Vol. 25  5/2005                                                                                     4th year edition

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

 

NON BỘ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 

Phan Quỳnh

                                                                                                 

           (Tiếp theo)

 

III/.- Non bộ trong Việt sử.

 

     Một non bộ cổ nhất Việt Nam vào thế kỷ thứ X và có lẽ cổ nhất trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại và được bảo quản tại Hoa Lư tỉnh  Ninh B́nh , Bắc Việt. Sách Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ, xuất bản năm 1930, ghi :

 

     ở huyện Gia Viễn (Ninh B́nh) thuộc xă Trường Yên có động Hoa Lư, xưa là kinh đô nhà Đinh và nhà Tiền Lê , hiện nay c̣n lăng và đền thờ vua Đinh và vua Lê .

         

       bến đ̣ lên, có một con đường hẹp lởm chởm những đá, đi độ nửa giờ th́ đến làng An Hạ có đền thể vua Lê . Mới đến có một cái sập đá rồi qua cửa tam quan th́ một bên có một cái giếng, một bên có một cái núi non bộ bằng một tảng đá lớn (13).

 

     Theo truyền thuyết vùng Ninh B́nh th́ ngay từ hồi vua Lê Đại Hành (980-1005) c̣n sinh tiền, tại kinh đô Hoa Lư , song  song với việc xây dựng các cung điện như Bạch Bảo Thiên Tuế , điện Phong Lưu , điện Vinh Hoa , điện Bồng Lai , điện Cực Lạc , điện Trường Xuân v.v. ...th́ ḥn non bộ nói trên được chế tác để chúc thọ nhà vua .

 

     Sử cũ đă ghi : Năm Ất Dậu, hiệu Thiên Phúc thứ 5 (985), mùa thu, tháng bẩy, ngày Đinh Tị là ngày sinh của vua. Vua sai người đóng thuyền giữa sông dùng tre làm núi giả trên thuyền gọi là Nam Sơn (14). 

 

     Từ đấy, năm nào cũng giữ làm lệ thường (15).

                                 

 

     Triều đại nhà Lư (1009-1225) là một trong những triều đại mở đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc , sau hơn ngh́n năm sống trong màn đêm thống trị của phương Bắc. Năm 1010 , vua Lư Thái Tổ dời đô về Thăng Long, tiện nghi và rộng răi hơn Hoa  Lư,  để xây dựng nên một trung tâm văn hóa tầm kích lớn cho Đại Việt , có ư muốn sánh ngang hàng với Đại Đường , Đại Tống phương bắc . Phật giáo và Lăo giáo đă chiếm những chỗ đứng ưu thế trong đi sống tín ngưỡng dân gian , dần dần trở thành quốc giáo , chính vua Lư Thánh Tông đă lập ra phái Thảo Đường , bước đầu tạo sự phối hợp hài ḥa giữa đạo và đi.   

 

     Kinh đô Thăng Long được các vua Lư mở mang ngày một lớn rộng . Các cung điện , lầu gác , đ́nh tọa , chùa tháp, v.v. ..., được dựng lên và tu bổ liên tục , như điện Thiên An, điện Thiên Khánh, điện Trưng Xuân, lầu Chính Dương, lầu Long Đồ để vua dạo ngắm hay điện Long Thụy, Long An để vua nghỉ ngơi, chắc hẳn những nơi ấy có vườn cảnh, cây cảnh, non bộ , để vua thưởng ngoạn.

 

     Triều vua Lư Thái Tổ (1010-1028) , Việt Sử Lược ghi : Năm Tân Dậu , hiệu Thuận Thiên thứ 12 (1021) Mùa xuân , tháng 2 ngày Mậu Tí lấy ngày sinh của vua làm tiết Thiên Thành , xây Vạn Tuế Nam Sơn ngoài cửa Quảng Phúc , làm nhiều h́nh chim bay , thú chạy , bày la liệt trên .(16)

 

     Cùng sự việc này , sách  Đại Việt Sử Kư Toàn Thư lại ghi : Lấy tre làm một ngọn núi gọi  là Vạn Thọ Nam Sơn ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều h́nh chim bay , thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng cầm thú làm vui để ban yến cho bày tôi.

     Năm Nhâm Tuất (1022), mùa xuân , tháng 2, vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc cho dân, băi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi (17).

 

      Dưới triều vua Lư Thái Tông (1028-1054) , sử cũ cho biết năm Mậu Th́n 1028 : Tháng sáu, lấy ngày sinh vua làm tiết Thiên Khánh, xây Vạn Tuế Sơn Long Tŕ, có năm ngọn, ngọn giữa dựng bức tranh Trưng Thọ Tiên, hai bên tả hữu đều có hạc trắng (18); trên núi làm những h́nh tiên bay, chim , thú ; lưng chừng núi lại có thần long vây quấn, cắm, treo vàng ngọc , sai bọn phưng tuồng (linh nhi) trên núi thổi sáo, ca múa làm vui (19) .

 

     Năm Kỷ Sửu (1049) Mùa thu , tháng 8 , đào ng̣i ngự phía ngoài Phượng -thành ; lại đào ao Kim-minh vạn-tuế. Khi mới đào , trong ao có tiếng kêu  xoang xoảng , đào lên , được một khối vàng nặng 50 lạng , cho nên đặt tên đó . Lại đắp núi đá có ba ngọn  trên ao , xây cầu Vũ-phượng  (20).

 

     Năm Tân Măo, hiệu Sung Hưng Đại Bảo năm thứ 3 (1051), đào ao Thụy Thanh, ao Ứng Minh vườn Thắng Cảnh (21).

 

     Triều vua Lư Thánh Tông (1054-1072) , sử cũ cũng nói về vườn cảnh và non bộ của nhà vua :

 

     Năm Đinh Dậu (1057)  Mùa hạ , tháng 4 , ngày Giáp Ngọ rồng vàng từ vườn Quỳnh-lâm hiện ra phía trước điện Trưng -xuân (22) .

 

     Năm Mậu Tuất , hiệu Long-thụy thái-b́nh năm thứ 5 (1058) , xây điện Hồ-thiên bát giác ao Kim-minh .

 

     Tháng 3 , mở cửa Tưng-phù , xây lầu trên đó

 

     Tháng 6 , xây điện Linh-quang , bên trái dựng điện Kiến-lễ , bên phải dựng điện Sùng-nghi . phía trước điện dựng  lầu chuông , một cột , sáu cạnh h́nh hoa sen ( độc trụ lục giác liên hoa chung lâu ) (23).

 

     Năm t Tị (1065) , tháng 8 , mở  vườn Thượng-lâm (24).

 

     Triều vua Lư Nhân Tông (1072-1127) , năm Mậu Dần , hiệu Hội-phong năm thứ 7 (1098) mùa thu , tháng 8 , lập núi Ngao-sơn trên đất (25).  Sự kiện này , Hoàng Xuân Hăn có chi tiết hơn : Vua 35 tuổi, vẫn chưa có hoàng tử. Vua lập đàn, có xây núi Ngao Sơn trên đất cạn; dựng đài cao, , chung quanh treo đèn đủ sắc, đủ kiu, trên có vũ nữ múa, nhạc công cử nhạc . (26)

 

     Tháng 9 (1098), xây điện Xùng-uyên ao Phượng-liên , bên trái đặt điện Huy-dương, đ́nh Lai-phượng, bên phải dựng điện Ảnh-thiềm , đ́nh Át-vân , phía trước xây lầu Trưng-minh , phía sau bắc cầu Ngoạn-hoa (27).

 

     Tháng 9 Tân Hợi (1131, đi Lư Thần Nông) mở vườn Bảo Hoa (28).

 

     Vua Lư Anh Tông (1138-1175) sai xây dựng nhà cửa lớn, làm điện Thụy Quang , đ́nh Thưởng Hoa , ao Kim Liên, cầu Minh Nguyệt, ... (29).

 

      Những công tŕnh tạo tác như vậy vẫn liên tục tới cuối thời Lư chưa ngưng nghỉ. Năm Quí Hợi 1203 vua Lư Cao Tông cho xây thêm nhiều cung điện lầu gác, trong đó có gác Thánh Thọ .... ao Dưỡng Ngư , trên ao xây đ́nh Ngoạn Y . Ba mặt đ́nh có trồng hoa thơm cỏ lạ , nước ao thông với sông , cách chạm trổ , trang sức khéo léo , công tŕnh thổ mộc đẹp đẽ , xưa chưa từng có vậy  (30)  .

 

     Các chùa tháp thời Lư phần lớn do nhà vua, hoàng gia hay các quan lại giới quí tộc bỏ tiền ra xây dựng kinh đô Thăng Long , hay những nơi có cảnh đẹp núi sông, mà trong khuôn viên chùa chiền hay đền miếu thường có vườn cảnh, cây cảnh , non bộ . Năm 1077 Thái Sư Lư Thường Kiệt giúp nhà sư Đạo Dung trùng tu, sửa chữa chùa Hương Nghiêm (xây dựng đi Hậu Đường năm 923-937) Thanh Hóa , bia chùa Hương Nghiêm dựng năm Giáp Th́n 1124 ghi rơ Sư liền sai thợ sửa chữa. Tô tượng Phật ngồi trên Bàn Đá. Đào hồ, giữa hồ, xây bệ; đặt tượng Phật trên. Chùa cao, cửa rộng, mái ngói. Mé tả có lầu chuông , mé hữu dựng bia đá ghi công. Xung quanh đều xây tưng. Vườn giồng hoa cỏ (31)   . Thực ra nhiều cảnh chùa thời Lư , nh́n toàn bộ , rơ ràng là những vườn cảnh lớn . Ví dụ vua Lư Nhân Tông cho trùng tu chùa Diên Hựu ( xây dựng năm 1049 ) phía tây Thăng Long cạnh núi Nùng sông Nhị , bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ghi như sau :

 

     MỞ chùa Diên Hựu tại vườn Tây . Dấu vết theo qui mô thu trước , lo toan do ư thánh ngày nay. Đào ao thơm Linh chiu . Giữa ao trồi lên một cột đá. Trên cột có một đóa hoa sen ngh́n cánh x̣e ra . Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm . Trong đền đặt pho tượng sắc vàng . Ngoài ao có hành lang bao bọc . Ngoài hành lang lại đào ao Bích Tŕ , bắc cầu cong để đi lại . - sân trước cầu , hai bên tả hữu xây bảo tháp Lưu Ly  ... (32) .

 

     Không chỉ riêng kinh đô Thăng Long , các địa phương cũng cố gắng xây dựng lâu đài đền miếu, vườn tược . Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh ghi rơ năm 1115, khi Chu Văn Thường đến thay thế lăo tướng Lư Thường Kiệt, quản nhiệm quận Cửu Chân (Thanh Hóa) : nhà vua xuống chiếu sai ông thống lĩnh dân chúng, sửa sang nhà thự quận , xây dựng điện đường cùng lang vũ chung quanh , vủng cố thành quách , chia đặt trạm dịch , khai đào sông ng̣i , mở mang vườn tược (33).

 

     Chơi vườn cảnh, cây cảnh, non bộ , không chỉ riêng vua quan giới quí tộc thời Lư, mà c̣n thấy  nơi dân dă hay nơi các dân tộc ít người khác tại Việt Nam khoảng các thế kỷ XI , XII và XIII . Sách Lĩnh Nam Dật Sử của Ma Văn Cao viết bằng chữ Mường thời Lư , được danh tướng Trần Nhật Duật chuyển ngữ sang chữ Hán năm Đinh Dậu 1297 , rồi Bùi Đàn dịch sang Việt văn, có đoạn nói về non bộ như sau :

 

     Trở lại chuyện Quư Nhi tiến vào trong vườn , thấy một vườn hoa đắp dựa theo núi ; dưới núi có một ṭa lầu nho nhỏ , xung quanh trồng toàn cây có hoa , bên tả là một ḥn non bộ thiên nhiên , lóng lánh như ngọc . Dưới ḥn non bộ , có suối chảy vào thành ao , nước trong suốt như gương . Cạnh ḥn non bộ có một lối đi nhỏ quanh co hai bên trồng trúc đào ... (34).

 

     Về h́nh thức , để chế tác non bộ đẹp và gợi cảm cho khách thưởng ngoạn , ngoài những hoàn chỉnh về dáng , về không gian , về ngôi chủ  khách , yếu tố thực hư , động tĩnh , về tương quan tỷ lệ , sáng tối ,  v.v... , phần điểm xuyết trang trí cũng  quan trọng , kể cả các máy móc trang bị phụ thuộc như máy bơm nước hay bơm cát trắng giả làm thác đổ , ghềnh suối , máy phun khói giả làm mây , làm sương m cho núi v.v... . Nghệ nhân thời  đă phát minh được nhiều máy móc tự động trang trí cho ḥn non . Đây là một phát kiến mới lạ đầu tiên cho môn chơi non bộ tại Việt Nam , cũng như trên thế giới ngay từ thế kỷ XI , XII . Bia Sùng  Thiện Diên Linh núi Long Đội ( Duy-tiên , Nam Hà ), dựng năm 1121 , do Lư Công Bật soạn , đă mô tả rơ một số những máy móc tự động  được thực hiện dưới triều vua Lư Nhân Tông (1072-1127) như máy Kim ngao , máy quay đèn , người nộn chuyển động:

 

     Máy Kim ngao :  Ngày Trung thu và ngày Tết , Nhân Tông ngự điện Linh Quang trên bể sông Lô ... - giữa sông một con rùa vàng nổi , lưng đội ba ḥn núi . Rùa lội rù r trên mặt nước , lộ vân trên vỏ và rè bốn chân . Chuyển mắt nh́n lên bể , miệng th́ phun nước lên bến . Quay  đầu hướng tới ngai vua mà cúi đầu chào ...  . Các thần tiên xuất hiện , nét mặt nhuần nhị thanh tân , ... Chim phượng có sừng họp nhau thành đội ra múa may , phô diễn . Hươu nai họp thành đàn đi lại , nhả nhót ...

 

     Đây là máy đèn quay và người nộn đánh chuông .  ây là lúc vua kén Hoàng Hậu . Nhân Tông đặt hội đèn Quảng Chiếu :  dựng đài Quảng Chiếu ngoảnh ra cửa Đoan Môn . Giữa nêu một cái cột , ngoài đặt bẩy từng , rồng cuốn mà đỡ ṭa kim liên , rèm lồng mà che đèn sáng rực . Có máy dấu kín dưới đất , làm đài quay như bánh xe . Lại có hai ṭa hoa lâu , treo quả chuông đồng , tạc chú tiu mặc áo cà sa , vặn máy kín th́ giơ dùi đánh . Nghe tiếng sáo , liền quay mặt lại . Thấy bóng vua lại biết cúi đầu , tựa hồ như có trí khôn , biết khi động khi tĩnh (35) .

                     *

                                                         

     Đến thời Trần (1225-1413), đất nước tuy đă trải qua hơn một thế kỷ sạch bóng quân xâm lược, nhưng nền độc lập dân tộc vẫn bị ngoại xâm đe dọa. Do đó, thời này tinh thần tự cưng tự chủ vẫn là cơ sở thôi thú toàn dân không ngừng vươn lên, xây dựng một đất nước giầu mạnh.

 

     Nho giáo đă có một vị trí vững chắc , làm một chân kiềng cho tam giáo Khổng Lăo Thích ḥa đồng để tạo một nhân-sinh-quan vững mạnh cho hào khí Đông A , sức bật tất yếu cho ba cuộc chiến thắng Nguyên Mông về quân sự vào những năm 1257 , 1285 và 1288, cũng như cho văn hóa dân tộc, ví dụ chú ư đến việc thời cử để đào tạo nhân tài, làm giưng cột cho đất nước hoặc việc phổ biến chữ Nôm rộng răi bên cạnh chữ Hán (36).

         

     Trải qua ba lần xâm lược của giặc Nguyên Mông, kinh đô Thăng Long bị tàn phá nặng nề. Năm 1289 , triều đ́nh đă tổ chức  xây dựng trùng tu lại các cung điện, lầu gác, vườn tược, bắt quân dân những ai hàng giặc phải chuyên ch• gỗ , đá làm cung điện để chuộc tội (37).

 

     Công việc tu sửa liên tục không ngưng nghỉ. Sử cũ ghi năm Quư Măo 1363 vua Trần Dụ Tông đă cho : đào hồ vườn ngự trong Hậu cung, trong hồ xếp đá làm núi, bốn mặt khai ng̣i, chảy thông nhau, trên mặt hồ trồng cây tùng , cây trúc và các thứ hoa cỏ lạ, lại nuôi chim quư, thú lạ trong ấy. Phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng điện Song Quế, lại gọi là điện Lạc Thanh. Hồ ấy gọi là hồ Lạc Thanh. Lại làm riêng hồ con, sai người Hải Đông cho nước mặm chứa vào, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cá , thuồng luồng ... nuôi đấy. Lại sai người châu Hóa cho cá sấu đến thả, lại có hồ Thanh Ngư thả cá thanh phụ (cá diếc) (38).

 

     Song song với việc tu sửa Thăng Long, các vua Trần đă cho xây dưng tại quê hương ḿnh Tức Mặc, phủ Thiên Trưng , hàng loạt cung điện, lầu gác, nhà cửa, để làm nơi cho con cháu họ hàng thân thuộc và ngay cả bản thân ḿnh sau khi nhưng ngôi vua, lên chức Thái Thượng Hoàng. Những cung điện này chắc hẳn phải bề thế, đẹp đẽ. có vườn tược, cây cảnh, non bộ, nên trong bài thơ của Trần Nguyên Đán làm họa lại thơ của Thái Thượng Hoàng Nghệ Tông lúc về Tức Mặc, đă ví nó như cung điện đất Phong, đất Bái nổi tiếng của nhà Hán bên Trung Quốc (39) , hoặc bài thơ tả cung điện lầu gác phủ Thiên Trường của vua Trần Thánh Tông :

 

     Cảnh thanh u vật diệc thanh u

     Thập nhị tiên châu thứ nhất châu ...

     [ Cảnh thanh u vật cũng thanh u.

     Mưi hai cơi tiên  âu chốn này là một ]

          (Hạnh Thiên Trưng Hành Cung)

 

     Đặc điểm của thời Trần là chế độ phong ấp cho thân vương và quan lại đă kích thích phong trào chơi non bộ càng lan rộng hơn từ thế kỷ XIII, XIV, trở về sau.

 

     Ngoài các cung điện của các vua Trần tại Thăng Long và phủ Thiên Trưng, vườn tược, cây cảnh, non bộ c̣n được chế tác xây đắp trong các điền-trang thái-ấp của các hoàng-thân quốc-thích và của giới quư tộc với lầu son gác tía như các công tŕnh xây dựng trang ấp của Chiêu Minh đại vương Thái sư Trần Quang Khải với khu vườn Phúc Hưng nổi tiếng vừa trồng cây cảnh vừa trồng cây thuốc thôn Độc Lập, xă Mỹ Thành , huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Hà ngày nay) , của Trần Quang Điền Quặc Hương , của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Vạn Kiếp (nay là Kiếp Bạc thuộc Chí Linh Hải Hưng) với vườn cảnh An Lạc và vườn trồng thuốc nam rộng lớn cả một quả núi đến nay đó vẫn mang tên là Dược Sơn, của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư Vân Đồn hay của Phạm Ngũ Lăo  Phù œng, Nguyễn Khoái được phong tước hầu và được phong cấp cả một hương (tương đương quận hay huyện sau này)  gọi là Khoái lộ (Khoái châu, Hải-hưng) để làm thang mộc ấp : Phạm Ngô giữ chức Tham tán nhung vụ cũng được cấp 80 mẫu ruộng . (các vương hầu có thể đem hàng trăm, hàng ngàn mẫu ruộng cúng vào nhà chùa v.v. ... 

 

     Trong tập thơ Lạc Đạo của Trần Quang Khải  nguyên văn chữ Nho chép trong Lịch triều hiến chương loại chí : Văn tịch chí (q. 42-45) của Phan Huy Chú (1782-1840) , có những câu thơ về cây cảnh  mai, trúc , .... vườn Phúc Hưng như sau :

 

     Phúc Hưng nhất khúc, thuỷ hồi hoàn,

    Trunh hữu b́nh viên sổ mâũ khoan.

    Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi.

     Trúc đ́nh vân quyển, bích lang can.

(Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, tập IV, Binh Chế Chí, Văn Tịch Chí, Bang Giao Chí, tổ phiên dịch Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú giải Ha Nội, nxb Sử Học, 1961, trg 62.

     (Phúc Hưng ng̣i nước chẩy quanh quanh

     Vườn rộng phẳng phiu mấy mẫu lành

     Tan tuyết , cḥm mai hoa lấp lánh

     Cuốn mây , bụi trúc ngọc biếc xanh .)

 

     Ngay cả giới quan lại , nho sĩ đương thời cũng có những tư dinh địa phương làm nơi dậy học, dưỡng nhàn, cùng bạn bè lui tới ngâm vịnh. Ví dụ như nhà dậy học và ẩn cư của Chu Văn An núi Phượng Hoàng (Chí Linh Hải Hưng ), c̣n gọi là núi Lan Phụng , đấy có điện Tử Cực, điện Lưu Quang , chân núi có suối Miết Tŕ, lưng núi có chùa Lệ Kỳ , có hang động Huyền Vân , Chu Văn An có bài thơ ngâm vịnh cảnh đẹp đây:

 

     Vạn điệp thanh sơn thốc hoạ h́nh

     Tà dương đảo quải bán khê minh

     Thúy la kinh lư vô nhân đáo

     Sơn hạc đề yên thới nhất thanh

     (Muôn lớp núi xanh b́nh phong vẽ

     Bóng chiều chiếu xế sáng nửa khe

     Lối xanh ŕ dây leo không ai đi đến

     Hạc núi trong mây thỉnh thoảng môt tiếng kêu)

 

     Am Bích Động của nhà thơ Văn-huệ vương Trần Quang Triều chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều Quảng Ninh (40) , hoặc Phúc Am của  Trương Hán Siêu , ai trông thấy cũng mến chuộng với thắng cảnh sơn thuỷ núi Dục Thuư , v.v. ... Trong số này phải kể đến công tŕnh đẹp, có tiếng như động Thanh Hư của Trần Nguyên Đán Côn Sơn ( Chí Linh Hải Hưng ).

 

     Sau khi cáo quan về Côn Sơn, Trần Nguyên Đán đă xây dựng nhiều công tŕnh kiến trúc giá trị, có vườn tược, có cây cảnh, có non bộ, đặt tên chung là động Thanh Hư. Ngoài nhà cửa lầu gác, ông c̣n cho làm chiếc cầu Thấu Ngọc, một công tŕnh đặc sắc đă được sách Đại Thanh Nhất Thống Chí của Trung Quốc liệt vào một trong những kỳ công thời bấy giờ (41) . Cảnh đẹp hùng vĩ của Côn Sơn đă được cháu ngoại Trần Nguyên Đán là Nguyễn Trăi cũng về trí-sĩ tại đây viết như sau :

 

    Côn Sơn có suối nước trong,

  Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.

  Côn Sơn có đá tần-vần,

  Mưa tuôn đá sạch ta ngồi ta chơi.

  Côn Sơn thông tốt ngất tri,

  Ngả-nghiêng dưới bóng ta thời tự-do.

  Côn Sơn trúc mọc đầy g̣,

  Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.

                             .......

(Nguyễn Trọng Thuật diễn nôm , Nam Phong Tạp Chí, t. XXVI, số 148)

                  

     Viết về Trần Nguyên Đán, Rolf A. Stein lại cho chúng ta biết thêm mối liên hệ giữa non bộ và hang động tại VN  :

 

     Trần Nguyên Đán về ẩn động Thanh Hư. Tên hiệu là Băng Hồ không phải chỉ là một ngụ ư văn chương của một bài thơ danh tiếng. Từ ấy c̣n gợi nên tất cả giá trị nguyên thủy của nó. Chúng ta biết rằng những bầu Hồ có thể là những thế giới bầu tri hệt như một hang động là những tầng tri, thế giới Thiên đưng, Động  Thiên. Tên Thanh Hư được đặt cho tên động của ông chính là tên của cái  đệ nhất Động Thiên ghi trong sách Vô Thượng Bí Yếu ( của Đạo tạng ) . [Băng] Hồ là thế giới thanh khiết , cảnh giới thứ nhất của Thần Tiên bất tử .

     (  ... let us go backể to the retreat of Trần Nguyên Đan. His sobriquet Băng-hô is not a simple literary allusion to a famous poem. The expression keeps its primitive force. We know that the hu vessels could be worlds, just as certain caves are heavens (paradisiacal worlds, tung t ien). The mane Thanh-hư given to the cave on this site is the very name of the first cave-heaven (tung t ien) listed in the Wu-shang pi-yao (Tao-tsang). The hu vessel made of jade or ice is thus an immaculate world like the first of the abodes of the Immortals (42).)

 

Một tài liệu thư tịch cổ cho biết nghệ thuật chơi non bộ ở nước ta thời Trần đă du nhập vào lối giải trí, thưởng ngoạn trong cung điệân vua quan nhà Nguyên bên Trung quốc : Sách Nguyên sử chép : Đất Giao-chỉ, dưới thời vua Trần, vua cho đem thổ sản sang cống triều Nguyên, vua Nguyên không nhận hết cả, chỉ lấy có giả sơn bằng gỗ trầm hương (núi non bộ), thứ chặn giấy bằng ngà voi, giá bút bằng thủy tinh; c̣n một nửa đem cho Bất hốt truật(42B ) .

 

     Năm 1397 , Hồ Quư Ly , người có quyền thế lớn nhất trong triều Trần được phong tước đại vương, cho xây dựng kinh đô mới  , gọi là Tây-đô (nhân dân thường gọi thành nhà Hồ). Hoàng Xuân Hăn viết : Làng Đại Lại (Thanh Hóa) là quê của Hồ Quư Ly.  Năm 1398 , Quư Ly dựng cung Bảo Thanh dưới chân núi Đại Lại , để ép vua Trần Thuận Tông . Sau khi Quư Ly lên ngôi, thường hay về nghỉ mát đó. Dựng cung gọi là Ly Cung. Có bể tắm, xây đá, có chạm trổ rất đẹp. Bể tắm, th́ lấy nước suối cho vào. Nay vết tích bể tắm c̣n (43).

 

     Kinh thành Tây-đô nằm giữa vùng núi sông him trở , nh́n từ cao xuống thấy giống  như một ḥn non bộ hùng vĩ . Tây-đô gần núi đá vôi An-tôn, phía bắc có có núi Voi, phía nam có núi Đốn-sơn, phía đông có núi Hắc-khuyn và sông Bái bao quanh, phía tây có sông Mă bao bọc . Thành xây toàn bằng đá khối chữ nhật rất lớn.

 

     Sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ (1726-1780) ghi một giai thoại về non bộ và cây tùng cảnh của Hồ Quư Ly.

 

     Hồ Quư Ly muốn nhưng ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương (Xương) bèn mượn ḥn đá non bộ nhỏ dùng làm nghiên mực của ḿnh để ra câu đối :

    Thử nhất quyền kỳ thạch , hữu thời vi vân vi vũ dĩ nhuận sinh-dân

    ( Ḥn đá kỳ lạ này có lúc làm mây mưa để ban ơn cho dân, tỏ khí độ một vị vua),

bắt các con đối , để xem chí khí thế nào, người con lớn  là Hồ Nguyên Trừng biết được ư cha ḿnh, mới đối rằng :

    Giá tam thốn tiu tùng tha nhật tác đống tác lương kham pḥ xă-tắc

     (Cây thông nhỏ ba tấc gỗ này một ngày kia sẽ làm dưng cột giúp xă-tắc)

để tỏ ư ḿnh chỉ đáng làm người giúp việc thôi.(44)

                                    *

                                       

     Trong 20 năm bị quân Minh thống trị , nền văn hóa của dân tộc bị huỷ hoại nghiêm trọng . Ngay từ những ngày đầu xâm lược , quân Minh đă có âm mưu đồng hóa dân Việt , tiêu hủy toàn bộ kho tàng văn hóa của dân tộc vốn có từ xưa để lại . Sử cũ c̣n ghi ngày 21-8-1406 Minh Thành Tổ đă lệnh cho Chu Năng là tướng cầm đầu : lúc vào đến nước ta , quân Minh phải t́m cách đốt hết , phá hết các dời sản văn hóa, chỉ trừ bia Trung Quốc. Năm sau , vua Minh lại ra thêm lệnh về việc này để quân lính thời hành triệt để hơn : sách v , bia kư đều bị tiêu hủy , những công tŕnh nghệ thuật to lớn cũng bị thiêu phá , kể cả tượng Phật cũng bị phá nát . Bia chùa Ngô Xá ghi rơ :

 

      Đến khi giặc Ngô cất binh xâm chiếm bể cơi nước ta có mang ḷng độc ác phá hết các pho tượng Phật(45) .

 

     Những vườn cảnh, non bộ đẹp cũng chung số phận như các công tŕnh mỹ thuật khác dưới bàn tay thô bạo của giặc Minh.

 

     Sau khi chiến thắng quân Minh xâm lược , Lê Lợi dựng nên chính quyền Lê sơ theo qui cách của  các triều đại trước VN . Đến đầu thế kỷ XVI , mọi tổ chức chính trị, kinh tế , quân sự , văn hóa , xă hội của nhà nước đều đi đến chỗ hoàn bị và chặt chẽ .

 

     Lê triều dùng phép dựng nước trị dân theo tư tưởng của học thuyết Tống Nho . Điều đó khiến cho văn hóa phương Bắc ảnh hưởng đến các công tŕnh văn hóa nghệ thuật của nước ta không ít. Học thuyết  Tống Nho do các nhà nho đi Tống xây dựng trên cơ sở học thuyết của Khổng-tử nhằm phục vụ yêu cầu phát trin mới của chế độ phong kiến Trung-quốc lúc bấy giờ , ra sức biện hộ cho chế độ quân chủ chuyên chế , củng cố sự phân biệt đẳng cấp và các trật tự phong kiến, khác với tư tưởng Nguyên Nho thời Tiên Tần .

 

     Trong suốt một thế kỷ tồn tại (1427-1527) , nhà Hậu Lê đă cho tu sửa và xây dựng lại tất cả mọi cơ sở vật chất từ cung điện , lầu gác của nhà vua và hoàng tộc cho đến các dinh thự của quan lại trung ương và các địa phương . Tiêu biu nhất là các công tŕnh tập trung trong hai khu vực lớn : Đông kinh và Lam kinh .

 

          Đông kinh .

     Đông kinh là Thăng Long cũ . Thành có hai ṿng lớp khép kín . Ṿng trong là Hoàng thành, nơi và làm việc của vua và triều đ́nh . Ṿng ngoài là nơi của quan lại , sĩ phu , và các tầng lớp nhân dân . Cả hai ṿng đều được tu sửa hay xây dựng thêm nhiều công tŕnh cung điện lầu gác mà các sử gia khen lộng lẫy hơn xưa , nổi danh với vườn Thượng Uyn rộng lớn nuôi cả hươu nai và các muông thú lạ khác .

 

     Lê Quí Đôn, trong Kiến Văn Tiu Lục , đă miêu tả nghi lễ chúc thọ  vua  bằng cây cảnh , cây thiên tuế , như sau :

 

     Năm Quang Thuận thứ tám (1467 đi vua Lê Thánh Tông) dùng ngày 16 tháng giêng làm lễ mừng thọ điện Cần Chíùnh, bèn định thành thể lệ . Từ lúc Trung hưng trở đi , hàng năm đến ngày 27 tháng giêng, cử hành lễ mừng thọ điện Vạn thọ, trước ngày hành lễ , dựng đ́nh bằng lá chợ huyện , đặt giường ngư, đến ngày làm lễ , vệ binh cầm cờ quạt, nghi trượng , âm nhạc và khiêng hương án , viên quan giữ nghi lễ khánh hạ bưng cây thiên tuế từ trong nội điện ra đến đ́nh , đặt lên trên giường , che quạt vả để hộ vệ, thày cúng qú ở trước hương án khấn khứa cầu đảo , gieo quẻ xin âm dương , quẻ gieo được tốt th́ hoan hô, quạt vả mở ra , trăm quan đều mặc triều phục chia ra từng ban đứng ở giữa đường , hướng vào hương án mà lạy , lạy xong trở ra đi trước dẫn đường, viên quan giữ lễ khánh hạ lại bưng cây thiên tuế đi trước hương án , nghi trượng theo sau, vào đến giữa điện trước giường ngự , đi ṿng quanh chín lần, xong rồi , kính đặt cây trước xa giá , thị vệ bưng cây yên trí vào trong trướng . Nghi lễ đă cử hành xong , vua ngự ở điện , trăm quan lạy mừng, chia làm hai ban ngồi chầu, vua ban yến cho uống hải tửu (46) .

 

          Lam kinh .

     Lam kinh là Lam Sơn ( Thanh Hóa ) , quê hương và là nơi xuất phát cuộc khởi  nghĩa của Lê Lợi . Sau khi bị hỏa hoạn , Lam kinh được triều đ́nh nhà Lê tổ chức xây cất lại cung điện , lầu gác , vườn tược , rất lộng lẫy và dần dần trở thành nơi tụ hội tấp nập đông người . Lam kinh không phải là thành phố chính trị mà chỉ là nơi cư ngụ của họ hàng nhà vua và là nơi vua và các quan về tế mộ tổ . Lăng miếu của các vua Lê đều để cả nơi đây . Do đó kiến trúc Lam kinh giống như một trung tâm nghỉ mát của vua quan nhà Lê , nên vườn cảnh , cây cảnh , non bộ , chắc hẳn phải được xây dựng , tu sửa , chăm sóc kỹ càng .

 

     Sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư viết : (năm Giáp Dần 1434, đi vua Lê Thái Tông) Bấy giờ các đại thần đều sai riêng quân lính làm nhà cửa lớn cho ḿnh. Vua thấy thế, sai (Phan) Thiên Tước đi khắp các nhà đại thần xem xét cho rơ ràng (47).

 

     Nói chung , giống như các triều đại trước nước ta , các vua quan giới quí tộc thời Lê sơ cũng rất thích xây dựng vườn cảnh , cây cảnh , non bộ , riêng trong dinh cơ của ḿnh , ngay cả ông  vua có cuộc đi làm vua ngắn ngủi , vua Lê Uy Mục , cũng đă xây dựng cung điện , vườn tược riêng để thưởng ngoạn . Trong tờ hịch tố giác tội ác của Lê Uy Mục do Lương Đắc Bằng soạn , có đoạn vạch rơ : ... Huống chi lại làm cung thất to , làm vườn hoa rộng . Bắt dân trồng cây theo bánh xe đổ g̣ Hoa Cương thời Tống (bên Trung Quốc) ; lấp biển làm điện , nối gót hôn mê cung A-pḥng nhà Tần . Việc thổ mộc làm lại thôi, thôi lại làm , mệt nhọc dân Hải Dương,  Kinh Bắc(48) .

                                     

                                                          *

                                                       

     Bước sang giai đoạn phân tranh Nam Bắc triều (1527-1802) , từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê , xuyên qua thời kỳ Trịnh-Nguyễn cho đến khi Gia Long lên ngôi, giai đoạn mở đầu thời kỳ phân liệt và bước vào giai đoạn suy thoái của chế độ phong kiến Việt Nam sau già nửa thiên niên kỷ tồn tại . Nền kinh tế , xă hội có những biến động lớn làm thay đổi diện mạo của nền văn hóa nghệ thuật vốn rất mỹ lệ dưới thời Lư Trần , nghiêm lạnh dưới thời Lê sơ . Đây là những thế kỷ chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà nước Lê sơ . Cùng với Đạo giáo , Phật giáo buột khỏi tay các vương hầu quí tộc tràn về các làng quê . Nho giáo không c̣n địa vị độc tôn . Cả ba tôn gíáo đă ḥa đồng trong tâm thức dân gian, dưới ảnh hưởng to lớn của Phật giáo . Thời Mạc , nhiều đ́nh , chùa , quán , đền , miếu , được tu sửa , xây dựng thêm tại nông thôn mà khuôn viên hẳn có cây cảnh , non bộ .

 

      Theo gót các triều vua thời Trần và Lê sơ xây dựng kinh đô thứ hai ở quê nhà như Thiên Trường hay Lam kinh , các vua Mạc đă cho xây dựng ở vùng Hải Dương , quê hương của ḿnh , nhiều cung điện , lầu gác cùng với vườn cảnh , cây cảnh , non bộ , và được gọi là Dương kinh . Dương kinh có những cung điện nổi danh như điện Phúc Huy , điện Hưng Quốc . Ngoài ra , Mạc Đăng Dung c̣n cho xây điện Sùng Đức ngay trên nền nhà cũ của Mạc Đĩnh Chi , ông tổ của ḿnh , ở xă Lũng Động , Chí Linh , nhằm nêu cao truyền thống ḍng họ Mạc (49) .

 

     Ngoài những công tŕnh của triều đ́nh và các vua chúa , nhiều tầng lớp thống trị và trí thức khác cũng tổ chức xây dựng cho ḿnh những dinh thự , những am quán. Truyện Lư tướng quân trong tác phẩm Truyền Kỳ Mạn Lục viết bằng chữ nho của Nguyễn Dữ (đầu thế kỷ 16) là một thí dụ, truyện kể ông tướng tham bạo Lư Hữu Chi tậu ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao , dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá lạ từ bên huyện khác đem về (50).

 

     Những công tŕnh mang tính chất sinh hoạt của cá nhân này xuất hiện rải rác trong mọi miền mà tiếng tăm và quen thuộc với chúng ta nhất là am Bạch Vân  và quán Trung Tân (Hải Dương) của Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) hoặc trại Bùi Phong (Thanh Hóa), nơi ẩn cư của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1801), trong bài kư Hạnh Am, Phu Tử viết :  Sau lúc bỏ học khoa cử , núi sông miền Nam Châu, dấu chân có gần khắp. Thường hay chơi núi Thiên Nhận Nam Hà. Phía Đông có núi Lạp Đính, phía Tây có núi Bạch Tượng, khoảng giữa thấy một núi con, tên gọi Bùi Phong. Có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng cây được, khe đánh cá đươc, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ giữ. Ta mừng thay.(51).

 

     Chán nản trước những rối ren của xă hội , Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi làm quan cho nhà Mạc được tám năm  th́ rút lui khỏi chính trưng trở về quê . Ông đă cho xây dựng đây am Bạch Vân và quán Trung Tân để làm nơi dưỡng nhàn, dậy học , và cũng là nơi làm thơ cùng giao tiếp với bạn bè . Tuy những công tŕnh kiến trúc này nhỏ bé vừa phải, không mang tính chất phô trương sự giầu có sang trọng vốn là đặc điểm của kiến trúc cung đ́nh , nhưng câu chuyện về Nguyễn Bỉnh Khiêm  cho chúng ta một giai thoại về thú chơi non bộ thế kỷ XVI , đồng thời hé mở cho chúng ta biết thêm về một trong những sở thích của sĩ phu đương thời .

 

     Ôn Đ́nh Hầu Vũ Khâm Lân , trong bài tựa viết cho tập gia phả của ḍng họ Trạng Tŕnh , đă nói đến thú vui của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau :

 

     Ngoài ra , Tiên sinh c̣n tu bổ chùa chiền, tiên sinh thường cùng các lăo tăng đàm luận , và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim-hải hay Úc-hải để xem người đánh cá . Các chỗ danh lam thắng cảnh như An Tử , Ngọa Vân , Kinh Chủ , Đồ Sơn ; nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên , thừa hứng ngâm vịnh , có khi quên cả sớm chiều . Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót , rừng rậm xanh  ́ , gió động ŕ rào , chim ca thánh thót , tiên sinh lại hớn h tự đắc , phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên thế gian) (52) .

 

     Một chuyện khác về non bộ :

 

     Nguyễn Hoàng, con trai thứ của Nguyễn Kim, trong t́nh thế nguy ngập sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kim sát hại , bèn cho sứ giả bí mật về am