|
|
||
|
NON BỘ
TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Phan Quỳnh
(Tiếp theo)
III/.- Non bộ trong Việt sử.
Một non bộ cổ nhất
Việt Nam vào thế kỷ thứ X và có lẽ cổ nhất
trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại và được
bảo quản tại Hoa Lư tỉnh Ninh B́nh , Bắc Việt. Sách
Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ, xuất bản
năm 1930, ghi :
ở huyện Gia Viễn (Ninh
B́nh) thuộc xă Trường Yên có động Hoa Lư, xưa
là kinh đô nhà Đinh và nhà Tiền Lê , hiện nay c̣n lăng
và đền thờ vua Đinh và vua Lê .
Ở bến đ̣ lên, có một con
đường hẹp lởm chởm những đá, đi
độ nửa giờ th́ đến làng An Hạ có đền
thể vua Lê . Mới đến có một cái
sập đá rồi qua cửa tam quan th́ một bên có một
cái giếng, một bên có một cái núi non bộ bằng một
tảng đá lớn (13).
Theo truyền thuyết vùng Ninh
B́nh th́ ngay từ hồi vua Lê Đại Hành (980-1005) c̣n sinh
tiền, tại kinh đô Hoa Lư ,
song song với việc xây dựng
các cung điện như Bạch Bảo Thiên Tuế , điện
Phong Lưu , điện Vinh Hoa , điện Bồng Lai , điện
Cực Lạc , điện Trường Xuân v.v. ...th́ ḥn
non bộ nói trên được chế tác để chúc thọ
nhà vua .
Sử cũ đă ghi : Năm Ất Dậu, hiệu Thiên Phúc thứ
5 (985), mùa thu, tháng bẩy, ngày Đinh Tị là ngày sinh của
vua. Vua sai người đóng thuyền giữa
sông dùng tre làm núi giả trên thuyền gọi là Nam Sơn
(14).
Từ đấy,
năm nào cũng giữ làm lệ thường (15).
Triều đại nhà Lư
(1009-1225) là một trong những triều đại mở đầu
cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ
lâu dài của dân tộc , sau hơn ngh́n năm
sống trong màn đêm thống trị của phương
Bắc. Năm 1010 , vua Lư Thái Tổ dời đô về Thăng
Long, tiện nghi và rộng răi hơn Hoa Lư,
để xây dựng nên một trung tâm văn hóa tầm
kích lớn cho Đại Việt , có ư muốn sánh ngang hàng
với Đại Đường , Đại Tống phương
bắc . Phật giáo và Lăo giáo đă chiếm những chỗ
đứng ưu thế trong đi sống tín ngưỡng
dân gian , dần dần trở thành quốc giáo , chính vua Lư
Thánh Tông đă lập ra phái Thảo Đường , bước
đầu tạo sự phối hợp hài ḥa giữa đạo
và đi.
Kinh đô Thăng Long được
các vua Lư mở mang ngày một lớn rộng
. Các cung điện , lầu gác , đ́nh
tọa , chùa tháp, v.v. ..., được dựng lên và tu bổ
liên tục , như điện Thiên An, điện Thiên
Khánh, điện Trưng Xuân, lầu Chính Dương, lầu
Long Đồ để vua dạo ngắm hay điện
Long Thụy, Long An để vua nghỉ ngơi, chắc hẳn
những nơi ấy có vườn cảnh, cây cảnh,
non bộ , để vua thưởng ngoạn.
Triều vua Lư Thái Tổ
(1010-1028) , Việt Sử Lược ghi : Năm Tân Dậu
, hiệu Thuận Thiên thứ 12 (1021) Mùa xuân , tháng 2 ngày Mậu
Tí lấy ngày sinh của vua làm tiết Thiên Thành , xây Vạn
Tuế Nam Sơn ngoài cửa Quảng Phúc , làm
nhiều h́nh chim bay , thú chạy , bày la liệt trên .(16)
Cùng sự việc này , sách Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư lại ghi : Lấy tre làm một
ngọn núi gọi là Vạn Thọ
Nam Sơn ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều h́nh
chim bay , thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người
bắt chước tiếng cầm thú làm vui để ban
yến cho bày tôi.
Năm Nhâm Tuất (1022), mùa xuân
, tháng 2, vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc
cho dân, băi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi (17).
Dưới triều vua Lư Thái
Tông (1028-1054) , sử cũ cho biết năm Mậu Th́n 1028
: Tháng sáu, lấy ngày sinh vua làm tiết Thiên Khánh, xây Vạn
Tuế Sơn Long Tŕ, có năm ngọn, ngọn giữa dựng bức tranh Trưng Thọ Tiên,
hai bên tả hữu đều có hạc trắng (18); trên
núi làm những h́nh tiên bay, chim , thú ; lưng chừng núi lại
có thần long vây quấn, cắm, treo vàng ngọc , sai bọn
phưng tuồng (linh nhi) trên núi thổi sáo, ca múa làm vui (19)
.
Năm Kỷ Sửu (1049) Mùa thu , tháng 8 , đào ng̣i ngự phía ngoài Phượng
-thành ; lại đào ao Kim-minh vạn-tuế. Khi mới đào , trong ao có tiếng kêu xoang xoảng , đào lên , được
một khối vàng nặng 50 lạng , cho nên đặt tên
đó . Lại đắp núi đá có ba ngọn
trên ao , xây cầu Vũ-phượng (20).
Năm Tân Măo, hiệu
Sung Hưng Đại Bảo năm thứ 3 (1051), đào
ao Thụy Thanh, ao Ứng Minh vườn Thắng Cảnh
(21).
Triều vua Lư Thánh Tông (1054-1072) , sử cũ cũng nói về vườn
cảnh và non bộ của nhà vua :
Năm Đinh Dậu (1057) Mùa hạ ,
tháng 4 , ngày Giáp Ngọ rồng vàng từ vườn Quỳnh-lâm
hiện ra phía trước điện Trưng -xuân (22) .
Năm Mậu Tuất
, hiệu Long-thụy thái-b́nh năm thứ 5 (1058) , xây
điện Hồ-thiên bát giác ao Kim-minh .
Tháng 3 , mở
cửa Tưng-phù , xây lầu trên đó
Tháng 6 , xây điện
Linh-quang , bên trái dựng điện Kiến-lễ , bên phải
dựng điện Sùng-nghi . phía trước
điện dựng lầu
chuông , một cột , sáu cạnh h́nh hoa sen ( độc trụ
lục giác liên hoa chung lâu ) (23).
Năm t Tị (1065) , tháng 8 , mở vườn Thượng-lâm (24).
Triều vua Lư Nhân Tông (1072-1127) , năm Mậu Dần , hiệu Hội-phong
năm thứ 7 (1098) mùa thu , tháng 8 , lập núi Ngao-sơn
trên đất (25). Sự kiện
này , Hoàng Xuân Hăn có chi tiết hơn : Vua
35 tuổi, vẫn chưa có hoàng tử. Vua lập đàn,
có xây núi Ngao Sơn trên đất cạn; dựng đài cao, , chung quanh treo đèn đủ sắc, đủ
kiu, trên có vũ nữ múa, nhạc công cử nhạc . (26)
Tháng 9 (1098), xây điện
Xùng-uyên ao Phượng-liên , bên trái đặt điện
Huy-dương, đ́nh Lai-phượng, bên phải dựng
điện Ảnh-thiềm , đ́nh Át-vân , phía trước
xây lầu Trưng-minh , phía sau bắc cầu Ngoạn-hoa
(27).
Tháng 9 Tân Hợi
(1131, đi Lư Thần Nông) mở vườn Bảo Hoa (28).
Vua Lư Anh Tông (1138-1175) sai xây dựng
nhà cửa lớn, làm điện Thụy Quang , đ́nh Thưởng
Hoa , ao Kim Liên, cầu Minh Nguyệt, ... (29).
Những công tŕnh
tạo tác như vậy vẫn liên tục tới cuối
thời Lư chưa ngưng nghỉ. Năm Quí Hợi
1203 vua Lư Cao Tông cho xây thêm nhiều cung điện lầu
gác, trong đó có gác Thánh Thọ .... ao Dưỡng Ngư , trên ao xây đ́nh Ngoạn
Y . Ba mặt đ́nh có trồng hoa thơm cỏ lạ , nước ao thông với sông , cách chạm
trổ , trang sức khéo léo , công tŕnh thổ mộc đẹp
đẽ , xưa chưa từng có vậy (30) .
Các chùa tháp thời Lư phần lớn
do nhà vua, hoàng gia hay các quan lại giới quí tộc bỏ
tiền ra xây dựng kinh đô Thăng Long ,
hay những nơi có cảnh đẹp núi sông, mà trong khuôn
viên chùa chiền hay đền miếu thường có vườn
cảnh, cây cảnh , non bộ . Năm 1077 Thái Sư Lư Thường
Kiệt giúp nhà sư Đạo Dung trùng tu, sửa chữa
chùa Hương Nghiêm (xây dựng đi Hậu Đường
năm 923-937) Thanh Hóa , bia chùa Hương Nghiêm dựng năm
Giáp Th́n 1124 ghi rơ Sư liền sai thợ sửa chữa. Tô tượng Phật ngồi trên Bàn Đá. Đào hồ, giữa hồ, xây bệ; đặt
tượng Phật trên. Chùa cao, cửa
rộng, mái ngói. Mé tả có lầu chuông
, mé hữu dựng bia đá ghi công. Xung quanh đều
xây tưng. Vườn giồng
hoa cỏ (31) . Thực
ra nhiều cảnh chùa thời Lư , nh́n
toàn bộ , rơ ràng là những vườn cảnh lớn .
Ví dụ vua Lư Nhân Tông cho trùng tu chùa Diên Hựu ( xây dựng
năm 1049 ) phía tây Thăng Long cạnh núi Nùng sông Nhị ,
bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ghi như sau :
MỞ chùa Diên Hựu tại vườn
Tây . Dấu vết theo qui mô thu trước , lo toan do ư thánh ngày nay. Đào ao
thơm Linh chiu . Giữa ao
trồi lên một cột đá. Trên cột có một đóa
hoa sen ngh́n cánh x̣e ra . Trên hoa dựng ngôi đền
đỏ sẫm . Trong đền đặt
pho tượng sắc vàng . Ngoài ao có hành
lang bao bọc . Ngoài hành lang lại đào
ao Bích Tŕ , bắc cầu cong để đi
lại . - sân trước cầu , hai bên
tả hữu xây bảo tháp Lưu Ly ... (32) .
Không chỉ riêng kinh đô Thăng
Long , các địa phương cũng cố
gắng xây dựng lâu đài đền miếu, vườn
tược . Bia Sùng Nghiêm Diên Thánh ghi rơ năm 1115, khi Chu Văn
Thường đến thay thế lăo tướng Lư Thường
Kiệt, quản nhiệm quận Cửu Chân (Thanh Hóa) : nhà vua xuống chiếu sai ông thống lĩnh
dân chúng, sửa sang nhà thự quận , xây dựng điện
đường cùng lang vũ chung quanh , vủng cố thành
quách , chia đặt trạm dịch , khai đào sông ng̣i , mở
mang vườn tược (33).
Chơi vườn cảnh, cây
cảnh, non bộ , không chỉ riêng vua
quan giới quí tộc thời Lư, mà c̣n thấy nơi dân dă hay nơi các dân tộc
ít người khác tại Việt Nam khoảng các thế kỷ
XI , XII và XIII . Sách Lĩnh Nam Dật Sử của Ma Văn
Cao viết bằng chữ Mường thời Lư , được danh tướng Trần
Nhật Duật chuyển ngữ sang chữ Hán năm Đinh
Dậu 1297 , rồi Bùi Đàn dịch sang Việt văn, có
đoạn nói về non bộ như sau :
Trở lại chuyện Quư Nhi
tiến vào trong vườn , thấy một vườn hoa
đắp dựa theo núi ; dưới núi có một ṭa lầu
nho nhỏ , xung quanh trồng toàn cây có hoa , bên tả là một
ḥn non bộ thiên nhiên , lóng lánh như ngọc . Dưới
ḥn non bộ , có suối chảy vào thành
ao , nước trong suốt như gương . Cạnh ḥn non bộ có một lối đi nhỏ
quanh co hai bên trồng trúc đào ... (34).
Về h́nh thức , để
chế tác non bộ đẹp và gợi cảm cho khách thưởng
ngoạn , ngoài những hoàn chỉnh về dáng , về không
gian , về ngôi chủ khách , yếu
tố thực hư , động tĩnh , về tương
quan tỷ lệ , sáng tối ,
v.v... , phần điểm xuyết trang trí cũng quan trọng , kể cả các máy
móc trang bị phụ thuộc như máy bơm nước
hay bơm cát trắng giả làm thác đổ , ghềnh suối
, máy phun khói giả làm mây , làm sương m cho núi v.v... . Nghệ
nhân thời Lư
đă phát minh được nhiều máy móc tự động
trang trí cho ḥn non . Đây là một phát kiến mới lạ
đầu tiên cho môn chơi non bộ tại Việt Nam , cũng như trên thế giới ngay từ
thế kỷ XI , XII . Bia Sùng
Thiện Diên Linh núi Long Đội ( Duy-tiên , Nam Hà ), dựng
năm 1121 , do Lư Công Bật soạn , đă mô tả rơ một
số những máy móc tự động được thực hiện dưới
triều vua Lư Nhân Tông (1072-1127) như máy Kim ngao , máy quay đèn
, người nộn chuyển động:
Máy Kim ngao : Ngày Trung thu và ngày Tết , Nhân Tông
ngự điện Linh Quang trên bể sông Lô ... - giữa
sông một con rùa vàng nổi , lưng đội ba ḥn núi .
Rùa lội rù r trên mặt nước , lộ
vân trên vỏ và rè bốn chân . Chuyển mắt nh́n lên bể , miệng th́ phun nước lên bến
. Quay đầu
hướng tới ngai vua mà cúi đầu chào ... . Các thần tiên xuất hiện , nét mặt nhuần nhị thanh tân ,
... Chim phượng có sừng họp nhau thành đội ra
múa may , phô diễn . Hươu nai họp thành đàn đi lại , nhả nhót ...
Đây là máy đèn quay và người
nộn đánh chuông . ây là lúc vua kén
Hoàng Hậu . Nhân Tông đặt hội đèn Quảng Chiếu : dựng
đài Quảng Chiếu ngoảnh ra cửa Đoan Môn . Giữa
nêu một cái cột , ngoài đặt bẩy
từng , rồng cuốn mà đỡ ṭa kim liên , rèm lồng
mà che đèn sáng rực . Có máy dấu kín dưới đất , làm đài quay như bánh xe . Lại
có hai ṭa hoa lâu , treo quả chuông đồng
, tạc chú tiu mặc áo cà sa , vặn máy kín th́ giơ dùi đánh
. Nghe tiếng sáo , liền quay mặt lại
. Thấy bóng vua lại biết cúi đầu
, tựa hồ như có trí khôn , biết khi động
khi tĩnh (35) .
*
Đến thời
Trần (1225-1413), đất nước tuy đă trải
qua hơn một thế kỷ sạch bóng quân xâm lược,
nhưng nền độc lập dân tộc vẫn bị
ngoại xâm đe dọa. Do đó, thời này tinh thần
tự cưng tự chủ vẫn là cơ sở thôi thú
toàn dân không ngừng vươn lên, xây dựng một đất
nước giầu mạnh.
Nho giáo đă có một vị trí
vững chắc , làm một chân kiềng cho tam giáo Khổng
Lăo Thích ḥa đồng để tạo một nhân-sinh-quan
vững mạnh cho hào khí Đông A , sức bật tất yếu
cho ba cuộc chiến thắng Nguyên Mông về quân sự
vào những năm 1257 , 1285 và 1288, cũng như cho văn
hóa dân tộc, ví dụ chú ư đến việc thời cử
để đào tạo nhân tài, làm giưng cột cho đất
nước hoặc việc phổ biến chữ Nôm rộng
răi bên cạnh chữ Hán (36).
Trải qua ba lần
xâm lược của giặc Nguyên Mông, kinh đô Thăng
Long bị tàn phá nặng nề. Năm 1289
, triều đ́nh đă tổ chức xây dựng trùng tu lại các cung điện,
lầu gác, vườn tược, bắt quân dân những
ai hàng giặc phải chuyên ch gỗ , đá làm cung điện
để chuộc tội (37).
Công việc tu sửa
liên tục không ngưng nghỉ. Sử cũ ghi năm
Quư Măo 1363 vua Trần Dụ Tông đă cho : đào hồ vườn
ngự trong Hậu cung, trong hồ xếp đá làm núi, bốn
mặt khai ng̣i, chảy thông nhau, trên mặt hồ trồng
cây tùng , cây trúc và các thứ hoa cỏ lạ, lại nuôi chim
quư, thú lạ trong ấy. Phía tây hồ trồng
hai cây quế, dựng điện Song Quế, lại gọi
là điện Lạc Thanh. Hồ ấy
gọi là hồ Lạc Thanh. Lại làm riêng hồ con,
sai người Hải Đông cho nước mặm chứa
vào, đem các thứ hải vật như đồi mồi,
cá , thuồng luồng ... nuôi đấy.
Lại sai người châu Hóa cho cá sấu đến
thả, lại có hồ Thanh Ngư thả cá thanh phụ
(cá diếc) (38).
Song song với việc tu sửa
Thăng Long, các vua Trần đă cho xây dưng tại quê hương
ḿnh Tức Mặc, phủ Thiên Trưng , hàng loạt cung điện,
lầu gác, nhà cửa, để làm nơi cho con cháu họ
hàng thân thuộc và ngay cả bản thân ḿnh sau khi nhưng
ngôi vua, lên chức Thái Thượng Hoàng. Những
cung điện này chắc hẳn phải bề thế, đẹp
đẽ. có vườn tược, cây cảnh, non bộ,
nên trong bài thơ của Trần Nguyên Đán làm họa lại
thơ của Thái Thượng Hoàng Nghệ Tông lúc về Tức
Mặc, đă ví nó như cung điện đất Phong, đất
Bái nổi tiếng của nhà Hán bên Trung Quốc (39) , hoặc bài thơ tả cung điện lầu
gác phủ Thiên Trường của vua Trần Thánh Tông :
Cảnh thanh u vật diệc
thanh u
Thập nhị tiên châu thứ
nhất châu ...
[ Cảnh
thanh u vật cũng thanh u.
Mưi hai cơi tiên âu chốn này là một ]
(Hạnh
Thiên Trưng Hành Cung)
Đặc điểm của
thời Trần là chế độ phong ấp cho thân vương
và quan lại đă kích thích phong trào chơi non bộ càng lan rộng hơn từ thế kỷ XIII,
XIV, trở về sau.
Ngoài các cung điện của
các vua Trần tại Thăng Long và phủ Thiên Trưng, vườn
tược, cây cảnh, non bộ c̣n được chế
tác xây đắp trong các điền-trang thái-ấp của
các hoàng-thân quốc-thích và của giới quư tộc với
lầu son gác tía như các công tŕnh xây dựng trang ấp của
Chiêu Minh đại vương Thái sư Trần Quang Khải
với khu vườn Phúc Hưng nổi tiếng vừa trồng
cây cảnh vừa trồng cây thuốc thôn Độc Lập,
xă Mỹ Thành , huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Hà ngày nay)
, của Trần Quang Điền Quặc Hương , của
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Vạn
Kiếp (nay là Kiếp Bạc thuộc Chí Linh Hải Hưng)
với vườn cảnh An Lạc và vườn trồng
thuốc nam rộng lớn cả một quả núi đến
nay đó vẫn mang tên là Dược Sơn, của Nhân Huệ
Vương Trần Khánh Dư Vân Đồn hay của Phạm
Ngũ Lăo Phù ng, Nguyễn
Khoái được phong tước hầu và được
phong cấp cả một hương (tương đương
quận hay huyện sau này) gọi
là Khoái lộ (Khoái châu, Hải-hưng) để làm thang mộc
ấp : Phạm Ngô giữ chức Tham tán nhung vụ cũng
được cấp 80 mẫu ruộng . (các
vương hầu có thể đem hàng trăm, hàng ngàn mẫu
ruộng cúng vào nhà chùa v.v. ...
Trong tập thơ Lạc Đạo
của Trần Quang Khải nguyên văn chữ Nho chép
trong Lịch triều hiến chương loại chí : Văn
tịch chí (q. 42-45) của Phan Huy Chú (1782-1840) , có những
câu thơ về cây cảnh
mai, trúc , .... vườn Phúc Hưng
như sau :
Phúc Hưng nhất khúc, thuỷ
hồi hoàn,
Trunh hữu b́nh viên
sổ mâũ khoan.
Mai ổ tuyết
tiêu châu bội lỗi.
Trúc đ́nh vân quyển, bích lang can.
(Phan
Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, tập
IV, Binh Chế Chí, Văn Tịch Chí, Bang Giao Chí, tổ phiên
dịch Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú
giải Ha Nội, nxb Sử Học, 1961, trg 62.
(Phúc Hưng ng̣i nước chẩy
quanh quanh
Vườn rộng phẳng
phiu mấy mẫu lành
Tan tuyết ,
cḥm mai hoa lấp lánh
Cuốn mây ,
bụi trúc ngọc biếc xanh .)
Ngay cả giới quan lại , nho sĩ đương thời cũng
có những tư dinh địa phương làm nơi dậy
học, dưỡng nhàn, cùng bạn bè lui tới ngâm vịnh.
Ví dụ như nhà dậy học và ẩn cư của Chu
Văn An núi Phượng Hoàng (Chí Linh Hải Hưng
), c̣n gọi là núi Lan Phụng , đấy có điện
Tử Cực, điện Lưu Quang , chân núi có suối Miết
Tŕ, lưng núi có chùa Lệ Kỳ , có hang động Huyền
Vân , Chu Văn An có bài thơ ngâm vịnh cảnh đẹp
đây:
Vạn điệp thanh sơn
thốc hoạ h́nh
Tà dương đảo quải
bán khê minh
Thúy la kinh lư vô nhân đáo
Sơn hạc đề yên thới
nhất thanh
(Muôn lớp núi xanh b́nh phong vẽ
Bóng chiều chiếu xế sáng
nửa khe
Lối xanh ŕ dây leo
không ai đi đến
Hạc núi trong mây thỉnh thoảng
môt tiếng kêu)
Am Bích Động của nhà thơ
Văn-huệ vương Trần Quang Triều chùa Quỳnh
Lâm (Đông Triều Quảng Ninh (40) , hoặc Phúc Am của Trương Hán Siêu , ai trông thấy
cũng mến chuộng với thắng cảnh sơn thuỷ
núi Dục Thuư , v.v. ... Trong số này phải kể đến
công tŕnh đẹp, có tiếng như động Thanh Hư
của Trần Nguyên Đán Côn Sơn ( Chí
Linh Hải Hưng ).
Sau khi cáo quan về Côn Sơn, Trần
Nguyên Đán đă xây dựng nhiều công tŕnh kiến trúc
giá trị, có vườn tược, có cây cảnh, có non bộ,
đặt tên chung là động Thanh Hư. Ngoài nhà cửa
lầu gác, ông c̣n cho làm chiếc cầu Thấu Ngọc, một
công tŕnh đặc sắc đă được sách Đại
Thanh Nhất Thống Chí của Trung Quốc liệt vào một
trong những kỳ công thời bấy giờ (41) . Cảnh đẹp hùng vĩ của Côn Sơn
đă được cháu ngoại Trần Nguyên Đán là
Nguyễn Trăi cũng về trí-sĩ tại đây viết
như sau :
Côn Sơn có suối nước
trong,
Ta nghe suối chảy như cung đàn
cầm.
Côn Sơn có đá tần-vần,
Mưa tuôn đá sạch
ta ngồi ta chơi.
Côn Sơn thông tốt ngất tri,
Ngả-nghiêng dưới
bóng ta thời tự-do.
Côn Sơn trúc mọc đầy
g̣,
Lá xanh bóng rợp tha
hồ tiêu dao.
.......
(Nguyễn
Trọng Thuật diễn nôm , Nam Phong Tạp
Chí, t. XXVI, số 148)
Viết về Trần Nguyên Đán,
Rolf A. Stein lại cho chúng ta biết thêm mối liên hệ giữa
non bộ và hang động tại VN :
Trần Nguyên Đán về ẩn
động Thanh Hư. Tên hiệu là Băng Hồ không phải
chỉ là một ngụ ư văn chương của một
bài thơ danh tiếng. Từ ấy c̣n gợi
nên tất cả giá trị nguyên thủy của nó.
Chúng ta biết rằng những bầu Hồ có thể là
những thế giới bầu tri hệt như một
hang động là những tầng tri, thế giới Thiên đưng,
Động Thiên. Tên Thanh Hư
được đặt cho tên động của ông chính
là tên của cái đệ
nhất Động Thiên ghi trong sách Vô Thượng Bí Yếu
( của Đạo tạng ) . [Băng] Hồ là thế giới
thanh khiết , cảnh giới thứ nhất
của Thần Tiên bất tử .
( ... let us go backể to the
retreat of Trần Nguyên Đan. His sobriquet Băng-hô is not a
simple literary allusion to a famous poem. The expression keeps its primitive
force. We know that the hu vessels could be worlds, just as certain caves are
heavens (paradisiacal worlds, tung t ien). The mane
Thanh-hư given to the cave on this site is the very name of the first
cave-heaven (tung t ien) listed in the Wu-shang pi-yao
(Tao-tsang). The hu vessel made of jade or ice is thus an immaculate world like
the first of the abodes of the Immortals (42).)
Một
tài liệu thư tịch cổ cho biết nghệ thuật
chơi non bộ ở nước ta thời Trần đă
du nhập vào lối giải trí, thưởng ngoạn trong
cung điệân vua quan nhà Nguyên bên Trung quốc : Sách Nguyên sử
chép : Đất Giao-chỉ, dưới thời vua Trần,
vua cho đem thổ sản sang cống triều Nguyên, vua
Nguyên không nhận hết cả, chỉ lấy có giả sơn
bằng gỗ trầm hương (núi non bộ), thứ chặn
giấy bằng ngà voi, giá bút bằng thủy tinh; c̣n một
nửa đem cho Bất hốt truật(42B ) .
Năm
1397 , Hồ Quư Ly , người có quyền
thế lớn nhất trong triều Trần được
phong tước đại vương, cho xây dựng kinh đô
mới , gọi là Tây-đô
(nhân dân thường gọi thành nhà Hồ). Hoàng Xuân Hăn viết : Làng Đại Lại (Thanh Hóa) là
quê của Hồ Quư Ly. Năm 1398 , Quư Ly dựng cung Bảo Thanh dưới
chân núi Đại Lại , để ép vua Trần Thuận
Tông . Sau khi Quư Ly lên ngôi, thường hay về
nghỉ mát đó. Dựng cung gọi là
Ly Cung. Có bể tắm, xây đá, có chạm
trổ rất đẹp. Bể tắm,
th́ lấy nước suối cho vào. Nay
vết tích bể tắm c̣n (43).
Kinh thành Tây-đô nằm giữa
vùng núi sông him trở , nh́n từ cao xuống
thấy giống như một
ḥn non bộ hùng vĩ . Tây-đô gần núi đá vôi An-tôn,
phía bắc có có núi Voi, phía nam có núi Đốn-sơn, phía đông
có núi Hắc-khuyn và sông Bái bao quanh, phía tây có sông Mă bao bọc
. Thành xây toàn bằng đá khối chữ nhật
rất lớn.
Sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ
(1726-1780) ghi một giai thoại về non bộ và cây tùng cảnh
của Hồ Quư Ly.
Hồ Quư Ly muốn nhưng ngôi
cho con thứ là Hồ Hán Thương (Xương) bèn mượn
ḥn đá non bộ nhỏ dùng làm nghiên mực của ḿnh để
ra câu đối :
Thử nhất quyền kỳ thạch , hữu thời vi vân vi vũ dĩ
nhuận sinh-dân
( Ḥn đá kỳ
lạ này có lúc làm mây mưa để ban ơn cho dân, tỏ
khí độ một vị vua),
bắt các con đối , để xem chí
khí thế nào, người con lớn là Hồ Nguyên Trừng biết được
ư cha ḿnh, mới đối rằng :
Giá tam thốn tiu
tùng tha nhật tác đống tác lương kham pḥ xă-tắc
(Cây thông nhỏ ba tấc gỗ
này một ngày kia sẽ làm dưng cột
giúp xă-tắc)
để tỏ ư ḿnh chỉ đáng làm người
giúp việc thôi.(44)
*
Trong 20 năm bị quân Minh thống
trị , nền văn hóa của dân tộc
bị huỷ hoại nghiêm trọng . Ngay từ những
ngày đầu xâm lược , quân Minh đă
có âm mưu đồng hóa dân Việt , tiêu hủy toàn bộ
kho tàng văn hóa của dân tộc vốn có từ xưa để
lại . Sử cũ c̣n ghi ngày 21-8-1406 Minh Thành Tổ đă
lệnh cho Chu Năng là tướng cầm đầu
: lúc vào đến nước ta , quân Minh phải t́m
cách đốt hết , phá hết các dời sản văn
hóa, chỉ trừ bia Trung Quốc. Năm sau ,
vua Minh lại ra thêm lệnh về việc này để
quân lính thời hành triệt để hơn : sách vở , bia kư đều
bị tiêu hủy , những công tŕnh nghệ thuật to lớn
cũng bị thiêu phá , kể cả tượng Phật cũng
bị phá nát . Bia chùa Ngô Xá ghi rơ :
Đến khi giặc Ngô cất
binh xâm chiếm bể cơi nước ta có mang ḷng độc
ác phá hết các pho tượng Phật(45)
.
Những vườn cảnh,
non bộ đẹp cũng chung số
phận như các công tŕnh mỹ thuật khác dưới
bàn tay thô bạo của giặc Minh.
Sau khi chiến thắng quân Minh
xâm lược , Lê Lợi dựng nên
chính quyền Lê sơ theo qui cách của các triều đại trước
VN . Đến đầu thế kỷ XVI ,
mọi tổ chức chính trị, kinh tế , quân sự ,
văn hóa , xă hội của nhà nước đều đi
đến chỗ hoàn bị và chặt chẽ .
Lê triều dùng phép dựng nước
trị dân theo tư tưởng của học thuyết Tống
Nho . Điều đó khiến
cho văn hóa phương Bắc ảnh hưởng đến
các công tŕnh văn hóa nghệ thuật của nước ta
không ít. Học thuyết Tống Nho do các nhà nho đi
Tống xây dựng trên cơ sở học thuyết của
Khổng-tử nhằm phục vụ yêu cầu phát trin mới
của chế độ phong kiến Trung-quốc lúc bấy
giờ , ra sức biện hộ cho chế độ quân
chủ chuyên chế , củng cố sự phân biệt đẳng
cấp và các trật tự phong kiến, khác với tư tưởng
Nguyên Nho thời Tiên Tần .
Trong suốt một thế kỷ
tồn tại (1427-1527) , nhà Hậu Lê đă cho tu sửa và
xây dựng lại tất cả mọi cơ sở vật
chất từ cung điện , lầu gác của nhà vua và
hoàng tộc cho đến các dinh thự của quan lại trung
ương và các địa phương . Tiêu biu nhất là
các công tŕnh tập trung trong hai khu vực lớn
: Đông kinh và Lam kinh .
Đông kinh .
Đông kinh là Thăng Long cũ . Thành có hai ṿng lớp khép kín . Ṿng trong là Hoàng thành, nơi và làm việc
của vua và triều đ́nh . Ṿng ngoài là
nơi của quan lại , sĩ phu , và
các tầng lớp nhân dân . Cả hai ṿng đều được
tu sửa hay xây dựng thêm nhiều công tŕnh cung điện
lầu gác mà các sử gia khen lộng lẫy hơn xưa , nổi danh với vườn Thượng
Uyn rộng lớn nuôi cả hươu nai và các muông thú lạ
khác .
Lê Quí Đôn, trong Kiến Văn
Tiu Lục , đă miêu tả nghi lễ
chúc thọ vua bằng cây cảnh , cây thiên tuế
, như sau :
Năm
Quang Thuận thứ tám (1467 đi vua Lê Thánh Tông) dùng ngày 16
tháng giêng làm lễ mừng thọ điện Cần Chíùnh,
bèn định thành thể lệ . Từ lúc Trung hưng trở
đi , hàng năm đến ngày 27 tháng giêng, cử hành lễ
mừng thọ điện Vạn thọ, trước ngày
hành lễ , dựng đ́nh bằng lá chợ huyện , đặt
giường ngư, đến ngày làm lễ , vệ binh cầm
cờ quạt, nghi trượng , âm nhạc và khiêng hương
án , viên quan giữ nghi lễ khánh hạ bưng cây thiên tuế
từ trong nội điện ra đến đ́nh , đặt
lên trên giường , che quạt vả để hộ vệ,
thày cúng qú ở trước hương án khấn khứa
cầu đảo , gieo quẻ xin âm dương , quẻ
gieo được tốt th́ hoan hô, quạt vả mở
ra , trăm quan đều mặc triều phục chia ra từng
ban đứng ở giữa đường , hướng
vào hương án mà lạy , lạy xong trở ra đi trước
dẫn đường, viên quan giữ lễ khánh hạ lại
bưng cây thiên tuế đi trước hương án ,
nghi trượng theo sau, vào đến giữa điện
trước giường ngự , đi ṿng quanh chín lần,
xong rồi , kính đặt cây trước xa giá , thị vệ
bưng cây yên trí vào trong trướng . Nghi lễ đă cử
hành xong , vua ngự ở điện , trăm
quan lạy mừng, chia làm hai ban ngồi chầu, vua ban yến
cho uống hải tửu (46) .
Lam kinh .
Lam kinh là Lam Sơn ( Thanh Hóa ) , quê hương và là nơi xuất
phát cuộc khởi nghĩa của
Lê Lợi . Sau khi bị hỏa hoạn , Lam kinh được
triều đ́nh nhà Lê tổ chức xây cất lại cung điện
, lầu gác , vườn tược , rất lộng lẫy
và dần dần trở thành nơi tụ hội tấp nập
đông người . Lam kinh không phải là thành phố chính
trị mà chỉ là nơi cư ngụ của họ hàng
nhà vua và là nơi vua và các quan về tế mộ tổ . Lăng miếu của các vua Lê đều
để cả nơi đây . Do đó
kiến trúc Lam kinh giống như một trung tâm nghỉ
mát của vua quan nhà Lê , nên vườn cảnh
, cây cảnh , non bộ , chắc hẳn phải được
xây dựng , tu sửa , chăm sóc kỹ càng .
Sách Đại Việt Sử Kư
Toàn Thư viết : (năm Giáp Dần
1434, đi vua Lê Thái Tông) Bấy giờ các đại thần
đều sai riêng quân lính làm nhà cửa lớn cho ḿnh. Vua thấy
thế, sai (Phan) Thiên Tước đi khắp các nhà đại
thần xem xét cho rơ ràng (47).
Nói chung , giống như các triều
đại trước nước ta , các vua quan giới
quí tộc thời Lê sơ cũng rất thích xây dựng vườn
cảnh , cây cảnh , non bộ , riêng trong dinh cơ của
ḿnh , ngay cả ông vua có cuộc
đi làm vua ngắn ngủi , vua Lê Uy Mục , cũng đă
xây dựng cung điện , vườn tược riêng để
thưởng ngoạn . Trong tờ hịch tố giác tội
ác của Lê Uy Mục do Lương Đắc Bằng soạn , có đoạn vạch rơ : ... Huống
chi lại làm cung thất to , làm vườn
hoa rộng . Bắt dân trồng cây theo bánh xe đổ g̣
Hoa Cương thời Tống (bên Trung Quốc) ; lấp biển làm điện , nối gót
hôn mê cung A-pḥng nhà Tần . Việc thổ mộc làm lại
thôi, thôi lại làm , mệt nhọc dân Hải
Dương, Kinh Bắc(48) .
*
Bước sang giai đoạn
phân tranh Nam Bắc triều (1527-1802) , từ
khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê , xuyên qua thời
kỳ Trịnh-Nguyễn cho đến khi Gia Long lên ngôi,
giai đoạn mở đầu thời kỳ phân liệt
và bước vào giai đoạn suy thoái của chế độ
phong kiến Việt Nam sau già nửa thiên niên kỷ tồn
tại . Nền kinh tế , xă hội có
những biến động lớn làm thay đổi diện
mạo của nền văn hóa nghệ thuật vốn rất
mỹ lệ dưới thời Lư Trần , nghiêm lạnh
dưới thời Lê sơ . Đây là những thế kỷ
chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị
ức chế bởi chủ trương dương Nho ức
Phật của nhà nước Lê sơ .
Cùng với Đạo giáo , Phật giáo
buột khỏi tay các vương hầu quí tộc tràn về
các làng quê . Nho giáo không c̣n địa vị độc tôn . Cả ba tôn gíáo đă ḥa đồng trong
tâm thức dân gian, dưới ảnh hưởng to lớn
của Phật giáo . Thời Mạc , nhiều
đ́nh , chùa , quán , đền , miếu , được tu
sửa , xây dựng thêm tại nông thôn mà khuôn viên hẳn có
cây cảnh , non bộ .
Theo gót các triều vua thời
Trần và Lê sơ xây dựng kinh đô thứ hai ở quê
nhà như Thiên Trường hay Lam kinh , các vua Mạc đă
cho xây dựng ở vùng Hải Dương , quê hương
của ḿnh , nhiều cung điện , lầu gác cùng với
vườn cảnh , cây cảnh , non bộ , và được
gọi là Dương kinh . Dương kinh có những cung điện
nổi danh như điện Phúc Huy , điện
Hưng Quốc . Ngoài ra , Mạc Đăng Dung c̣n cho xây điện
Sùng Đức ngay trên nền nhà cũ của Mạc Đĩnh
Chi , ông tổ của ḿnh , ở xă Lũng Động , Chí
Linh , nhằm nêu cao truyền thống ḍng họ Mạc (49)
.
Ngoài những công tŕnh của triều
đ́nh và các vua chúa , nhiều tầng lớp
thống trị và trí thức khác cũng tổ chức xây
dựng cho ḿnh những dinh thự , những am quán. Truyện
Lư tướng quân trong tác phẩm Truyền Kỳ Mạn Lục
viết bằng chữ nho của Nguyễn Dữ (đầu
thế kỷ 16) là một thí dụ, truyện kể ông tướng
tham bạo Lư Hữu Chi tậu ruộng vườn, dựng
nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để
làm ao , dồn đuổi xóm giềng cho
rộng đất, đi kiếm những hoa kỳ đá
lạ từ bên huyện khác đem về (50).
Những công tŕnh mang tính chất
sinh hoạt của cá nhân này xuất hiện rải rác trong
mọi miền mà tiếng tăm và quen thuộc với
chúng ta nhất là am Bạch Vân
và quán Trung Tân (Hải Dương) của Trạng
Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) hoặc trại Bùi Phong
(Thanh Hóa), nơi ẩn cư của La Sơn Phu Tử Nguyễn
Thiếp (1723-1801), trong bài kư Hạnh Am, Phu Tử viết : Sau lúc bỏ học khoa cử , núi
sông miền Nam Châu, dấu chân có gần khắp. Thường
hay chơi núi Thiên Nhận Nam Hà. Phía Đông có
núi Lạp Đính, phía Tây có núi Bạch Tượng, khoảng
giữa thấy một núi con, tên gọi Bùi Phong. Có ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy
nhiễu. Núi trồng cây được,
khe đánh cá đươc, đất hoang dễ cày, cỏ
tốt dễ giữ. Ta mừng thay.(51).
Chán nản trước những
rối ren của xă hội , Nguyễn Bỉnh
Khiêm sau khi làm quan cho nhà Mạc được tám năm th́ rút lui khỏi chính trưng trở
về quê . Ông đă cho xây dựng đây am Bạch Vân và
quán Trung Tân để làm nơi dưỡng nhàn, dậy học , và cũng là nơi làm thơ cùng giao
tiếp với bạn bè . Tuy những công tŕnh kiến trúc
này nhỏ bé vừa phải, không mang tính chất phô trương
sự giầu có sang trọng vốn là đặc điểm
của kiến trúc cung đ́nh , nhưng
câu chuyện về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho chúng ta một giai thoại về
thú chơi non bộ thế kỷ XVI , đồng thời
hé mở cho chúng ta biết thêm về một trong những sở
thích của sĩ phu đương thời .
Ôn Đ́nh Hầu Vũ Khâm Lân ,
trong bài tựa viết cho tập gia phả của ḍng họ
Trạng Tŕnh , đă nói đến thú vui của Nguyễn Bỉnh
Khiêm như sau :
Ngoài ra , Tiên
sinh c̣n tu bổ chùa chiền, tiên sinh thường cùng các lăo
tăng đàm luận , và thường khi thả thuyền
dạo chơi Kim-hải hay Úc-hải để xem người
đánh cá . Các chỗ danh lam thắng cảnh như An Tử
, Ngọa Vân , Kinh Chủ , Đồ Sơn ; nơi nào tiên
sinh cũng chống gậy trèo lên , thừa hứng ngâm vịnh
, có khi quên cả sớm chiều . Mỗi khi ngắm cảnh
non cao chót vót , rừng rậm xanh ́ , gió động ŕ rào , chim ca thánh thót , tiên
sinh lại hớn hở tự đắc , phiêu phiêu như
một vị lục địa thần tiên (thần tiên thế
gian) (52) .
Một chuyện khác về non bộ :
Nguyễn Hoàng, con trai thứ của Nguyễn Kim, trong t́nh thế nguy ngập sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kim sát hại , bèn cho sứ giả bí mật về am