuần tâm, thuần vật hay thuần sinh mà tổng hợp cả ba thể. Người không những chỉ muốn phát triển toàn bộ cá nhân ḿnh mà c̣n muốn đưa đẩy gia đ́nh, dân tộc, nhân loại cùng đạt tới thái ḥa.

 

(3) Để có một ư nghĩa giáo dục bao quát hơn, nhân bản hơn, ta cần ghi thêm theo tư tưởng Lư Đông A: Giáo dục là sự truyền dạy và tài bồi cho người cầu học một phương pháp và tinh thần để thâu thái, tu tạo tri thức cùng năng lực và ư chí  sinh, tồn, tiến, nối, hóa.

 

Giáo dục là tạo cơ hội, phương tiện mọi mặt để toàn thể quốc dân tu dưỡng, học hỏi, kinh lịch hầu phát triển cao độ khả năng thể xác, tâm hồn, trí tuệ và sự sống của chính ḿnh, của dân tộc ḿnh ngày một thăng hoa.

 

a/ Mục đích của giáo dục  phải là xây dựng con người có đủ khả năng làm chủ sinh mệnh ḿnh và đóng góp thăng hoa cho xă hội.

 

b/ Học thuyết của giáo dục là biến hóa khí chất, bồi dưỡng khí chất, và phát huy khí chất.  Khí chất là chủ yếu của con người. Giáo dục sao cho có được một sinh khí mạnh mẽ (thận vững, tay mạnh, ḿnh nhẹ), tức là “kiện khang giáo dục”. Giáo dục sao cho có một tinh thần cao thượng: Tổ Quốc, Chính Nghĩa, Lư Tưởng, Nhân Cách và Danh Dự (óc sáng, tim trong), tức là “Hoàn thiện giáo dục”.

 

c/  Giáo dục sao cho có hiệu xuất thích đáng để thăng hoa cuộc sống chính ḿnh và xă hội. Do đó châm ngôn của giáo dục là làm sao cho thân ta thành một thiện cụ cho chính ta và cũng là khí cụ cho xă hội.

 

d/ Biện chứng của giáo dục là tu tiến “thủy tạo” để đạt đến “thành tạo”. Thủy-tạo là đức tính bẩm sinh, tính lúc ban đầu (tự nhiên tính), đức tính này cần có một chiều hướng phát triển qua giáo dục, tu dưỡng, kinh lịch gọi là “kế tạo” (hay tu tạo) để hoàn bị hơn nên gọi là “kế tạo” (hay tu tạo).

 

e/ Bản thể của giáo dục là đúc kết thành qủa của qúa khứ và hiện tại để mưu cầu cải tiến và sáng hóa cho tương lai. Nếu thiết lập được một nền giáo dục đúng đắn tức thành công trên văn hóa. Cốt tủy của văn hóa là sự phác định con đường lịch sử và chính trị đúng đắn. Ở đó tất có một quốc sách, một quốc lược sáng suốt và bền vững.

 

f/ Yếu chỉ của giáo dục phải nhân bản hóa, nhân chủ hóa và nhân tính hoá.

 

Nhân bản: lấy người làm chủ chốt th́ các hiện tượng sống được tạo ra bởi người, v́ người và cho người. Sứ mệnh của con người trong xă hội là phục vụ người, v́ người và cho người.

 

Nhân chủ: Lấy loài người làm chủ đạo sinh hoạt cho loài người. Người là chủ động đối với tự nhiên, xă hội và chính ḿnh. Bất cứ sự vi phạm về nhân bản, nhân tính hay nhân chủ đều bị loài người sớm muộn phản kháng. Sự phản kháng đó làm cho lịch sử chuyển dịch và tiến bộ.

 

Nhân tính: Để cho người thực sự có hạnh phúc, nền chính trị nhân bản phải lấy nhân tính làm xuất phát điểm và nền tảng cho việc thành lập xă hội. Người khác với động vật khác là v́ có nhân tính. Xă hội người chính là một tổ chức có nhân tính. V́ nhân tính mà con người h́nh thành xă hội. Nhân tính nguyên khởi để cấu tạo xă hội là nhu yếu tính, tự vệ tính, sắc tính và tập đoàn tính.

 

Con người sống như muôn loài, cần có nhu cầu vật chất như ăn để duy tŕ sự sống, đó là “nhu yếu tính”. Vũ trụ là nguồn cung cấp sự sống, nhưng cũng là nguồn gây tai họa cho con người (như băo lụt), cùng sự đe dọa của các mănh thú nên con người phát huy tính thứ hai là “tự vệ tính”. Con người cần có nhu cầu chung đụng nam nữ để sinh con cái, duy tŕ ṇi giống. Đó là “sắc tính”. Sau cùng, con người thấy cần sống trong tập thể để nương tựa lẫn nhau mà tiến, nối hóa, đó là “tập đoàn tính” hay “xă hội tính”.

 

D. Phạm trù của giáo dục.

 

(1) Khái niệm về “cơ năng” và “bản vị”:

 

          Bản-vị là một đơn vị cơ bản, tự nó có thể tồn tại và có khả năng vận động và kết hợp với bản vị khác để h́nh thành một bản vị lớn hơn. Như vậy, một bản vị có thể đóng hai vai tṛ: bản vị cơ bản và bản vị thành phần của một bản vị lớn hơn. Thí dụ: hydro, oxy là những bản vị cơ bản, vận động và kết hợp thành nước (H2O). Tương  tự, nam nữ là những bản vị cơ bản, vận động và kết hợp thành gia đ́nh và trở nên bản vị thành phần của gia đ́nh.

 

          Mỗi bản vị khi tự thành h́nh đă có riêng cho nó một tính đặc biệt và có riêng một trục lơi, một trung tâm bản vị (đặc tính của hydro, của oxy, của nam, của nữ, trục của trái đất, mặt trăng, bản ngă của con người nam hoặc nữ.)

 

          Mỗi bản vị thành phần chịu chung một hướng tâm xu thế của bản vị mới lớn hơn, và đảm nhận một tác dụng, nghĩa là thành một cơ năng. Bản vị là nguyên nhân của cơ năng và cơ năng lại là nguyên nhân của bản vị.

 

          Các cơ năng (hydro, oxy, nam, nữ) khi vận động th́ hỗ tương suy động để kết hợp thành bản vị mới (nước H2O, gia đ́nh), đồng hóa ḿnh trong bản vị mới và coi bản vị mới như chính ḿnh. Mỗi vận động của cơ năng trở thành mỗi vận động của bản vị mới. Ngược lại, bản vị mới khi vận động phải hỗ trợ cho các cơ năng vận động có hiệu qủa hơn và không sai khớp với bản vị (thí dụ: mỗi hành động của vợ, chồng, con cái phải phù hợp với hướng tâm xu thế của gia đ́nh, nghĩa là phải đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh.)

 

          Bản vị và cơ năng hỗ tương để tồn tại và phát triển. Đó là chân ư nghĩa của sinh tồn. Do đó, bản vị cần phải hiệp điệu và thống nhất; cơ năng cần phải phân công và họp tác.

 

          Trong xă hội loài người, nếu có một sự mâu thuẫn phát sinh ra giữa bản vị và cơ năng, trạng thái quân b́nh sẽ không c̣n nữa, và bản vị sẽ không thể phát triển được và sẽ sống trong t́nh trạng bệnh thái, yếu hèn, khó mà tồn tại lâu dài được.

 

(2) Khái niệm về “hướng tâm”, “hướng tha”, và “hướng thượng”.

 

          Như chúng ta đă biết: thể chất của con người cấu tạo bởi vật chất, nên thể xác con người bị chi phối bởi các qui luật về vật chất khách quan (khoa học). Cùng với thể xác, người khác với các động vật khác là có nhân tính. Xă hội người chính là một tổ chức có nhân tính. V́ nhân tính mà con người h́nh thành xă hội. Nhân tính nguyên khởi để cấu tạo xă hội là nhu yếu tính, tự vệ tính, sắc tính và đoàn thể tính.

 

Trong vũ trụ, mỗi cá nhân là một bản vị khi tự thành có một đặc thù và sẵn có một trục lơi, một trung tâm bản vị.

 

 

E. Chính sách giáo dục.

 

(1)   Đối tượng và nguyên tắc giáo dục:

(2)    

          Thái Dịch Lư Đông A đă viết: “Chính trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh” và “giáo dục là khởi điểm và là chung điểm của chính trị.” (Thiết Giáo).

 

          Quốc Gia giáo dục tất nhiên lấy bản thân “dân chúng” và “dân tộc” làm đối tượng. Giáo dục phải được tổ chức và phổ biến đến toàn dân, toàn quân. Thi hành vận động giáo dục, vận dụng giáo dục, hoàn thành giáo dục, công dân giáo dục phải liên tục, thường xuyên khắp toàn dân trên toàn quốc.

 

          Có 4 nguyên tắc:

 

-Toàn-thể tính: Gọi là toàn dân, toàn quân nên không phân biệt nam, nữ, lăo, ấu, cô qủa, phế tật, giàu nghèo và địa phương (thôn quê hay thành thị, địa điểm này hay địa điểm khác). Toàn thể đều là đối tượng cho giáo dục.

 

-B́nh-đẳng tính: Như trên đă tŕnh bày, biện chứng của giáo dục là “thủy tạo”, “kế tạo” và “thành tạo” để “thành quân” (vật với tâm b́nh hành thống nhất, hiện tượng b́nh hành thống nhất với lư tưởng) nên không phân biệt giai tầng xă hội. Con người sinh ra đồng nhất tính, sở dĩ có kẻ kém người hơn là nhờ phần giáo dục. “Tính tương cận, tập tương viễn” hay “hữu giáo vô loại” là ư đó.

 

-Trách-vụ tính: giáo dục và chính trị cho đạt tới lư tưởng “đại đồng” (xă hội không c̣n bóc lột, áp bức nhau.; chính trị không bị phế bỏ, tư tưởng không đổ nát, đời sống dân chúng không đói rách, ngu dốt, tật bệnh) th́ người hành chánh không thể không có trách nhiệm.

 

-Tổ-chức tính: Giáo dục có tổ chức là giáo dục sao cho toàn thể quốc dân có kỷ luật. Muốn có một nền kỷ luật có ư thức nên dùng lễ nghĩa để điều tiết, lấy thưởng phạt để khuyến khích, răn đe, đề ra những công tác để phục vụ, lấy sinh hoạt để điều lư …

 

(2) Cứu cánh của toàn quốc dân giáo dục:

 

          Mục đích của dân sinh là đưa quốc dân tới ba cứu cánh: Trinh - B́nh - Ḥa.

 

          * Trinh: bẩm tính thứ nhất của loài người là “phiên chủng”, cho nên sự kết hợp và hợp tác của đàn ông với đàn bà cần phải “Trinh” (chính đính, thủy chung) để điều kiện nhân chủng được thuần túy, kế tục, kiện khang.

 

          *B́nh: bẩm tính thứ hai của loài người là cấp dưỡng. Toàn thể cơ cấu kinh tế trên qúa tŕnh sản sinh, giao dịch và phân phối có được b́nh đẳng, măn túc và bảo chướng th́ xă hội mới có tiến hóa bề ngang. Chính sách “b́nh sản kinh tế” là để thực hiện chữ “B́nh”

 

          * Ḥa: bẩm tính thứ ba của con người là xă hội tính (tập đoàn tính). Tất cả những cảm t́nh, tâm lư, hành vi, chế độ … nếu nguyên lư cơ năng với bản vị được điều lư thích hợp th́ an lành tốt đẹp.

 

          Trinh - B́nh - Ḥa là ba cứu cánh và mục đích của xă hội nhân sinh để cơ bản nhân sinh được tối đa viên măn.

 

(3) Bốn khoa mục căn bản:

 

          Để toàn thể quốc dân đạt được những nguyên tắc và cứu cánh trên, nền giáo dục cần có 4 khoa mục căn bản:

 

          * Về đạo lư: khoa mục này nhằm tu dưỡng tính tâm, thân mệnh để có một  nhân cách, một thể cách và phong cách.

 

          * Về chính trị: Dân chúng cần được huấn luyện cơ bản về pháptrị, dân trị, và nhân trị, tư cách sống c̣n, quyền lợi của dân tộc.

 

Dân chúng cần có một hiểu biết các diễn tiến của thời cuộc, hiểu được nghĩa vụ, quyền lợi của một công dân.

         

* Về quân sự: Mỗi quốc dân phải được huấn luyện đầy đủ những điều thường thức về chiến tranh, căn bản chiến lược, chiến sử, toàn dân tinh thần, toàn dân hy sinh, bảo tồn nước ṇi, mỗi chiến sĩ là một dân tộc chiến sĩ.

 

          * Về kinh tế: Thực tập phục vụ đặc biệt dành cho các ngành công, nông, thương.

 

F. Hạch Tâm Của Giáo Dục:

 

          (1) Cá nhân: Cá nhân và thời đại là yếu tố phát triển biện chứng. Cá nhân đóng góp cho tập thể các sáng tạo, suy tư, hành động. Ngược lại, tập thể đối chiếu cho cá nhân những kinh nghiệm, những hiện thực thời đại. Các sáng tạo của các cá nhân khác, cho nên hạch tâm chú trọng trong giáo dục là sao cho mỗi cá nhân thành thiện cụ cho chính ḿnh, và cũng là khí cụ cho tập thể. Về tinh thần sao cho mỗi cá nhân được cao thượng, chính nghĩa, lư tưởng, nhân cách và danh dự …

          Người ta ở đời về phần xác thịt không ǵ hơn sự sống. Sự sống ai cũng muốn, nhưng lại phải sống về phần tinh thần. Nếu v́ không kiêm cả hai cùng lúc th́ nên bỏ cái sống nhất thời mà chọn lấy cái nghĩa muôn thuở.

          Mạnh Tử cũng nói rằng: “ Sự xấu thẹn là động cơ để người ta làm lành. Làm người không thể nào không biết xấu thẹn khi làm điều xấu. Lương tâm con người vốn sẵn ḷng tu-ố. Mốt khi biết tu-ố chắc chắn nhân dục sẽ bớt đi để cuộc sống tốt lành hơn.” (nhân bất khả dĩ vô si, vô sỉ chi sỉ, vô sỉ hỹ) (Khổng Học Đăng - Phan Bội Châu)

          Giáo dục nhằm giúp mỗi cá nhân có một bản ngă trang nghiêm, cao đẹp (hướng tâm). Trong mục “tồn tâm dưỡng tính”, Mạnh Tử cũng đă nêu: “Người ta có con gà con chó chạy mất th́ biết đi t́m kiếm, nhưng đáng buồn thay khi tâm ḿnh xa bản thân ḿnh (mất nhân tính) th́ người ta lại chẳng biết t́m về !” (Nhân hữu kê khuyến phóng tắc tri cầu chi; hữu phóng tâm nhi bất tri cầu, ai tai !).

          V́ thế giáo dục cần vạch rơ cho cá nhân có ba cửa học: nô tài, nhân tài, và thiên tài.

          Mạnh Tử cũng đă nói: “Chăm về phần đại thể (lương tâm) sẽ trở thành đại nhân; ngược lại, chăm chỉ về phần tiếu thể (tai, bụng, mắt, miệng …) thành tiểu nhân (Tùng kỳ đại thể vi đại nhân, tùng kỳ tiếu thể vi tiểu nhân) (Khổng Học Đăng).

          Ở trong thân thể người ta, mỗi ngũ quan có một nhiệm vụ: tai để nghe, mắt để nh́n, miệng để nói, bụng để chứa … duy có tâm là có thể suy nghĩ, quyết đoán. Cho nên lo dưỡng tâm là lo phần đại thể.

          Khổng tử cũng nói: “Cái cô (vật h́nh vuông) mà lại không phải h́nh vuông th́ sao gọi là cô: cô bất cô. Cô tai ! Tương tự: “Nhân bất nhân, nhân tai ! nhân tai !. Người mà không đúng tư cách làm người th́ sao gọi là người (Khổng Học Đăng).

 

(2) Gia đ́nh: Tiểu gia đ́nh là tế bào (đơn vị căn bản) của quốc gia. Do đó, sinh hoạt tiểu gia đ́nh là điều quan trọng trong chương tŕnh quốc giáo.

          Tiểu gia đ́nh gồm có cha mẹ và con cái. Quốc gia lấy tiểu gia đ́nh làm đơn vị phân công, phân mệnh và phân lợi. Tiểu gia đ́nh là miếng đất tiên khởi gieo hạt giống hạch tâm thế cho toàn bộ xă hội.

          Đối với xă hội, tiểu gia đ́nh là nơi truyền nối đạo thống, văn hóa, di dưỡng phong tục, tập quán dân tộc, là nơi đào tạo căn bản tài năng, tư cách công dân, chuẩn bị sáng tạo, quan trọng nhất là khởi dựng của “yêu thương”. Có yêu thương mới lo xây đắp cho chính ḿnh, gia đ́nh và xă hội.

          Yếu tố thứ nhât của xă hội sinh hoạt là hôn nhân. Đề cập tới hôn nhân là đề cập đến nhân chủng. Nhân chủng có kiện khang th́ gia đ́nh, xă hội mới phát triển và hướng thượng.

          Trong tiểu gia đ́nh, mỗi người có bổn phận với chính ḿnh, và với gia đ́nh (cha mẹ làm trọn đạo cha mẹ, con cái làm tṛn bổn phận con cái.)

          Tiểu gia đ́nh lấy quan hệ ḥa-hài giữa cha mẹ và con cái làm tiêu chuẩn cho mọi sinh hoạt. Vai tṛ của cha mẹ và con cái là vai tṛ của ba cơ năng trong bản vị gia đ́nh. Ba cơ năng này vận động và phát triển lấy quyền lợi và hạnh phúc của toàn thể gia đ́nh làm bản vị hệ, chứ không là “mẫu hệ” hay “phụ hệ.”

(3) Quốc gia dân tộc: Nhân loại là một, nhưng dân tộc th́ nhiều. Con người từ xưa tới nay, từ Đông sangTây, đủ mọi màu da, tất cả loài người đều đồng bản thể con người, đều có cá nhân tính (nhân tính: nhu yếu tính, tự vệ tính, sắc tính, xă hội tính) nhưng v́ hoàn cảnh điạ lư phân phối, phong tục tập quán, ngôn ngữ, lịch sử mà kết thành nhiều dân tộc. Mỗi dân tộc đều có ḍng sống sử riêng, văn hóa riêng, và mỗi ḍng sống sử đó là một cơ năng trong bản vị nhân loại.

          “Nước có nguồn mới biển cả sông sâu.” (Ca dao)

          Nhân loại tiến hóa không phải do sức một ḍng sống mà cần sự chung đụng của nhiều ḍng giao tiếp nhau. Giả tưởng một ngày nào nhân loại chỉ c̣n một ḍng sống duy nhất đă toàn thắng th́ ngày ấy nhân loại cũng bắt đầu tàn lụi. Do đó “Giáo Dục Dân Tộc” phải dứt khoát loại khỏi học đường các tư tưởng, chủ thuyết, hành động : siêu dân tộc” như “Quốc tế xă hội chủ nghĩa” của Cộng Sản, “Thiên triều chủ nghĩa” núp dưới danh từ hoa mỹ như “Đại đồng chủ thuyết” hay “Đại Đông Á, v.v…”

          Muốn bản vị nhân loại thái ḥa, th́ cơ năng dân tộc phải được bảo toàn, vun bồi. Muốn dân tộc kiện khang, chính sách “lục dân” cần được nghiên cứu trong chương tŕnh “Quốc Dân Giáo Dục”:

          * Dân tộc độc lập: Có độc lập thực sự mới có thể tiến tới thành công Cách Mạng. Độc lập thực sự là không bị can thiệp ở trên ư chí, đưa dẫn vận mệnh dân tộc là đối thoại không bị nước ngoài can thiệp, đối nội không bị công cụ đảng của ngoại bang thao túng.

          * Dân đạo phát dương: Mỗi dân tộc phát huy được nền văn minh của ṇi giống ḿnh và cống hiến chung cho nhân loại.

          * Dân-vực bảo toàn: Lănh thổ của quốc gia (địa, không, hải, tiềm vực) phải được bảo toàn sao cho toàn vẹn.

          * Dân sinh quảng đại: Phát triển cao độ đời sống thực tiễn của quốc gia về mọi mặt: văn hóa, giáo dục, chính trị, kinh tế, ngoại giao…

          * Dân trí chỉnh sức: Làm sao chỉnh đốn nền chính trị phù hợp với truyền thống dân tộc và thích hợp với thời đại.

          * Dân văn sáng hóa: Văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc được sáng hóa măi lên.

          Một nền giáo dục dân tộc phải nhằm bảo tồn và phát huy dân tộc tính. Phải khai quật và nảy nở những tinh hoa của dân tộc qua kinh nghiệm lịch sử và văn hóa.

          Nền giáo dục dân tộc Việt phải căn cứ vào những cơ cấu tinh thần và t́nh cảm của dân tộc mà phát huy những sở trường cùng bổ khuyết những sở đoàn.

          Vị trí nước Việt là nơi giao lưu của các nền văn minh nhân loại. Lịch sử Việt là lịch sử trường kỳ tranh đấu để sống c̣n nên sứ mạng của văn hóa Việt trong tương lai phải làm được cuộc tổng hợp tất cả những nền văn minh của thế giới.

 

G. Nội Dung Kiến Thiết Giáo Dục:

 

(1) Quan niệm về Học Đường: Như  trên đă tŕnh bày,bản thể của giáo dưỡng là đúc kết qúa khứ và hiện tại để mưu cầu cải tiến và sáng hóa cho tương lai. Trong tiêu chuẩn đó, có ba điều chính:  cầu học, làm người và xử việc.

 

          * Cầu học phải phát động từ cầu hiểu về nhân sinh và sự lư, lấy vũ trụ làm vật chất từ vạn vật rất nhỏ đến rất lớn; lấy thời gian từ vô thủy đến vô chung; lấy xă hội từ rất tĩnh cho đến rất động làm đối tượng …Cầu học có nghĩa là cầu sống.Biết và làm việc …” cho nên “học” là chung đúc vũ trụ (khoa học), xă hội và cá nhân làm một. Như vậy, học không phải chỉ huy nơi trường sở, mà tất cả đều là học đường. Học đường bao gồm: công lập, tư thục, học viện, vơ đường, cơ sở thương mại, kỹ nghệ, các trung tâm sinh hoạt xă hội về văn hóa, mỹ thuật, thể theo … Tóm lại, xă hội tức học hiểu, sinh hoạt tức giáo dục. Dạy, học, làm thống nhất.

 

(2) Học viện: Để thích hợp với sự phát triển về cơ thể và trí tuệ, học viên được phân lớp như sau:

 

* Dục anh (1-3 tuổi): tuổi cần bú sữa, săn sóc, phù tŕ.

* Aáu học (3-5 tuổi): tuổi cần vỗ về, nắn nót, khai thác tính t́nh, mở đường biết thực tế xă hội sinh hoạt.

* Tiểu học (5-10 tuổi): đào dưỡng t́nh tứ, hàm dưỡng lư tưởng, khai phát đạo đức…

* Trung học (10-17 tuổi): tuổi bồi đắp nhân cách, nâng cao lư tưởng, mở mang nhăn quang, vun đắp trí năng thực dụng.

* Đại học (17-40 tuổi): tuổi rèn luyện tính, tâm, thân mệnh (hoàn thành lư tính, kiện toàn tâm lư, tu dưỡng tính, khí, thần, xúc tiến, sự nghiệp, học hỏi chuyên môn khoa học, kỹ thuật, nhân văn ….

* Dưỡng lăo (50 tuổi trở lên): tuổi cần tu đạo, nghĩ ngơi, dạy trẻ, lập đức, lập nghiệp = thành quân.

 

Ngoài ra, công việc giáo dục cũng phải lưu tâm đến những thành phần ưu tú (thần đồng) hay những em bất thường thái để có những chương tŕnh đặc biệt.

 

(3) Mô phạm:

          * Nhà giáo (người dạy): đề nghị chia làm 4 ngành:

          -Thày dạy về kỹ nghệ, quản lư: trông nom những vấn đề lao động công tác, kỹ nghệ sản xuất, sinh hoạt đoàn thể, quản lư chính trị, coi xét kỷ cương, công tác lănh đạo, đốc thúc và điều chỉnh kế hoạch.

-Thày dạy về khoa học: phụ trách các môn khoa học tự nhiên, toán học, khoa học thực nghiệm …

-Thày dạy về văn, xă: Phụ trách các vấn đề khoa học xă hội, văn ngữ, nghệ thuật, quốc nghĩa và công dân giáo dục ….

-Thày dạy về thể dục, thể thao, vũ thuật và quân sự học đường: có 4 nhiệm vụ:

          * Luyện tập các thanh thiếu niên về thể dục, thể thao, vơ thuật để đủ sức chịu đựng, đồng thời tự hiểu rơ sự bảo tồn bản thân.

          * Đủ nghị lực và sức mạnh phục vụ tổ quốc và xă hội.

          * Biết giữ ǵn phẩm hạnh, đạo đức.

          * Chuẩn bị khả năng về quân sự để săn sàng chiến đấu.

          * Phương thức dạy: Nền giáo dục hiện nay trên thế giới phần đông đă thất bại v́ qúa nhấn mạnh vào kỹ thuật. Chỉ trau giồi tài năng mà thiếu hiểu biết đến cuộc sống, thiếu thể cách của tư tưởng, chỉ làm cuộc sống tăng thêm sự tàn nhẫn. Chính cũng do đó là nguyên nhân đă đưa đến những cuộc chiến tranh, sự bất an trong cuộc sống. Giáo dục tương lai phải khám phá ra những phương thức có ích lợi của việc sáng tạo để phục vụ cho nhân sinh một cách tốt đẹp hơn.

 

-Học với dạy thống nhất, dạy tức học, học tức dạy; học tức hành (tri hành hợp nhất)

 

-Đối với người dạy (nhà giáo), điều trước tiên cần tự hỏi nới chính ḿnh “quyết định muốn dạy học th́ phải tự minh xác dạy những ǵ?” (biết rơ điều ḿnh dạy), và bao lâu dạy học coi là một nghề nghiệp, một phương tiện sinh sống mà không là xu hướng hiến dâng th́ c̣n có một lỗ hổng to lớn trong ngành dạy học.

 

          Công việc giáo dục rất là quan trọng v́ đó là cách “trồng người”, đ̣i hỏi rất nhiều công phu và phương thức thật tinh vi, tế nhị.

          Cách dạy học của Khổng Tử xưa, cùng một chữ “hiếu” mà tùy theo mỗi môn đệ mà giảng nghĩa một cách: Ông Mạnh Y Tử hỏi thế nào là hiếu, Đức Khổng Tử đáp: “chớ làm điều trái lẽ”. Khi ông Mạnh Vũ Bá h&#