|
|
||
|
Xin cảm
ơn ông Lê Điền, chủ nhiệm tuần báo Chính Luận
tại tiểu bang Washington đă gởi tặng chúng tôi tập
sách Chủ Thuyết Nhân Chủ viết
lại tư tưởng của nhà cách mạng Lư Đông A và cho phép
Đặc san Vietvodao được trích đăng toàn bộ.
Đỗ
Hoàng Nghĩa
CHƯƠNG
VII
Giáo dục
là khởi điểm và chung điểm
của chính trị
Cuộc
hội thảo của nhóm nghiên cứu Nhân Chủ đă diễn
ra trong bầu khí thoải mái và bắt đầu sang ngày thứ
ba. Vị chủ tọa đă giới thiệu thuyết
tŕnh viên kế tiếp như sau: qua hai ngày chúng ta đă cùng
nhau thảo luận được khá nhiều vấn
đề then chốt. Theo sự đề nghị của
đa số anh chị em hội thảo viên, chúng tôi xin kính
mời bác niên trưởng thuyết tŕnh và cho hội nghị
biết về mộtvấn đề tối ư quan trọng:
Giáo Dục.
Bác niên trưởng
là một nhà giáo dục có rất nhiều uy tín đối
với quốc nội cũng như quốc ngoại.
Bác đă đào tạo được nhiều
thanh niên qua nhiều thế hệ, (ít nhất 3 thế hệ),
từ 1940 tới nay. Hơn thế nữa bác đă
nghiên cứu về giáo dục cách mạng và cách mạng giáo dục theo
đường hướng Duy Dân chủ nghĩa. V́ vậy trong chúng ta không ai có đủ điều
kiện và khả năng như bác niên trưởng cố
vấn. Xin kính mời bác niên trưởng.
Niên trưởng cố vấn:
Xin cám ơn vị chủ tọa “H.O. cắt cỏ”. Về điều kiện, bạn
nói đúng. Nhưng về khả
năng, có lẽ ta cần xét lại. Đă trên nửa
thế kỷ tôi đă đọc cuốn Duy Nhân như
Cương Thường và Thiết Giáo do cụ Lư Đông A viết. Lúc mới đọc,
tôi hiểu rất mù mờ. Tới nay
tôi vẫn đọc. Và mỗi lần đọc tôi
lại học hỏi thêm được vài ba ư sáng tạo
khác của cụ. Cuốn sách đó nhiều
người có. Chẳng hay thiên hạ đă khai thác
được tới đâu? Riêng tôi, theo lời yêu cầu
của anh chị em, tôi xin được xử dụng một
tài liệu do một giáo sư đă dày công nghiên cứu và
trầm lặng suy tư nhiều năm về lư tưởng
Lư Đông A. V́ mắc bận nên vị đó không có mặt
trong buổi hội thảo này. Tôi đă liên lạc
và được sự chấp thuận trước.
7.1. Một Nền giáo Dục Tương Lai.
A. Diễn nhập: Hầu hết
các tư tưởng căn bản trong tài liệu nghiên cứu
này xuất phát rải rác từ các tài liệu huấn luyện
của Thái Dịch Lư Đông A. Gần 400 năm nay từ
cái học “từ chương” ở thời Lê Mạt,
tiếp Trịnh Nguyễn phân tranh đến cái nh́n cận
thị “Bế môn tỏa cảng” của triều Nguyễn (Gia Long), rồi thực
dân Pháp xâm lược, Nhật đảo chánh (1945) - Việt
Minh cướp chính quyền biến Việt Nam thành băi chiến
trường tranh chấp giữa cộng sản và tư bản
- tiếp ngày nay dưới chế độ Cộng Ḥa Xă
Hội chủ nghĩa đă và đang đưa đất
nước Việt trên bờ vực thẳm !
Trước
nguy cơ sâu rộng về mọi mặt: kinh tế th́ kiệt
quệ, khoa học và kỹ thuật th́ lạc hậu,
chính trị th́độc tài, độc đảng, phản
dân chủ, phi nhân, phi dân tộc; tệ hại nhất là
chính sách giáo dục chỉ nhằm phục vụ củng cố
đảng, đất nước đ̣i hỏi cấp
thiết một cuộc cách mạng triệt để và
toàn diện.
Người dân Việt muốn no ấm và
thanh b́nh cần có một nền chính trị biết thiết
lập và thi hành các kế hoạch để ổn định
đời sống toàn dân.
Cuộc đấu
tranh hiện tại thực sự và quyết liệt chính
là cuộc đấu tranh giáo dưỡng. Giáo dưỡng
để chuyển hóa các ác-lực thành hiệu-lực cho
tồn, tiến; Giáo dưỡng để đào tạo
những khối óc, bàn tay cùng trái tim của
thế hệ thời đại, để kiến thiết
toàn bộ sinh mệnh con người, xây dựng gia
đ́nh và tu tạo toàn diện xă hội. Đó
là mục tiêu của nền giáo dục tương lai.
B.
Định Nghĩa:
(1)
Theo Hán Việt Tự Diển của Hội Khai Trí Tiến
Đức: Giáo là dạy dỗ, Dục là nuôi. Giáo dục là dạy dỗ, gây nuôi cả trí dục,
đức dục và thể dục.
(2)
Theo “The Random House College Dictionary” Revised Edition 1988": “Giáo dục là phương thức
truyền đạt hay thâu nhận những kiến thức
tổng quát, là phương thức khai triển khả
năng lư luận hay xét đoán; Là phương thức truyền
đạt hay thâu nhận kiến thức chuyên biệt, hay
sở năng cho nghề nghiệp hay chức nghiệp; Là
tŕnh độ, thứ bậc, hay học hiệu.” (Education: The act or process of imparting or
acquiring general knowledge and of developing the powers of reasoning and
judgment; The act or process of imparting or acquiring particular knowledge or
skills, as for a trade or profession; a
degree, level, or kind of schooling)
(3)
Theo “The American Heritage Dictionary” Second College Edition, 1982: “Giáo dục là phương thức
truyền dạy hay thụ giáo; là phương thức
để đào tạo, phát triển kiến thức và khả
năng; là lănh vực học hỏi qua phương thức
sư phạm” (Education: the act or
process of educating or being educated; the knowledge or skill obtained or
developed by a learning process; the field of study that is concerned with
teaching and learning pedagogy.)
Giáo dục bao gồm ư nghĩa vừa bồi
dưỡng thân xác vừa trao truyền cho lớp trẻ
những ǵ tốt đẹp và trọn vẹn.
C. Vấn Nạn Về Nền Giáo Dục.
(1)
Quan niệm thiếu sót về giáo dục: Qua các định
nghĩa trên, nói chung Đông cũng
như Tây đă không đưa ra được một
định nghĩa nào về giáo dục một cách trọn
vẹn trên ư nghĩa nhân sinh mà con người đóng vai tṛ
chủ động. Vấn nạn này, phải chăng do một
số tư tưởng triết học hiện đại
như Duy Tâm, Duy Vật, Duy Sinh … đă ảnh hưởng
đến chính trị quan, xă hội quan và giáo dục quan.
a/ Theo tiền đề của triết
học Duy Tâm, thần linh là nguyên ủy của mọi hiện
tượng sống, nên Duy Tâm phái cho xă hội xuất phát
y cứ vào nền trật tự sẵn có, đó là biểu
hiệu tối cao mà mọi người đều phải
tùng phục. “Thần” thuộc phạm trù siêu
h́nh học nên không thể lấy ǵ mà kiểm nghiệm
được.
b/ Xă hội lư
tưởng theo phái Duy Vật là rập theo khuôn mẫu
nguyên thủy cộng sản và theo tự nhiên kinh tế. Chủ thuyết “duy vật” đă hạ giá trị
con người ngang hàng vật chất; nền giáo dục
dưới chế độ Duy Vật Cộng Sản chỉ
nhằm phục vụ, củng cố cho “đảng”.
Trong khi đó tại các nước tư bản,
mục đích giáo dục chỉ chú trọng đào tạo
các chuyên viên xuất sắc, các nhân công giỏi cho kỹ thuật
hơn là đào tạo một con người toàn diện.
c/ Theo Duy Sinh phái, tiền đề tối
định là sinh tồn, vận động và xuất phát
tối sơ là sinh thể. Phương châm lập nên và chỉ
huy sự sống con người bằng một gịng máu
ưu việt. Phương pháp thực hiện là chính sách
“phát-xít” và ưu Việt chủng tộc !
Quan niệm “chủng tộc ưu việt” đă gây biết
bao nhiêu tội ác về kỳ thị chủng tộc, những
xâm lược bất chính (thiên triều chủ nghĩa)
gây thù oán giữa người với người, những
cuộc tàn sát tập thể …
(2)
Con người là tổng hợp vật tâm sinh: Tổng
quát, ta thấy mỗi nền triết học trên chỉ
nghiên cứu một điều kiện hoạt động
của con người hay của xă hội nên thiếu cái
nh́n nhất thể và toàn bộ.
*
Thực tế, con người đă khám phá ra hiện
tượng sống. Không con người, vạn vật có
cũng thế mà không có cũng thế (vô danh giả thiên
địa chi thủy - Đạo Đức Kinh). Nói cách khác , có con người, vũ trụ mới
có tên. Người chính là nguồn gốc của
hiện tượng sống. Do đó, Người
chính là tiền đề cho triết học. Con người
là tổng hợp tâm vật sinh, là đối tượng
cho sự kiến thiết.
* Đời sống người phải lấy
người làm cứ điểm. Lấy
con người làm gốc (nhân bản), lấy tính người
(nhân tính) làm y cứ cho các tổ chức, lấy con người
làm chủ sinh mệnh ḿnh (nhân chủ).
*
Đời sống con người cần được
giác ngộ chân chính, không bị trói buộc vào những lồng
chụp về tinh thần, vật chất hay sinh lực,
mà phải vận dụng cả ba mặt tâm-vật-sinh
để thăng hoa cuộc sống con người.
*
Loài người đă khám phá ra rằng hiện tượng
sống không phải chỉ do yếu tố tinh thần
(như phái Duy Tâm chủ trương) hay vật chất
như phái Duy Vật khẳng định. Hiện tượng
sống bao giờ cũng được sản sinh bởi
ba phạm trù: tự nhiên, xă hội và tư tưởng. Ba phạm trù này thường hằng vận động,
kết hợp và thống nhất.
Nhân chủ chính là một tiến tŕnh hành
động để tự thắng. Có tự
thắng mới khả dĩ giúp cho người khác tự
thắng và đưa loài người đến mức tự
thắng. Tự thắng trước hết
là tự thắng tất cả các yếu hèn, dục vọng,
dốt nát, chia rẽ, dă man c̣n ẩn tàng trong tâm tính vẩn
đục t́nh người trong chính ḿnh. Tự thắng
sau nữa là vận động, khai triển được
hết khả năng tốt đẹp ẩn tàng, đem
tinh hoa làm rực rỡ cho cả ba mặt vật-tâm-sinh
phát triển cuộc sống con người, gia đ́nh, dân
tộc và nhân loại. (huyết Hoa)
*
Tóm lại, người không sống thuần tâm, thuần vật
hay thuần sinh mà tổng hợp cả ba thể. Người không những chỉ muốn phát triển
toàn bộ cá nhân ḿnh mà c̣n muốn đưa đẩy gia
đ́nh, dân tộc, nhân loại cùng đạt tới thái
ḥa.
(3)
Để có một ư nghĩa giáo dục bao quát hơn, nhân
bản hơn, ta cần ghi thêm theo tư tưởng Lư
Đông A: Giáo dục là sự truyền dạy và tài bồi
cho người cầu học một phương pháp và
tinh thần để thâu thái, tu tạo tri thức cùng
năng lực và ư chí
sinh, tồn, tiến, nối, hóa.
Giáo
dục là tạo cơ hội, phương tiện mọi
mặt để toàn thể quốc dân tu dưỡng, học
hỏi, kinh lịch hầu phát triển cao độ khả
năng thể xác, tâm hồn, trí tuệ và sự sống của
chính ḿnh, của dân tộc ḿnh ngày một thăng hoa.
a/ Mục đích của giáo dục phải là xây dựng con người
có đủ khả năng làm chủ sinh mệnh ḿnh và
đóng góp thăng hoa cho xă hội.
b/ Học thuyết của giáo dục là biến
hóa khí chất, bồi dưỡng khí chất, và phát huy khí
chất. Khí chất là chủ
yếu của con người. Giáo dục sao cho có
được một sinh khí mạnh mẽ (thận vững,
tay mạnh, ḿnh nhẹ), tức là “kiện
khang giáo dục”. Giáo dục sao cho có một tinh thần cao
thượng: Tổ Quốc, Chính Nghĩa, Lư Tưởng,
Nhân Cách và Danh Dự (óc sáng, tim trong), tức
là “Hoàn thiện giáo dục”.
c/ Giáo dục sao
cho có hiệu xuất thích đáng để thăng hoa cuộc
sống chính ḿnh và xă hội. Do đó châm ngôn của giáo dục
là làm sao cho thân ta thành một thiện cụ cho chính ta và cũng
là khí cụ cho xă hội.
d/ Biện chứng của giáo dục là tu tiến
“thủy tạo” để đạt đến “thành tạo”.
Thủy-tạo là đức tính bẩm sinh, tính lúc ban đầu
(tự nhiên tính), đức tính này cần có một chiều
hướng phát triển qua giáo dục, tu dưỡng, kinh
lịch gọi là “kế tạo” (hay tu tạo) để
hoàn bị hơn nên gọi là “kế tạo” (hay tu tạo).
e/ Bản thể của giáo dục là đúc kết
thành qủa của qúa khứ và hiện tại để
mưu cầu cải tiến và sáng hóa cho tương lai. Nếu thiết lập được một nền
giáo dục đúng đắn tức thành công trên văn hóa.
Cốt tủy của văn hóa là sự phác định con
đường lịch sử và chính trị đúng đắn.
Ở đó tất có một quốc sách, một quốc
lược sáng suốt và bền vững.
f/ Yếu chỉ của giáo dục phải
nhân bản hóa, nhân chủ hóa và nhân tính hoá.
Nhân
bản: lấy người làm chủ chốt th́ các hiện
tượng sống được tạo ra bởi
người, v́ người và cho người. Sứ mệnh
của con người trong xă hội là phục vụ
người, v́ người và cho người.
Nhân
chủ: Lấy loài người làm chủ đạo sinh hoạt
cho loài người. Người là chủ
động đối với tự nhiên, xă hội và chính
ḿnh. Bất cứ sự vi phạm
về nhân bản, nhân tính hay nhân chủ đều bị
loài người sớm muộn phản kháng. Sự
phản kháng đó làm cho lịch sử chuyển dịch và
tiến bộ.
Nhân
tính: Để cho người thực sự có hạnh
phúc, nền chính trị nhân bản phải lấy nhân tính
làm xuất phát điểm và nền tảng cho việc
thành lập xă hội. Người khác với
động vật khác là v́ có nhân tính. Xă
hội người chính là một tổ chức có nhân tính.
V́ nhân tính mà con người h́nh thành xă hội. Nhân tính nguyên khởi để cấu tạo xă hội
là nhu yếu tính, tự vệ tính, sắc tính và tập
đoàn tính.
Con
người sống như muôn loài, cần có nhu cầu vật
chất như ăn để duy tŕ sự
sống, đó là “nhu yếu tính”. Vũ trụ là nguồn
cung cấp sự sống, nhưng cũng là nguồn gây tai họa cho con người (như băo lụt),
cùng sự đe dọa của các mănh thú nên con người
phát huy tính thứ hai là “tự vệ tính”. Con người cần
có nhu cầu chung đụng nam nữ
để sinh con cái, duy tŕ ṇi giống. Đó
là “sắc tính”. Sau cùng, con người thấy cần
sống trong tập thể để nương tựa lẫn
nhau mà tiến, nối hóa, đó là “tập đoàn tính” hay
“xă hội tính”.
D.
Phạm trù của giáo dục.
(1)
Khái niệm về “cơ năng” và “bản vị”:
Bản-vị là một
đơn vị cơ bản, tự nó có thể tồn tại
và có khả năng vận động và kết hợp với
bản vị khác để h́nh thành một bản vị lớn
hơn. Như vậy, một bản vị có thể
đóng hai vai tṛ: bản vị cơ bản và bản vị
thành phần của một bản vị lớn hơn. Thí
dụ: hydro, oxy là những bản vị cơ bản, vận
động và kết hợp thành nước (H2O). Tương tự,
nam nữ là những bản vị cơ bản, vận
động và kết hợp thành gia đ́nh và trở nên bản
vị thành phần của gia đ́nh.
Mỗi bản
vị khi tự thành h́nh đă có riêng cho nó một tính đặc
biệt và có riêng một trục lơi, một trung tâm bản
vị (đặc tính của hydro, của oxy, của nam, của
nữ, trục của trái đất, mặt trăng, bản
ngă của con người nam hoặc nữ.)
Mỗi bản vị thành phần
chịu chung một hướng tâm xu thế
của bản vị mới lớn hơn, và đảm nhận
một tác dụng, nghĩa là thành một cơ năng. Bản vị là nguyên nhân của cơ năng và
cơ năng lại là nguyên nhân của bản vị.
Các cơ
năng (hydro, oxy, nam, nữ) khi vận động th́ hỗ
tương suy động để kết hợp thành bản
vị mới (nước H2O, gia đ́nh), đồng hóa
ḿnh trong bản vị mới và coi bản vị mới
như chính ḿnh. Mỗi vận động
của cơ năng trở thành mỗi vận động
của bản vị mới. Ngược lại, bản
vị mới khi vận động phải hỗ trợ
cho các cơ năng vận động có hiệu qủa
hơn và không sai khớp với bản vị (thí dụ: mỗi
hành động của vợ, chồng, con cái phải phù hợp
với hướng tâm xu thế của gia đ́nh, nghĩa
là phải đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh.)
Bản vị
và cơ năng hỗ tương để tồn tại
và phát triển. Đó là chân ư nghĩa của
sinh tồn. Do đó, bản vị cần phải hiệp
điệu và thống nhất; cơ năng cần phải
phân công và họp tác.
Trong xă hội loài người,
nếu có một sự mâu thuẫn phát sinh ra giữa bản
vị và cơ năng, trạng thái quân b́nh sẽ không c̣n nữa,
và bản vị sẽ không thể phát triển được
và sẽ sống trong t́nh trạng bệnh thái, yếu hèn,
khó mà tồn tại lâu dài được.
(2)
Khái niệm về “hướng tâm”, “hướng tha”, và
“hướng thượng”.
Như chúng ta đă biết:
thể chất của con người cấu tạo bởi
vật chất, nên thể xác con người bị chi phối
bởi các qui luật về vật chất khách quan (khoa học).
Cùng với thể xác, người khác với
các động vật khác là có nhân tính. Xă
hội người chính là một tổ chức có nhân tính.
V́ nhân tính mà con người h́nh thành xă hội. Nhân tính nguyên khởi để cấu tạo xă hội
là nhu yếu tính, tự vệ tính, sắc tính và đoàn thể
tính.
Trong vũ trụ, mỗi cá nhân là một bản
vị khi tự thành có một đặc thù và sẵn có một
trục lơi, một trung tâm bản vị.
E.
Chính sách giáo dục.
(1)
Đối tượng và nguyên tắc giáo dục:
(2)
Thái Dịch Lư Đông A đă
viết: “Chính trị là thiết kế và chấp hành nhân
sinh” và “giáo dục là khởi điểm và là chung
điểm của chính trị.” (Thiết Giáo).
Quốc Gia giáo
dục tất nhiên lấy bản thân “dân chúng” và “dân tộc”
làm đối tượng. Giáo dục phải
được tổ chức và phổ biến đến
toàn dân, toàn quân. Thi hành vận động
giáo dục, vận dụng giáo dục, hoàn thành giáo dục,
công dân giáo dục phải liên tục, thường xuyên khắp
toàn dân trên toàn quốc.
Có 4 nguyên tắc:
-Toàn-thể
tính: Gọi là toàn dân, toàn quân nên không phân biệt nam, nữ,
lăo, ấu, cô qủa, phế tật, giàu nghèo và địa
phương (thôn quê hay thành thị, địa điểm
này hay địa điểm khác). Toàn thể
đều là đối tượng cho giáo dục.
-B́nh-đẳng
tính: Như trên đă tŕnh bày, biện chứng của giáo dục
là “thủy tạo”, “kế tạo” và “thành tạo” để
“thành quân” (vật với tâm b́nh hành thống nhất, hiện
tượng b́nh hành thống nhất với lư tưởng)
nên không phân biệt giai tầng xă hội. Con người
sinh ra đồng nhất tính, sở dĩ có kẻ kém
người hơn là nhờ phần giáo dục. “Tính tương cận, tập tương viễn”
hay “hữu giáo vô loại” là ư đó.
-Trách-vụ
tính: giáo dục và chính trị cho đạt tới lư tưởng
“đại đồng” (xă hội không c̣n bóc lột, áp bức
nhau.; chính trị không bị phế bỏ,
tư tưởng không đổ nát, đời sống dân
chúng không đói rách, ngu dốt, tật bệnh) th́ người
hành chánh không thể không có trách nhiệm.
-Tổ-chức
tính: Giáo dục có tổ chức là giáo dục sao cho toàn thể
quốc dân có kỷ luật. Muốn có một nền kỷ
luật có ư thức nên dùng lễ nghĩa để điều
tiết, lấy thưởng phạt để khuyến
khích, răn đe, đề ra những công tác để phục
vụ, lấy sinh hoạt để điều lư …
(2)
Cứu cánh của toàn quốc dân giáo dục:
Mục đích của dân sinh
là đưa quốc dân tới ba cứu cánh: Trinh - B́nh -
Ḥa.
* Trinh: bẩm tính thứ nhất
của loài người là “phiên chủng”, cho nên sự kết
hợp và hợp tác của đàn ông với đàn bà cần
phải “Trinh” (chính đính, thủy chung)
để điều kiện nhân chủng được
thuần túy, kế tục, kiện khang.
*B́nh: bẩm tính thứ hai của
loài người là cấp dưỡng. Toàn thể
cơ cấu kinh tế trên qúa tŕnh sản sinh, giao dịch
và phân phối có được b́nh đẳng, măn túc và bảo
chướng th́ xă hội mới có tiến hóa bề ngang.
Chính sách “b́nh sản kinh tế” là để thực hiện
chữ “B́nh”
* Ḥa: bẩm tính thứ ba của
con người là xă hội tính (tập đoàn tính). Tất
cả những cảm t́nh, tâm lư, hành vi,
chế độ … nếu nguyên lư cơ năng với bản
vị được điều lư thích hợp th́ an lành tốt
đẹp.
Trinh - B́nh - Ḥa là ba cứu
cánh và mục đích của xă hội nhân sinh để
cơ bản nhân sinh được tối đa viên măn.
(3)
Bốn khoa mục căn bản:
Để toàn thể quốc
dân đạt được những nguyên tắc và cứu
cánh trên, nền giáo dục cần có 4 khoa mục căn bản:
* Về đạo lư: khoa mục
này nhằm tu dưỡng tính tâm, thân mệnh để có một nhân cách,
một thể cách và phong cách.
* Về chính trị: Dân chúng
cần được huấn luyện cơ bản về
pháptrị, dân trị, và nhân trị, tư cách sống c̣n,
quyền lợi của dân tộc.
Dân chúng cần có một hiểu biết các
diễn tiến của thời cuộc, hiểu được
nghĩa vụ, quyền lợi của một công dân.
* Về quân sự: Mỗi quốc
dân phải được huấn luyện đầy
đủ những điều thường thức về
chiến tranh, căn bản chiến lược, chiến
sử, toàn dân tinh thần, toàn dân hy sinh, bảo tồn
nước ṇi, mỗi chiến sĩ là một dân tộc
chiến sĩ.
* Về kinh tế: Thực tập
phục vụ đặc biệt dành cho các ngành công, nông,
thương.
F.
Hạch Tâm Của Giáo Dục:
(1) Cá nhân: Cá nhân và thời
đại là yếu tố phát triển biện chứng.
Cá nhân đóng góp cho tập thể các sáng tạo, suy tư,
hành động. Ngược lại, tập
thể đối chiếu cho cá nhân những kinh nghiệm,
những hiện thực thời đại. Các sáng tạo
của các cá nhân khác, cho nên hạch tâm chú trọng trong giáo dục
là sao cho mỗi cá nhân thành thiện cụ cho chính ḿnh, và cũng
là khí cụ cho tập thể. Về tinh thần sao cho mỗi
cá nhân được cao thượng, chính nghĩa, lư
tưởng, nhân cách và danh dự …
Người ta ở
đời về phần xác thịt không ǵ hơn sự sống.
Sự sống ai cũng muốn, nhưng lại
phải sống về phần tinh thần. Nếu v́ không kiêm cả hai cùng lúc th́ nên bỏ cái
sống nhất thời mà chọn lấy cái nghĩa muôn
thuở.
Mạnh Tử cũng nói rằng:
“ Sự xấu thẹn là động cơ để
người ta làm lành. Làm người không thể
nào không biết xấu thẹn khi làm điều xấu.
Lương tâm con người vốn sẵn ḷng tu-ố. Mốt
khi biết tu-ố chắc chắn nhân dục sẽ bớt
đi để cuộc sống tốt lành hơn.” (nhân bất khả dĩ vô si, vô sỉ chi sỉ,
vô sỉ hỹ) (Khổng Học Đăng - Phan Bội
Châu)
Giáo dục nhằm
giúp mỗi cá nhân có một bản ngă trang nghiêm, cao đẹp
(hướng tâm). Trong mục “tồn tâm dưỡng
tính”, Mạnh Tử cũng đă nêu: “Người ta có con
gà con chó chạy mất th́ biết đi t́m kiếm, nhưng
đáng buồn thay khi tâm ḿnh xa bản thân ḿnh (mất nhân
tính) th́ người ta lại chẳng biết t́m về !” (Nhân hữu kê khuyến phóng tắc
tri cầu chi; hữu phóng tâm nhi bất tri cầu, ai tai !).
V́ thế giáo dục cần
vạch rơ cho cá nhân có ba cửa học: nô tài, nhân tài, và thiên
tài.
Mạnh Tử cũng đă
nói: “Chăm về phần đại thể (lương
tâm) sẽ trở thành đại nhân; ngược lại,
chăm chỉ về phần tiếu thể (tai, bụng, mắt, miệng …) thành tiểu
nhân (Tùng kỳ đại thể vi đại nhân, tùng kỳ
tiếu thể vi tiểu nhân) (Khổng Học
Đăng).
Ở trong thân thể người
ta, mỗi ngũ quan có một nhiệm vụ:
tai để nghe, mắt để nh́n, miệng để
nói, bụng để chứa … duy có tâm là có thể suy nghĩ,
quyết đoán. Cho nên lo dưỡng tâm là lo
phần đại thể.
Khổng tử cũng nói:
“Cái cô (vật h́nh vuông) mà lại không phải h́nh vuông th́ sao
gọi là cô: cô bất cô. Cô tai !
Tương tự: “Nhân bất nhân, nhân tai !
nhân tai !. Người mà
không đúng tư cách làm người th́ sao gọi là người
(Khổng Học Đăng).
(2)
Gia đ́nh: Tiểu gia đ́nh là tế bào (đơn vị
căn bản) của quốc gia. Do đó, sinh hoạt tiểu
gia đ́nh là điều quan trọng trong chương tŕnh
quốc giáo.
Tiểu gia đ́nh gồm có
cha mẹ và con cái. Quốc gia lấy tiểu gia đ́nh làm
đơn vị phân công, phân mệnh và phân lợi. Tiểu gia đ́nh là miếng đất tiên khởi
gieo hạt giống hạch tâm thế cho toàn bộ xă hội.
Đối với xă hội,
tiểu gia đ́nh là nơi truyền nối đạo thống,
văn hóa, di dưỡng phong tục, tập quán dân tộc,
là nơi đào tạo căn bản tài năng, tư cách
công dân, chuẩn bị sáng tạo, quan trọng nhất là
khởi dựng của “yêu thương”. Có
yêu thương mới lo xây đắp cho chính ḿnh, gia
đ́nh và xă hội.
Yếu tố
thứ nhât của xă hội sinh hoạt là hôn nhân. Đề cập tới hôn nhân là đề cập
đến nhân chủng. Nhân chủng có
kiện khang th́ gia đ́nh, xă hội mới phát triển và
hướng thượng.
Trong tiểu gia
đ́nh, mỗi người có bổn phận với chính
ḿnh, và với gia đ́nh (cha mẹ làm trọn đạo
cha mẹ, con cái làm tṛn bổn phận con cái.)
Tiểu gia đ́nh lấy
quan hệ ḥa-hài giữa cha mẹ và con cái làm tiêu chuẩn
cho mọi sinh hoạt. Vai tṛ của cha mẹ và con cái là vai
tṛ của ba cơ năng trong bản vị gia đ́nh. Ba
cơ năng này vận động và phát triển lấy
quyền lợi và hạnh phúc của toàn thể gia đ́nh
làm bản vị hệ, chứ không là “mẫu hệ” hay
“phụ hệ.”
(3)
Quốc gia dân tộc: Nhân loại là một, nhưng dân tộc
th́ nhiều. Con người từ xưa tới nay, từ
Đông sangTây, đủ mọi màu da, tất cả loài
người đều đồng bản thể con
người, đều có cá nhân tính (nhân tính: nhu yếu
tính, tự vệ tính, sắc tính, xă hội tính) nhưng v́
hoàn cảnh điạ lư phân phối, phong tục tập
quán, ngôn ngữ, lịch sử mà kết thành nhiều dân tộc.
Mỗi dân tộc đều có ḍng sống sử
riêng, văn hóa riêng, và mỗi ḍng sống sử đó là một
cơ năng trong bản vị nhân loại.
“Nước có nguồn mới
biển cả sông sâu.” (Ca dao)
Nhân loại tiến hóa không
phải do sức một ḍng sống mà cần sự chung đụng của nhiều ḍng giao tiếp
nhau. Giả tưởng một ngày nào nhân loại
chỉ c̣n một ḍng sống duy nhất đă toàn thắng
th́ ngày ấy nhân loại cũng bắt đầu tàn lụi.
Do đó “Giáo Dục Dân Tộc” phải dứt khoát loại
khỏi học đường các tư tưởng, chủ
thuyết, hành động : siêu dân tộc” như “Quốc tế
xă hội chủ nghĩa” của Cộng Sản, “Thiên triều
chủ nghĩa” núp dưới danh từ hoa mỹ như
“Đại đồng chủ thuyết” hay “Đại
Đông Á, v.v…”
Muốn bản
vị nhân loại thái ḥa, th́ cơ năng dân tộc phải
được bảo toàn, vun bồi. Muốn dân tộc
kiện khang, chính sách “lục dân” cần được
nghiên cứu trong chương tŕnh “Quốc Dân Giáo Dục”:
* Dân tộc độc lập:
Có độc lập thực sự mới có thể tiến
tới thành công Cách Mạng. Độc lập thực sự
là không bị can thiệp ở trên ư chí, đưa dẫn vận
mệnh dân tộc là đối thoại không bị nước
ngoài can thiệp, đối nội không bị công cụ
đảng của ngoại bang thao túng.
* Dân đạo phát
dương: Mỗi dân tộc phát huy được nền
văn minh của ṇi giống ḿnh và cống hiến chung cho nhân loại.
* Dân-vực bảo toàn: Lănh
thổ của quốc gia (địa, không, hải, tiềm
vực) phải được bảo toàn sao cho toàn vẹn.
* Dân sinh quảng đại:
Phát triển cao độ đời sống thực tiễn
của quốc gia về mọi mặt: văn hóa, giáo dục,
chính trị, kinh tế, ngoại giao…
* Dân trí chỉnh sức: Làm
sao chỉnh đốn nền chính trị phù hợp với
truyền thống dân tộc và thích hợp với thời
đại.
* Dân văn sáng hóa: Văn hóa
đặc thù của mỗi dân tộc được sáng
hóa măi lên.
Một nền
giáo dục dân tộc phải nhằm bảo tồn và phát
huy dân tộc tính. Phải khai quật và
nảy nở những tinh hoa của dân tộc qua kinh nghiệm
lịch sử và văn hóa.
Nền giáo dục dân tộc
Việt phải căn cứ vào những cơ cấu tinh
thần và t́nh cảm của dân tộc mà phát huy những sở
trường cùng bổ khuyết những sở đoàn.
Vị trí nước
Việt là nơi giao lưu của các nền văn minh nhân
loại. Lịch sử Việt là lịch
sử trường kỳ tranh đấu để sống
c̣n nên sứ mạng của văn hóa Việt trong
tương lai phải làm được cuộc tổng hợp
tất cả những nền văn minh của thế giới.
G.
Nội Dung Kiến Thiết Giáo Dục:
(1)
Quan niệm về Học Đường: Như trên đă tŕnh bày,bản thể
của giáo dưỡng là đúc kết qúa khứ và hiện
tại để mưu cầu cải tiến và sáng hóa cho
tương lai. Trong tiêu chuẩn đó, có ba điều
chính: cầu học, làm người
và xử việc.
* Cầu học phải phát
động từ cầu hiểu về nhân sinh và sự
lư, lấy vũ trụ làm vật chất từ vạn vật
rất nhỏ đến rất lớn; lấy thời
gian từ vô thủy đến vô chung; lấy xă hội từ
rất tĩnh cho đến rất động làm đối
tượng …Cầu học có nghĩa là cầu sống.Biết
và làm việc …” cho nên “học” là chung đúc vũ trụ
(khoa học), xă hội và cá nhân làm một. Như
vậy, học không phải chỉ huy nơi trường
sở, mà tất cả đều là học đường.
Học đường bao gồm: công lập, tư thục,
học viện, vơ đường, cơ sở
thương mại, kỹ nghệ, các trung tâm sinh hoạt
xă hội về văn hóa, mỹ thuật, thể theo … Tóm lại, xă hội tức học hiểu,
sinh hoạt tức giáo dục. Dạy, học,
làm thống nhất.
(2)
Học viện: Để thích hợp với sự phát triển
về cơ thể và trí tuệ, học viên được
phân lớp như sau:
*
Dục anh (1-3 tuổi): tuổi cần bú sữa, săn
sóc, phù tŕ.
*
Aáu học (3-5 tuổi): tuổi cần vỗ về, nắn
nót, khai thác tính t́nh, mở đường biết thực tế
xă hội sinh hoạt.
*
Tiểu học (5-10 tuổi): đào dưỡng t́nh tứ,
hàm dưỡng lư tưởng, khai phát đạo đức…
*
Trung học (10-17 tuổi): tuổi bồi đắp nhân
cách, nâng cao lư tưởng, mở mang nhăn quang, vun đắp
trí năng thực dụng.
*
Đại học (17-40 tuổi): tuổi rèn luyện tính,
tâm, thân mệnh (hoàn thành lư tính, kiện toàn tâm lư, tu dưỡng
tính, khí, thần, xúc tiến, sự nghiệp, học hỏi
chuyên môn khoa học, kỹ thuật, nhân văn ….
*
Dưỡng lăo (50 tuổi trở lên): tuổi cần tu
đạo, nghĩ ngơi, dạy trẻ, lập đức,
lập nghiệp = thành quân.
Ngoài ra, công việc giáo dục cũng phải
lưu tâm đến những thành phần ưu tú (thần
đồng) hay những em bất thường thái để
có những chương tŕnh đặc biệt.
(3)
Mô phạm:
* Nhà giáo (người dạy):
đề nghị chia làm 4 ngành:
-Thày dạy về kỹ nghệ,
quản lư: trông nom những vấn đề lao
động công tác, kỹ nghệ sản xuất, sinh hoạt
đoàn thể, quản lư chính trị, coi xét kỷ
cương, công tác lănh đạo, đốc thúc và điều
chỉnh kế hoạch.
-Thày
dạy về khoa học: phụ trách các môn khoa học tự
nhiên, toán học, khoa học thực nghiệm …
-Thày
dạy về văn, xă: Phụ trách các vấn đề
khoa học xă hội, văn ngữ, nghệ thuật, quốc
nghĩa và công dân giáo dục ….
-Thày
dạy về thể dục, thể thao, vũ thuật và
quân sự học đường: có 4 nhiệm vụ:
* Luyện tập các thanh thiếu
niên về thể dục, thể thao, vơ thuật để
đủ sức chịu đựng, đồng thời
tự hiểu rơ sự bảo tồn bản thân.
* Đủ nghị
lực và sức mạnh phục vụ tổ quốc và xă
hội.
* Biết giữ ǵn phẩm
hạnh, đạo đức.
* Chuẩn bị khả
năng về quân sự để săn sàng chiến đấu.
* Phương thức dạy:
Nền giáo dục hiện nay trên thế giới phần
đông đă thất bại v́ qúa nhấn mạnh vào kỹ
thuật. Chỉ trau giồi tài năng mà thiếu hiểu
biết đến cuộc sống, thiếu thể cách của
tư tưởng, chỉ làm cuộc sống tăng thêm sự
tàn nhẫn. Chính cũng do đó là nguyên nhân đă đưa
đến những cuộc chiến tranh, sự bất an trong cuộc sống. Giáo dục
tương lai phải khám phá ra những phương thức
có ích lợi của việc sáng tạo để phục vụ
cho nhân sinh một cách tốt đẹp hơn.
-Học
với dạy thống nhất, dạy tức học, học
tức dạy; học tức hành (tri hành hợp nhất)
-Đối với người dạy (nhà
giáo), điều trước tiên cần tự hỏi nới
chính ḿnh “quyết định muốn dạy học th́ phải
tự minh xác dạy những ǵ?” (biết
rơ điều ḿnh dạy), và bao lâu dạy học coi là một
nghề nghiệp, một phương tiện sinh sống
mà không là xu hướng hiến dâng th́ c̣n có một lỗ hổng
to lớn trong ngành dạy học.
Công việc giáo dục rất
là quan trọng v́ đó là cách “trồng người”, đ̣i
hỏi rất nhiều công phu và phương thức thật
tinh vi, tế nhị.
Cách dạy học của Khổng Tử xưa, cùng một chữ “hiếu” mà tùy theo mỗi môn đệ mà giảng nghĩa một cách: Ông Mạnh Y Tử hỏi thế nào là hiếu, Đức Khổng Tử đáp: “chớ làm điều trái lẽ”. Khi ông Mạnh Vũ Bá h