|
|
||
|
DI TÍCH VÀ TRUYỀN THUYẾT VỀ
NHÀ TÂY SƠN
Quách Tấn
Những truyền thuyết dưới
đây là tôi nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ
lão ở Bình khê kể lại. Gia đình tôi ở ấp Tây
Sơn hạ (Bình khê hiện thời) đã chín đời.
Trong nhà trước đây có hai bộ sử chép tay về
nhà Tây Sơn (Tây Sơn dã sử), một của người
Bình Định viết, một ở Bắc đưa vào.
Thời Pháp thuộc cụ Hoàng Yến làm tri huyện Bình
khê mượn xem rồi tịch thu mất (tịch thu là
vì đồ quốc cấm). Cho nên những gì tôi viết
ra đây là viết thuộc lòng, nghe sao viết vậy mà
thôi.
“Ðành chẳng công đâu may khỏi tội
Bao nhiêu chữ đó bấy nhiêu tâm”
(Sào Nam)
DI TÍCH
Tây
Sơn là dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ
thống Trường sơn. Nằm trọn trong phần
đất ba quận Vĩnh thạnh, Cam túc, Bình khê hiện
tại. Tây Sơn làm ranh giới cho tỉnh Bình Định
ở phía đông và Pleiku, Kontum ở phía tây.
Dãy
núi An lão và Kim sơn cũng thuộc hệ thống Trường
sơn, cũng nằm phía tây tỉnh Bình Định (ở
phía bắc) và cũng dính liền với dãy Tây Sơn (ở
phía nam) nhưng không mang danh Tây Sơn. Bởi vì cổ nhân lấy
tỉnh lỵ làm điểm đứng ngắm. Tỉnh
lỵ Bình Định trước kia là thành Ðồ Bàn ở
Nam an, Bắc thuận (An nhơn), thời gần đây là
thành Bình Định ở An ngãi, Liêm trực (An nhơn), và
hiện nay là Qui Nhơn. Ðứng trong ba nơi này mà trông thì
dãy Tây Sơn nằm hẳn về chính tây, còn hai dãy Kim
sơn và An lão nằm về tây bắc. Tên Tây Sơn đã
có từ lâu.
Vì
núi mệnh danh là Tây Sơn, nên các vùng sơn cước,
bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn.
Trước kia gọi là Ấp Tây Sơn.
Ấp
Tây Sơn gồm có ba phần:
1. Tây Sơn Thượng gồm toàn cõi An khê
thuộc quận An túc hiện nay, lấy đèo An khê làm
ranh giới.
2. Tây Sơn Trung gồm phần đất đai
thuộc quận Vĩnh thạnh hiện nay, tức từ
đèo An khê đến địa đầu Hữu giang, Tả
giang.
3. Tây Sơn Hạ gồm đất đai từ
Hữu giang, Tả giang đến An chính, tức là phần
đất quận Bình khê hiện nay.
Ấp
Tây Sơn xưa kia thuộc huyện Tuy viễn (đất
Ðồ Bàn sau khi trở thành đất Việt Nam thì chia làm
ba huyện: Bồng sơn, Phù ly, Tuy viễn). Tên ấp bị
bỏ từ đời Gia Long.
CÁC NGỌN NÚI CÓ LIÊN HỆ MẬT THIẾT ÐẾN
NHÀ TÂY SƠN
Ở
bắc ngạn sông Côn có hòn Trung sơn, nằm trong địa
phận thôn Phú lạc (chánh quán của Tây Sơn tam kiệt).
Ở
nam ngạn sông Côn có những núi:
Núi HOÀNG ÐẾ, núi HIỂN HÁCH ở quận An túc Ðèo An khê.
Núi Ông Bình, núi Ông Nhạc ở phía đông đèo An khê.
Núi Tâm phúc, núi Lãnh lương, hòn Hoành sơn, hòn Ấn, hòn
Kiếm nằm dọc theo quốc lộ 19, từ núi Ông Nhạc
xuống đến thôn Trinh tường, xã Bình tường,
quận Bình khê.
Từ
Tiên thuận trở xuống, dọc theo con sông Côn, đến
Hữu giang, Phú lạc núi vẫn nối liền nhau, quanh
co khúc khuỷu. Nổi danh nhất là hòn TRUNG SƠN. Hòn Trung
sơn thuộc thôn Phú lạc, quê hương của tam kiệt
nhà Tây Sơn và anh hùng Mai Xuân Thưởng. Núi không lấy
làm cao (422 thước) nhưng trông rất khôi hùng. Trông gần
thì mập mạp hung hăng như con bò đực sung sức
lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu. Nên
người địa phương thường gọi là
hòn SUNG. Lưng núi có nhiều chỗ nổi từng vồng
từng ụ, như bị đánh sưng. Nên nhiều
người gọi là hòn SƯNG thay vì hòn Sung. Núi còn có tên nữa
là ÐỘC XỈ SƠN và ÐỘC NHŨ SƠN, vì ở xa, nếu
đứng xiên một phía mà trông thì giống như một
chiếc răng nanh dựng ngược, còn đứng
trước mặt mà ngó thì tương tợ một nấm
vú vun (1). Do đó núi lại có tên nữa là BÚT SƠN. HÒN SUNG
là tổ sơn trong vùng hữu ngạn. Mặt hướng
về đông nam và lấy dãy Sơn Triều sơn ở Cầu
Gành, thuộc An nhơn làm Tiền án (2), và long mạch chạy
xuống hướng đông đến hòn Mạ Thiên
sơn tục gọi là hòn Mò O ở giữa An nhơn và Phù
cát, thì hồi cố (3). Phía trước mặt và hai bên tả
hữu,gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp
nhô như sóng biển. Và những ngọn núi chung quanh đều
xây mặt về triều củng, như các vị đại
thần đứng chầu một đấng anh quân. Còn
gò đống kia là quân lính dàn hầu. Ðến viếng Hòn
Sung, một du khách có để lại mấy câu rằng:
Hòn Sung tuy thấp mà cao
Trời cho làm chốn anh hào lập thân
Kìa ai áo vải cứu dân
Kìa ai ba thước gươm thần chống Tây
Chuyện đời rủi rủi may may
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn
Trên
đỉnh hòn Sung có một vùng đá hình chữ nhật, bằng
phẳng, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng
lên nhau. Người ta bảo đó là "Mả mẹ
chàng Lía". Truyền rằng mẹ chàng Lía lâm chung tại
hòn Chớp Vàng thôn Phú phong. Lía muốn đưa hài cốt
đến táng nơi hòn Sung cách đến 5 cây số về
hướng bắc, bèn lên đỉnh núi, đầu đội
quan tài mẹ, một tay vịn, một tay nắm chiếc
mâm đồng ngắm phía hòn Sung mà vút mạnh. Chiếc mâm
vụt bay. Liá liền nhảy theo đứng trên mâm, rồi
lấy thế nhảy vọt đến hòn Sung. An táng mẹ
xong, lía rinh đá khối xây mộ, và chồng hai tảng
đá bên mồ để ngồi khóc mẹ.
Do
đó người địa phương còn gọi hòn Sung
là hòn "Mả Mẹ Chàng Lía". Sau lưng và phía tả
phía hữu của hòn Sung, có nhiều ngọn núi không cao
nhưng hiểm trở. Như hòn HÀNH SƠN tục gọi
là Dốc Dài nối liền hòn Sung và hòn VINH ÐO tức hòn Dồ
ở Hữu giang. Nhưng đặc sắc hơn hết
là hòn ÐÁ DÀN, tên chữ là DƯƠNG THẠCH SƠN.
Hòn
ÐÁ DÀN ở phía bắc hòn Sung, cạnh hòn Sống. Trên núi,
đá chồng chất, lớp dựng lên lớp giăng
ra. Do đó núi mệnh danh là ÐÁ DÀN (dàn bày ra). Dưới chân
và trên triền núi, cây cối rậm rạp. Nhưng trên đỉnh
lại chỉ có bụi còi. Ðỉnh núi bằng phẳng và
chạy dài như một con đường quan lộ. Có lối
đi từ chân núi lên đỉnh rồi chạy qua hòn Sống,
ra đèo Bồ Bồ..., theo đường tắt ra vùng
Kim sơn. Chính nghĩa quân Cần Vương đã dùng con
đường này để liên lạc với các mật
khu trong hai vùng Bắc Nam.
Trong dãy núi phía sau lưng hòn Sung, có ngọn suối gọi
là SUỐI ÐÁ vì khô quanh năm và trong lòng ngổn ngang là
đá, thiên hình vạn trạng, chơm chởm, chập chồng.
Ði vào trong sâu, có nhiều hang hố ẩn núp được
kín đáo, và muốn vào suối phải qua nhiều lớp
gò nổng. Thật có thế "một người chống
được cả trăm". Nơi đó là một
trong những mật khu của nghĩa quân Cần Vương,
do em ruột Mai anh hùng là Mai Xuân Quang trấn giữ.
Những
núi non của dãy Tây Sơn ở phía hữu ngạn sông Côn
đại khái là thế. Còn bên tả ngạn, thì núi non
cũng trùng trùng điệp điệp. Cùng theo một chiều,
lớp chạy lên trên An khê, lớp chạy thẳng vào biên
giới Phú yên, lớp chạy xiên xiên xuống hướng
đông nam, từ Ðịnh quang xuống Thượng giang, Tả
giang, Trình tường, Phú phong; thành từng giây dài, chằng
chịt, liên miên... chằng chịt.
Ðèo
AN KHÊ mở lối giao thông giữa Bình Định và vùng
Tây Nguyên. Tên An khê mới thông dụng từ thời Pháp thuộc.
Trước kia gọi là đèo VĨNH VIỄN.(3) Ðèo An khê
cao đến 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy
từ đông lên tây. Ðường đi rất hiểm trở.
Ngày xưa khi Quốc lộ số 19 chưa mở, hành khách
phải chịu lắm nỗi gay go. Dọc đèo có nhiều
nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm. Có
khúc phải dăng hai chân mà leo mới khỏi té. Nơi này
tục gọi là dốc CHÀNG HẢNG. Dưới dốc
Chàng hảng về phía đông có một cái nghẹo, nơi
nghẹo có một cây khế rất sai. Hành khách lên đèo mỏi
mệt, thường dừng chân nơi gốc khế
để nghỉ ngơi và giải khát. Nghẹo ấy tục
gọi là Nghẹo CÂY KHẾ. Cách nghẹo Cây Khế chừng
một khỏang có hai cây cổ thụ sống trên vài
trăm năm, thân cao tàn cả, một cây KÉ, một cây CẦY.
Ðó cũng là hai trạm nghỉ chân rất được
hành khách lưu luyến. Trên đỉnh đèo có đồn
Thượng an do người Pháp cất.
Thời
chiến tranh Việt Pháp (1945-1954), nơi đồn này
đã xảy ra nhiều trận kịch chiến. Và trước
ngày ký Hiệp định Genève, quân Pháp ở trong đồn
đã bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Tiếp
đó đồn An khê ở phía tây đèo, cũng bị bao
vây. Thực dân Pháp và các nhà tư bản Việt Nam ở thị
trấn An khê phải tản cư bằng máy bay.
Trước đây gần 200 năm, đèo An khê là con đường
lên xuống của binh mã nhà Tây Sơn. Hùng khí vẫn còn ngùn
ngụt. Chung quanh đèo, núi non chồng chất. Ở vùng
An khê (tức quận An túc hiện giờ) có núi HIỂN HÁCH
tục gọi là Hảnh Hót và Ðại Nam Nhất Thống
Chí chép là HINH HỐT là một danh sơn có nhiều danh mộc,
và chung quanh có nhiều ngọn núi qui triều. Núi vùng An khê
liên tiếp với vùng Cao nguyên.
Phía
đông đèo An khê, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm
chở như vùng Tây Sơn Thượng, tức vùng An túc.
Ngọn núi có danh nhất là hòn ÔNG BÌNH. Hòn ÔNG BÌNH nằm phía
tây thôn Thượng giang. Tuy cao chỉ có 793 thước,
song trông rất kỳ vĩ, và có vẻ bí hiểm. Cây cối
sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không
có đường lưu thông. Nhưng sự thật thì có
nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía bắc,
có đường đèo đi từ Ðồng hào ở ngả
đông, lên Trạm Gò, Cửu an ở ngả tây. Ðèo này gọi
là đèo VẠN TUẾ, tuy ngắn song dốc và đá mọc
lởm chởm, nên rất khó đi. Ở triền phía nam,
có con đường mòn chạy theo hướng đông nam
để đến đèo An khê. Ðó là con đường lịch
sử (sẽ nói rõ ở đoạn sau). Ðối trĩ cùng
hòn Ông Bình, xiên xiên về hướng đông nam có hòn ÔNG NHẠC
cao và rậm không kém hòn Ông Bình. Khí thế cũng rất hùng
hiểm.
Từ
hòn Ông Nhạc, núi chạy lớp thì vào thẳng trong Nam, lớp
thì chạy xiên xiên xuống hướng đông nam. Danh
sơn đều nằm trong dãy đông nam. Trước hết
là hònTÂM PHÚC, tục gọi là hòn BÀ PHÙ. Hòn Tâm Phúc không cao, hình
giống như chiếc nón lá úp sấp. Núi có nhiều cây cổ
thụ và nhiều thú rừng, nhất là heo. Ðây là một
hòn núi cấm, không ai được vào đốn củi,
săn thú. Nhưng không cấm cũng ít ai dám vào, vì truyền
rằng núi rất linh thiêng. Bà Thiên-Y A-Na thường tới
lui, hào quang sáng chói. Thường ngày lúc mặt trời gần
lặn, người ở gần núi thường nghe tiếng
ụt heo inh ỏi. Người ta bảo rằng đó là tiếng
của những kẻ bộ hạ ở nuôi heo cho bà Thiên
Y. Vì núi có bà Thiên Y tới lui nên mới mệnh danh là hòn Bà
Phù, tức là hòn núi của bà có Phù Phép.
Gần
hòn Bà Phù có hòn MÀN LĂNG. Hai núi đối trĩ nhau. Thầy
địa gọi hòn Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là hòn
Nguyệt. Giữa hòn Màn Lăng và hòn Bà Phù có một thung
lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.
Qua khỏi Hóc Yến đến núi ÐÔNG PHONG tục gọi
là hòn LÃNH LƯƠNG. Những ngọn núi thượng dẫn
liên hệ mật thiết với nhau, chẳng những về
phương diện địa lý vì cùng một sơn mạch;
mà còn liên hệ về mặt lịch sử, lịch sử
nhà Tây Sơn.
.
TRUYỀN THUYẾT
Nhà
Tây Sơn trước khi khởi nghiệp đã dùng dãy núi
Tây Sơn làm căn cứ quân sự. Và đạo quân tiên
phong gồm hầu hết người Thượng.Truyền
rằng: Tất cả các bộ lạc ở vùng Tây Sơn
đều theo tam kiệt. Chỉ có người Thượng
Xà Ðàng ở vùng An khê không phục. Ðể cho họ tin rằng
mình là người của Trời sai xuống trị thiên hạ,
Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước.
Họ
Nguyễn lấy một đôi giỏ bội mới, dùng
giấy bổi quét dầu trong phất ở phía trong lòng giỏ.
Rồi mỗi buổi sớm gánh đôi giỏ xuống
khe múc nước về. Người Thượng đứng
xa trông thấy nước không chảy ra các lỗ giỏ,
đều cho Nguyễn Nhạc là kỳ nhân. Nhưng viên
chúa đảng cho rằng có phù phép, chớ không phải
chơn mạng đế vương.
Nhân
trên núi Hiển Hách có bầy ngựa rừng, hễ thấy
bóng người liền chạy trốn. Người chúa
đảng bảo Nguyễn Nhạc nếu gọi
được bầy ngựa ấy chạy đến
thì mới thật là người Trời. Nguyễn Nhạc
về nhà mua một con ngựa cái tơ thật tốt, dạy
dỗ thật khôn hễ nghe tiếng hú thì chạy đến.
Ðoạn đem thả ngựa vào núi cho theo bầy ngựa
rừng. Ngựa rừng xúm lại "ve vãn" và luôn luôn
kèm bên chân. Nguyễn Nhạc cất tiếng hú, ngựa cái
chạy đến. Bầy ngựa rừng cũng chạy
theo, nhưng vừa thấy bóng người thì quày trở
lui, song chạy một đoạn xa xa, ngoảnh lại
trông, thấy ngựa cái vẫn đứng với người
một cách thân mật, thì dừng lại đứng ngó.
Nguyễn Nhạc lấy cỏ bỏ cho ngựa cái ăn,
rồi bỏ ra về. Bầy ngựa rừng liền kéo
đến ăn cỏ. Hôm sau Nguyễn Nhạc lại
đến hú và lấy cỏ cho ngựa ăn. Bầy ngựa
rừng thấy người không có ý làm hại giống
nòi, lần lần làm quen...
Nguyễn
Nhạc bèn đến tìm chúa Xà Ðàng, hẹn ngày và nơi gọi
ngựa.Ðến kỳ hẹn, Nguyễn Nhạc cùng chúa Xà
Ðàng và một ít bộ hạ đến núi Hiển Hách. Nguyễn
Nhạc đứng giữa hai tảng đá dựng cao lút
đầu người, và bảo chúa Xà Ðàng cùng bộ hạ
núp phía sau, im hơi lặng tiếng. Ðoạn cất tiếng
hú. Nghe tiếng chủ hú, ngựa cái từ trong rừng sâu
chạy ra. Bầy ngựa rừng chạy theo sau. Nguyễn
Nhạc lấy cỏ cho ăn. Ðã quen người quen lệ,
bầy ngựa rừng không chút sợ hãi. Nguyễn Nhạc
vuốt ve ngựa cái rồi từ từ đến gần
bầy ngựa, vuốt mỏ vuốt lưng, hết con
này đến con khác. Vì thấy ngựa cái đứng yên
để vuốt ve, bầy ngựa rừng cũng vững
tâm ăn cỏ...
Người Thượng Xà Ðàng thấy Nguyễn Nhạc
"gọi" được bầy ngựa rừng thì
tin rằng là "Người Trời", nên thần phục
và chịu theo đánh giặc. Những người Thượng
cũng như người Kinh, tuyển mộ được
bao nhiêu đều đem về hòn Ông Bình và Ông Nhạc
để tập luyện. Dinh trại đều cất
trong hai núi này. Nguyễn Nhạc trấn thủ một núi,
Nguyễn Huệ trấn thủ một. Vì vậy nên hai ngọn
núi này mang tên hai vị chỉ huy: Ông Nhạc, Ông Bình. Bình là
tên chữ Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Ðối với
Nguyễn Huệ, người địa phương ít hay
gọi tên húy. Lúc nhỏ thì thường gọi là "chú
Ba Thơm" (hoa Huệ có hương), lớn lên lại
thường hay gọi tên chữ "Ông Bình". Tên Nguyễn
Quang Bình tuy đã đặt từ trước, nhưng mãi
sau khi lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu Quang Trung,
đánh đuổi quân Mãn Thanh rồi mới thấy xuất
hiện trong sử sách. Sau khi vua Quang Trung thăng hà, miếu
hiệu Thái tổ Vũ Hoàng đế, thì hòn Ông Bình
được tôn xưng là hòn Thái tổ. Còn hòn Ông Nhạc
thì người sau đọc trại là Ông Nhược.
Nhà
Tây Sơn cử binh đánh nhà Nguyễn năm Tân Mão (1771).
Trước khi cử sự, binh đóng ở hòn Ông Nhạc
đều dồn qua hòn Ông Bình. Rồi đại binh kéo
đến đèo An khê làm lễ tế cờ khởi
nghĩa. Lễ tế cờ cử hành gần nơi cây Cầy
và cây Ké. Cho nên tục ngữ có câu "Cây Ké phất cờ,
cây Cầy khỉ cổ".(4)
Truyền
rằng: Ðại binh kéo đến đèo An khê khi xuống vừa
khỏi nghẹo Cây Khế, thì một con rắn thân lớn
bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền,
thời nhân gọi là Ô Long, từ trên cây Ké bò xuống, nằm
chận ngang đường đi. Binh mã sợ không dám
đến. Nguyễn Nhạc liền xuống ngựa, tuốt
gươm đến chém, lấy máu đề cờ. Nhớ
chuyện Hán Cao Tổ chém rắn khởi nghĩa, tướng
sĩ tin là điềm lành nên nức lòng phấn chí. Tế
cờ xong liền tiến binh.
Binh đến
núi Bà Phù thì trời tối. Nguyễn Nhạc bèn dừng lại
nghỉ. Ðêm đến mở yến tiệc thết
đãi tướng sĩ tại thung lũng dưới
chân Bà Phù. Sáng hôm sau mới tiếp tục tiến phát.
Nhân
việc đồn binh được yên ổn, và yến ẩm
vui vầy, Nguyễn Nhạc mới đặt tên hòn Bà Phù
là hòn Tâm Phúc, và người đương thời gọi
thung lũng là Hóc Yến. Trước khi xuất binh, Nguyễn
Nhạc đã sai Nguyễn Lữ đi vận tải
lương thực đến chân núi Ðồng phong. Khi binh
xuống đến Ðồng phong thì lương thực
cũng vừa tải đến. Nguyễn Nhạc cho
đóng binh lại để phát lương và nghỉ ngơi
để chuẩn bị tinh thần chiến đấu.
Tướng sĩ được lãnh lương thực tại
Ðồng phong nên gọi núi Ðồng phong là hòn LÃNH
LƯƠNG.
Từ
hòn Ông Nhạc đến hòn Lãnh lương, núi chạy dọc,
xiên xiên xuống hướng đông nam. Nhưng đến
địa đầu thôn Trinh tường, núi lại quay
ngang ra hướng bắc, thành hòn HOÀNH SƠN, tức là NÚI
NGANG, nằm theo hướng tây nam - đông bắc. Núi Ông
Bình ngó ngay xuống Hoành sơn và làm hậu tẩm cho Hoành
sơn vậy. Hòn HOÀNH SƠN không cao (361 thước),
nhưng dài và rộng. Phía tây và phía nam, dòng suối Ðồng
tre và chi lưu ôm sát bên chân. Ðường quốc lộ 19 chạy
dài ở phía bắc. Trước mặt, đồng Trinh
tường tiếp đồng Phú phong, và bên chân một
con đường hương lộ chạy từ bắc
vào nam, hợp cùng quốc lộ 19 và hai nhánh suối Ðồng
tre, thành một chữ NHẬT làm ranh giới cho núi. Mộ
của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn tam kiệt,
nằm trong hòn núi này (Hoành sơn).
Truyền
rằng: Niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1740-1786), trong
khoảng Ðịnh vương Nguyễn Phúc Thuần
(1765-1777) trị vì miền Nam, có một thầy địa
lý Trung hoa, tục gọi là thầy địa Tàu, thường
ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn
Nhạc theo rình xem. Một hôm thấy thầy địa
đến Hoành sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống
in nhau, đem cắm nơi triền phía đông, một cây
ngoài bắc, một cây trong nam, rồi bỏ mà đi thẳng.
Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa,
và thầy địa Tàu không tìm ra huyệt tinh nên tìm cách
để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý
đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến
thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía bắc sống
và tươi tốt như lúc mới trồng. Ðó là chứng
ứng cho biết rằng long huyệt nằm ở đó.
Nguyễn Nhạc hết sức mừng, bèn nhổ cây khô
đem cắm vào chỗ cây sống, và đem cây sống
đến cắm chỗ cây khô.
Mười hôm sau, tính đúng 100 ngày từ khi trồng trúc,
thầy địa Tàu đến. Thấy hai cây trúc đều
chết cả hai, thầy địa nhún vai trề môi, bỏ
đi không thèm trở lại nữa. Bởi thầy cho rằng
đó chỉ là "giả cuộc" mà thôi. Nguyễn Nhạc
bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía
bắc. Lại có người bảo rằng: Thầy
địa lý Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc
đến vùng Tây Sơn "tìm long điểm huyệt",
thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn, và chính Nguyễn
Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. Ði khắp
cả vùng Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến
hòn Hoành sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy
lần, hết đặt địa bàn ở chỗ này
thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính
toán, có vẻ đắc ý lắm. Ðoạn thầy bỏ
đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau thầy
trở lại và cũng ghé nghỉ ngơi nhà Nguyễn Nhạc.
Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy còn mang theo một
chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc
khăn điều.
Ðoán
biết rằng thầy Tàu đã tìm được "huyệt
mả đại phát" nơi Hoành sơn nên về Tàu hốt
cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm
cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi
được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp
ra, thậm chí cả những lúc "đi sông đi
bãi"? Nguyễn Nhạc đóng một chiếc trắp
giống hệt chiếc trắp của thầy địa,
và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem dấu
sẵn nơi chân Hoành sơn...
Ðến
ngày đã chọn, thầy Tàu lén mang chiếc trắp cùng
địa bàn đi lên Hoành sơn. Vừa đến chân
núi thì một con cọp tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm
lên một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy Tàu hết hồn,
quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không
thấy cọp đuổi theo, liền quay trở lại
chỗ cũ. Thấy chiếc trắp và địa bàn còn
nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết
đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long
huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong yên thầy hớn hở
trở về Trung quốc, không ngờ rằng chiếc trắp
thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc, và con
cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi.
Hai
thuyết không biết thuyết nào đúng. Hai bên chỉ
khác nhau ở chi tiết. Cả hai đều đồng một
điểm chính là mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành
sơn. Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ
nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía
tây nam (1) và lấy hòn Hương sơn ở Kiên thạnh (Bình
khê) làm nội án, hòn Mò O (An nhơn) làm ngoại án. Hai hòn này
nằm xiên xiên hướng đông bắc hòn Hoành sơn. Vì
có mộ của Nguyễn Phi Phúc, nên hòn Hoành sơn
được tôn xưng là THIẾU TỔ.
Sát
chân núi Ngang phía đông, khoảng giữa, nổi lên một
trảng đất lum lum. Trong khoảng này dáng núi lại
hơi cong cong. Ðứng phía trước trông vào thì giống
một ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa
là núi, và mặt ghế là trảng đất. Trên trảng
nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật.
Vua Gia long ngờ rằng đó là phần mộ của ông
bà Nguyễn Phi Phúc , song thân ba vua Tây Sơn, nên truyền quan
địa phương khai quật. Nhưng hài cốt không
thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu
phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn
đèn chong chóng đang cháy.
Ai
cũng biết bốn chum dầu ấy do nhà Tây Sơn chôn,
song không ai đoán ra mục đích. Và tất cả mọi
người đều biết di hài của ông bà Nguyễn
Phi Phúc táng tại Hoành sơn, nhưng cũng không có người
nào biết được nơi chôn. Vua quan nhà Nguyễn ra
công tìm kiếm, nhưng dấu tích vẫn mờ mịt khói
mây. Nơi trảng đất dưới chân Hoành sơn,
hiện nay vẫn còn ít nhiều di tích. Những khách
phương xa đến viếng cảnh, không biết rõ
câu chuyện, đều lầm tưởng là mộ Nguyễn
Phi Phúc bị đào.
Có
người bảo rằng ngọc cốt của vua Thái Ðức
Nguyễn Nhạc cũng táng trong vùng Hoành sơn. Ðó là bằng
theo chuyện "bạch mã hiện hình" mà ức
đoán. Nguyên vua Thái Ðức có một con chiến mã: Thân vóc
cao lớn như ngựa Bắc thảo, lông trắng
như tuyết, đuôi và kỳ mao mịn như tơ. Nhà
vua yêu quí rất mực. Sau khi nhà vua băng hà, con bạch
mã sổ chuồng chạy mất, quan quân tìm kiếm không
ra. Cách ít lâu, chiều chiều người trong vùng Hoành sơn
thường trông thấy bóng ngựa trắng, khi thì đi
thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên trên đỉnh đứng
hí não nùng. Mọi người đều tin rằng đó
là con bạch mã, hoặc là hồn thiêng con bạch mã của
vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, người trong ấp
Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng. Nhưng sau khi
hai nấm mộ giả nơi trảng đất dưới
chân núi bị nhà Nguyễn phá hủy, thì bóng ngựa vắng
biệt trong một thời gian khá lâu. Mãi đến khi nhà
anh hùng Mai Xuân Thưởng dấy nghĩa Cần
Vương (1885-1887) thì bạch mã xuất hiện trở lại.
Người địa phương cho là "ngựa thần"
nên hết lòng kính sợ.
Vì
sao thấy "ngựa trắng hiện hình" lại
đoán rằng lăng mộ vua Thái Ðức táng nơi núi
Ngang? Là vì ngựa vốn là giống vật rất khôn và có
nghĩa. Nhiều con, chủ chết, bỏ ăn bỏ uống
ra mả nằm chết theo. Lắm con không chết theo,
nhưng thỉnh thoảng tìm đến thăm mả chủ,
và cất tiếng hí thê lương. Nếu ngọc cốt
của nhà vua không an táng nơi Hoành sơn thì sao con ngựa
- hay hồn ngựa - của nhà vua lại tìm đến.
Ðó
là ức đoán, chớ từ xưa đến nay không ai biết
rõ nơi chôn cất vua Thái Ðức, mặc dù vẫn truyền
rằng di thể được long trọng đưa về
cố hương. Còn về việc người Bình khê, nhất
là người Phú lạc, Trinh tường, không nuôi ngựa
trắng thì trước kia hoàn toàn do lòng tôn trọng vua Tây
Sơn, sau này một phần lớn do lòng mê tín: sợ thần
Bạch Mã.
Nghe
đồn rằng: Thời Pháp thuộc, tại Ðồng vụ
(thuộc Trinh tường) có người mua được
một con ngựa bạch toàn sắc, đem về nuôi không
được bao lâu thì tự nhiên ngã đùng ra chết.
Người ta tin là bị thần Bạch Mã vật. Do
đó lòng kiêng cữ nuôi ngựa trắng của người
địa phương gia tăng.
Ðó
là những chuyện ngày xưa. Từ ngày đất nước
nổi binh đao, không biết ngựa trắng có còn xuất
hiện nơi Hoành sơn và người vùng Hoành sơn có
còn sợ thần Bạch Mã? Dù có hay không có, những huyền
thoại kể trên thêm vào những di tích lịch sử, làm
tăng phẩm giá cho Hoành sơn.
Năm Tân Sửu (1961), nhân dân Bình khê lại dời trung cốt
Mai anh hùng đến an táng. Lăng tẩm trang nghiêm hùng
tráng làm tăng khí sắc của sông núi bội phần.
Khách du quan đến Bình Định, tưởng không nên quên
núi Ngang vậy. Các thầy địa lý Việt Nam cũng
như Trung hoa đều công nhận đất Hoành sơn
là đại địa, vì có nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm,
nào cổ nào chung, ở bên tả bên hữu. Trước mặt
trên ba nổng gò, đá mọc giăng hàng giống như những
toán quân đứng chầu chực. Và xa xa có hổ phục
long bàn.
Không phải ngoa ngôn: Bút đó là hòn Trung sơn ở bên Phú lạc,
xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây. Nghiên đó là
hòn Hội sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa
phận Trinh tường về phía nam, đứng đối
trí cùng hòn Trung sơn ở phía bắc. Cũng như hòn
Hoành sơn và hòn Trung sơn, hòn Hội sơn không cao lắm
(491 m) nhưng trông đồ sộ, uy nghiêm. Trên núi có một
vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm
không bao giờ cạn. Người địa phương
lên vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém
dưới đồng bằng. Vì núi có vũng nước
nên đám bình dân, gọi núi là hòn Vũng thay vì hòn Dũng.
Còn đám hàn mặc thì coi vũng nước là nghiên mực
của trời, nên đặt cho núi một tên nữa là
NGHIÊN SƠN tức HÒN NGHIÊN vậy. Lên chơi hòn Nghiên, Ðịnh
Phong có mấy câu cảm hứng:
“Trên non có nước
Gắng bước mà lên
Nước non còn nợ chớ quên
Lòng trong với nước gan bền cùng non
Trời Tây mây kéo hoàng hôn
Biển Ðông thấp thoáng sóng dồn bình minh
Nghiên son mài ráng lung linh
Bút tuôn hàng nhạn chép tình nước non...”
Hòn
NGHIÊN và hòn BÚT nằm bên hữu và bên tả hòn Hoành sơn,
trông thật cân đối. Khách thơ ví von Hoành sơn
như bức bình phong, còn hai hòn BÚT NGHIÊN là hai trụ ba biểu
đứng hai bên, hơi lấn ra phía trước một
ít. Sát bên chân hòn Hoành sơn lại có hai hòn núi nhỏ đứng
song song, giống hệt bộ chuông trống nho nhỏ
để trước chiếc án thờ. Ðó là HÒN MỘT và
HÒN GIẢI. Cổ nhân gọi hòn Một là CHUNG SƠN tức
hòn Chuông, hòn Giải là CỔ SƠN tức hòn Trống.
Cổ
nhân đặt tên không phải dựa vào vị trí, nhưng
dựa hình dạng. Hòn Một trông phảng phất qủa
chuông đồng. Còn hòn Giải thì đứng ở phía bắc
trông vào thì dáng tròn tròn như cái trống. Nhưng đứng
phía đông mà ngó lại thấy hơi vuông vuông như một
chiếc ấn. Vì vậy hòn Giải còn có tên nữa là ẤN
SƠN tức hòn Ấn. Ðặt cho hòn Giải tên Ấn
sơn chẳng phải vì hình dáng mà còn vì ở phía đông,
nơi vùng Gò Sặt (Trinh tường) có một hòn núi thấp
và dài gọi là hòn KIẾM SƠN tức hòn Kiếm. Có Kiếm
thì phải có Ấn mới đủ đôi.
Truyền
rằng: Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành
sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc vùng phát tướng.
Gương mặt trông sáng rỡ, và việc học hành -
võ cũng như văn - tiến bộ lạ thường.
Thầy học là cụ Giáo Hiến - một người
miền Ngoài, giỏi văn lẫn võ, lại rành khoa tướng
số - trước kia vốn đã có biệt nhãn cùng ba
anh em họ Nguyễn, nay thấy thần sắc, biết vận
trời đã đến, bèn đem câu sấm "Tây khởi
nghĩa, Bắc thu công" ra khuyên Nguyễn Nhạc vè lo
mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, ba
anh em trở về Kiên thành lo chiêu mộ hào kiệt.
Vùng
đất Tây Sơn xưa kia núi rừng rậm rạp, chuyện
thần linh qủy dữ lan tràn khắp đó đây. Ðể
quy tụ lòng dân, Nguyễn Nhạc bèn lợi dụng óc mê
tín của quần chúng. Hòn Trung sơn ở Phú lạc tuy ở
gần thôn xóm, nhưng ít ai dám lên vì sợ "mả mẹ
chàng Lía", và nhất là sợ cọp. Thỉnh thoảng
Nguyễn Nhạc cho người tâm phúc lên núi, nủa
đêm nổi trống nổi chiêng. Người chung quanh
vùng kẻ cho rằng hồn chàng Lía về cúng mẹ,
người lại bảo đó là quỉ thần mở hội
vui. Kẻ bàn người tán, không mấy lúc tiếng bay tận
ngàn xa, một thành mười, mười thành trăm...
Hòn Trung sơn từ xưa đã có tiếng càng thêm nổi
tiếng.
Một
hôm, nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông
đúc. Cỗ bàn vừa ăn xong thì trời đã khuya. Những
người ở xa đều phải nghỉ lại, còn
người trong xóm thì lục tục ra về. Bỗng trên
Trung sơn, tiếng trống chiêng vang dội, và trong bóng
cây trên đỉnh, ánh lửa lập loè. Ai nấy đều
kinh dị. Nguyễn Nhạc rủ người lên xem thử
"quỉ thần làm trò gì". Phần đông đều
e ngại. Chỉ bốn năm tay lực sĩ xin theo.
Nai
nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm,
đoàn người lần bước lên đỉnh Trung
sơn. Khi gần đến đỉnh, trong ánh lửa mập
mờ hiện ra một ông lão râu ba chòm bạc phếu,
đầu đội mũ cánh chuồn, mình khoác áo đại
bào, chân đi hia..., bộ dạng giống hệt một
ông lão văn trong các vở tuồng hát bội. Ai nấy ớn
lạnh vì sợ, và không ai bảo ai, mọi người
đều dừng lại một lượt. Ông lão cất
tiếng bảo: Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc
chăng? Nếu có thì hãy lại gần đây nghe lệnh. Còn
các người khác hãy đứng yên. Nguyễn Nhạc run sợ
bước ra, đến quì trước mặt ông lão. Ông
lão phất tay áo, lấy ra một tờ chiếu rồi
đọc lớn: Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc
vi Quốc vương.
Ðoạn
trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước
đi vào trong bóng tối. Từ ấy tiếng đồn
khắp nơi, và ngôi Quốc vương của Nguyễn
Nhạc nằm vững trong tâm trí quần chúng. Trong đám
sĩ phu, trừ cụ giáo Hiến, không mấy ai biết
đó là kế của Nguyễn Nhạc.
Chưa lấy làm đủ, Nguyễn Nhạc
còn tìm một thanh bảo kiếm và đúc một quả ấn
vàng, rồi đem dấu trong vùng núi Trinh tường.
Một
hôm cùng bộ hạ ở An khê về, đến Hoành sơn
thì ngựa của Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng
cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy
trẽ ra hướng bắc để qua sông về Kiên
thành, lại chạy vào hướng đông nam. Ðến chân
núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt,
Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy
nổi. Ðám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới
đỡ. Khi đứng dậy để lên ngựa trở
về, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra
nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên lấy
thì là một thanh kiếm xưa lưỡi sáng như
nước. Ai nấy đều mừng là "của trời
ban".
Về
nhà Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và thuộc hạ: Ngọc
Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc vương, lẽ tất
nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi,
ta phải đi tìm ấn. Ðoạn tổ chức ngay lễ
cầu đảo tại chân núi Hoành sơn. Cầu đảo
ba đêm ngày. Ðêm làm lễ, ngày cho người đi tìm khắp
nơi. Ðã hai ngày liền, hàng trăm người chia nhau
đi khắp các núi khe quanh Hoành sơn, mà không có kết qủa.
Ðêm thứ ba, lúc nửa đêm chiêng trống hành lễ vừa
dứt, thì một vòi lửa như pháo thăng thiên bay xẹt
từ hòn Một đến hòn Giải thì rơi xuống.
Tiếp đó một tiếng nổ nhỏ như tiếng
pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ
dội làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều
thất kinh. Sáng sớm Nguyễn Nhạc đem người
đến hòn giải xem, thì thấy sườn phía nam có một
vùng như bị sét đánh lở và nám đen. Trèo lên xem thì
một quả ấn vàng nằm trong kẽ đá tại
nơi bị lở. Ai nấy đều tin là "ấn trời
ban".
Sau
khi dụ được người Thượng các sóc
theo mình, Nguyễn Nhạc dùng rừng Mộ điểu làm
căn cứ quân sự. Dinh trại đóng trên núi. Ðể lấy
lương thực nuôi quân, cho phá rừng làm ruộng. Công
việc khai khẩn, tiếp đến công việc canh tác
và thu hoạch đều do cô Hầu đảm
đương.
Khi
Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế ở Ðồ Bàn, cô Hầu
vẫn ở nhà khai thác đồng lúa. Do đó đồng
mệnh danh là đồng Cô Hầu. Và ngọn núi coi như
là nơi phát tích nhà Tây Sơn nên được tôn xưng
là núi HOÀNG ÐẾ. Khi mới khởi sự, binh lính của
nhà Tây Sơn phần đông đều là người
Thượng. Những người Thượng mộ
được ở vùng An khê (An túc hiện thời)
trước hết đều dồn về căn cứ
Mộ Ðiểu tập luyện trong ít lâu rồi mới
đưa xuống núi Ông Bình, Ông Nhạc ở dưới
đèo An khê để khép vào hàng ngũ và huấn luyện
thêm.