|
|
||
|
Sầu Đông
Trước
thềm năm mới Ất Dậu xin chân thành gởi lời Chúc
Mừng Xuân Mới đến toàn thể bạn đọc
xa gần, xin gởi đến quí vị cùng quí quyến
lời chúc Sức Khoẻ, An
B́nh, Thịnh Vượng .
Đầu năm mới xin được
hầu chuyện gà cùng quí vị.
Gà là loài vật đă cùng
hiện diện với loài người trên trái đất
này từ nhiều thiên niên kỷ. Nguồn gốc giống
gà, việc phân bố gà trên thế giới, sinh học về
gà, cùng các khiá cạnh kinh tế , kỹ thuật của kỹ nghệ nuôi gà đă
được nhiều nhà khảo cổ , nhân chủng, và
nhất là những nhà khoa học hiện nay nghiên cứu
khá tường tận.
Nhưng như những loài vật c̣n in đậm
dấu ấn t́nh cảm trên đời sống con
người, được loài người thuần hoá
rất sớm như chó, mèo, trâu, ḅ, lừa, ngựa,… ta c̣n
thấy rất nhiều h́nh ảnh thật dễ
thương của những chú gà con, những trống,
những mái thật đẹp của loài gia cầm
ấy trong thơ, văn,
nhạc, họa: từ chú gà độc nhỡn trong
truyện của Tô Hoài đến
chú gà trống gô-loa (gaulois) đỏm đáng của
nước Pháp, từ gà mẹ chăm chút đàn con trong
tranh gà làng Đông Hồ cho đến những chị gà
mượt mà, hàng năm đẻ trên, dưới 300
trứng trong những hội chợ gà ở nhiều
nơi trên thế giới.
Trong những gia đ́nh
Việt Nam, vào những dịp giỗ chạp, ma chay,
lễ tết chắc chắn không thể thiếu một điă
gà cúng nguyên con được trưng bày cẩn thận
trên bàn thờ gia tiên, hoặc những món gà hấp dẫn
trên bàn, hay trên chiếu tiệc.
1. Nguồn Gốc
Giống Gà và Phân Bố Gà trên Thế Giới
Giống
gà nuôi hiện nay tên khoa học
là Gallus Domesticus, thuộc họ Phasianidae, có
lịch sử lâu dài hàng chục ngàn năm. Charles Darwin ông tổ của
học thuyết tiến hoá, khi quan sát con gà rừng màu đỏ
( Red Jungle Fowl ) ở Đông Nam Á đă xác định nó là
tằng tổ của những con gà trong sân gà ngày nay. Một vài nhà khảo cổ cho
rằng gà đă được thuần hoá vào khoảng ba
ngàn năm trước Công Nguyên.
Nh́n chung các nhà nghiên cứu
về gà cho rằng giống gà được phát hiện
sớm nhất ở Ấn độ, Trung hoa, và Đông Nam
Á. Ở Ai Cập và quanh vùng
Địa Trung Hải gà cũng đă xuất hiện từ
lâu đời. Ba giống Brahma,
Cochin, và Langshan là những ṇi gà
Châu Á quan trọng nhất. Từ thế kỷ
thứ mười lăm những giống gà Châu Á đă
phối giống khá nhiều với những giống Châu
Âu. Hiện nay ta chưa có
chứng cứ vững chắc nào về việc thuần
hoá gà đă bắt đầu sớm sủa nhất ở
Châu Á hay không, trừ trường hợp gà chọi
xuất phát từ Ấn, Ja-va, Mă-lai.
Ở
khắp những đảo rải rác trên Thái B́nh
Dương, nơi nào có người, nơi ấy có
gà. Thuyền trưởng Cook
trong chuyến hải hành đă ghi nhận “ tiếng gù gù
thú vị trong rừng cây, và tiếng gáy vang lừng trên
những cây ăn trái.” Ở Tahiti,
người ta kể cho các thủy thủ của Cook
là thần Taarva đă tạo ra người và gà
cùng một lúc. Ở Hawaii,
du khách được nghe kể là giữa trời nước
bao la “ một con chim cực lớn đă xà xuống
mặt nước, đẻ trứng, trứng nở
thành đảo Hawaii.”
Về
sự hiện diện của giống gà ở Châu Mỹ
các nhà nhân chủng học đă tranh căi kịch liệt
về việc gà đă có mặt trên châu lục này
trước khi Kha Luân Bố ( Colombus) đến đó
, hay là do người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem tới
sau này, khi nhà thám hiểm Vicente Yánez Pinzón đến
duyên hải phiá đông của Ba-Tây ( Brazil ) vào năm
1500.
Khi người Tây Ban Nha đến chinh
phục Mễ Tây Cơ , dân Incas đă rất quen
thuộc với con gà; tên
của hoàng đế Inca cuối cùng là Atahualpa -
tên gọi con gà của người Quechua. Trong nhiều bộ lạc
của thổ dân da đỏ ở Nam Mỹ, gà và
trứng đă được dùng rộng răi vào mục đích
tôn giáo và nghi lễ.
Chúng ta
cũng biết người Hy Lạp và La Mă cổ thời
đă từng dùng gà vào việc tế tự. Điều này
cũng đúng với các dân tộc sống ở Châu Á, đặc
biệt ở Nam Trung Hoa và
Đông Nam Á. Việc thần hoá
gà hiện vẫn c̣n lưu truyền trong nhiều bộ
lạc ở Thái, và ở Cam-pu-chi-a. Với họ gà trống là con vật linh thiêng,
một ‘đồng thiếp’
của các thần.
Những
người theo Ấn Độ Giáo Chính Thống ( Orthodox
Hindus) nằm trong số hiếm hoi những
người coi gà là những con vật kinh tởm mà ta
ngờ bắt nguồn từ hai lư do: việc những đối
thủ của họ là người Hồi rất
chuộng những con vật này, và thêm vào đó là nhiều
nơi trên đất Ấn, gà ăn cả phân
người.
Cho đến nay gà được
ghi nhận đă xuất hiện ở Trung Hoa từ đời
nhà Thương ( khoảng 1520-1030 trước CN) và là
một trong những thực phẩm chính dùng trong nghệ
thuật ẩm thực trung hoa.
Trung Hoa cũng nổi tiếng là nơi mà kỹ
thuật ấp trứng và nuôi gà từng đàn lớn đă
đạt rất sớm đến mức tinh tế. Trứng sản xuất hàng
loạt là một mặt hàng xuất cảng của Trung
Hoa từ nhiều thế kỷ trước CN, và
người Trung Hoa đă hoàn thiện những
phương pháp bảo quản cũng như chuyển
vận trứng trước các nước khác rất
xa. Ở những nước
chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như
Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Măn Châu, Tây Tạng,
gà và trứng đều là những nguồn thực
phẩm quan trọng, và được dùng nhiều trong
cúng tế. Ở Ấn cũng như nhiều nước
ở Trung Đông, gà và trứng là thực phẩm chủ
yếu trong đời sống hàng ngày . Người Do Thái,
theo kinh Talmud, mang một gà trống và một gà mái đến
trước cô dâu, chú rể trong đám cưới, họ
khấn ‘‘ hăy sinh con đàn, cháu đống như gà. ’’
Tuy nhiên ở một vài nơi vẫn c̣n tồn
tại những thiên kiến đối với thịt và
trứng gà. Nguồn gốc của việc tránh không ăn
thịt và trứng gà ta thấy rải rác nơi một
số bộ tộc ở nhiều nơi trên thế
giới, như nơi người Walamo ở Ethiopia,
người Uzinza ở Uganda, Hanzaga ở Burundi,
người Azande ở Sudan ( Châu Phi) ,
người Vedda ở Tích Lan (Ceylan ) bắt
nguồn ở tin tưởng rằng gà là một loài
vật thiêng liêng, thứ đến là mối lo ngại
về tính dục nơi những xă hội mà vai tṛ nam
giới là vai tṛ thống trị, đặc biệt đối
với việc tin rằng phụ nữ ăn trứng có
thể tăng cường mạnh mẽ khả năng
khoái lạc của họ và do đó có ảnh hưởng
xấu đến đời sống gia đ́nh.
Trong
nhiều thập niên gần đây, nhiều quốc gia có
kỹ nghệ nuôi gà phát triển như Hoa Kỳ và một
số các nước Châu Âu đă
bằng nhiều cố gắng, đặc biệt qua LHQ, quảng bá những kỹ
thuật chăn nuôi, và qua đó cải thiện mức dinh
dưỡng trong dân chúng những nước đang phát
triển. Ở khắp
nơi trên thế giới ta có thể nói không ngoa “ Nơi
nào có người, nơi đó có gà”. Nhưng sự lạm dụng quá mức các
chất kích thích tăng trưởng, các loại thuốc
kháng sinh, vấn đề
vệ sinh và diện tích trại nuôi, cũng như không gian
sống dành cho các loại gia súc, gia cầm, đặc
biệt là gà đă dẫn đến những nguy cơ
lớn đối với sinh hoạt và đời sống
con người, điển h́nh là dịch cúm gà bộc phát
liên tục trong hai, ba năm trở lại đây, khiến
gà chết hàng loạt và số gà bị thiêu hủy lên
tới hàng triệu, hàng chục triệu con ở những
nước chuyên nuôi gà kỹ nghệ.
2. Kỹ Nghệ Nuôi Gà
Người ta nuôi gà để
lấy thịt và trứng. Trong tất cả các loài có lông vũ,
gà là loài có số lượng lớn nhất trên thế
giới hiện nay.Thịt và trứng gà là nguồn cung
cấp dồi dào chất protein cho cơ thể chúng
ta. Thịt gà tương đối ít mỡ hơn
nhiều loại thịt khác, nhưng trứng gà chứa
rất nhiều chất cholesterol. Như chúng ta đều biết, lượng cholesterol
nhiều trong cơ thể người là một nguy cơ
dẫn đến bệnh tim mạch. Nuôi gà lấy
thịt và trứng là một kỹ nghệ lớn ở
nhiều quốc gia kể cả Úc, Canada ; trong vùng
Đông Nam Á, Thái Lan là nước có kỹ nghệ nuôi gà vào hàng
thứ tư trên thế giới.
Cũng có người nuôi
gà làm cảnh. Họ chọn
vóc dáng gà, màu sắc, cách phối trí màu lông,…và hàng năm
tổ chức những cuộc thi tuyển ‘hoa hậu gà’
và ‘ lực sĩ gà đẹp’.
Lông gà có nhiều công dụng, ngoài công dụng trang trí,
lông gà c̣n dùng làm quạt tay, làm mồi giả nhử cá. Gà cũng c̣n được dùng
trong nghiên cứu khoa học.
Trứng gà được dùng chế tạo trong
nhiều vaccin dành cho người và thú vật.
Gà
trưởng thành trung b́nh nặng từ nửa kg đến
khoảng 5kg, tùy giống. Lông vũ giúp bảo vệ thân
nhiệt của gà trong mùa lạnh.
Gà có mào và b́u nhỏ dưới mỏ. Gà mái đến tuổi đẻ
( khoảng 5, 6 tháng tuổi) đẻ đều đặn
nhiều trứng. Có loại đẻ
đến gần 300 trứng mỗi năm. Trứng ở nhiều trại
gà kỹ nghệ được thu hoạch bằng
máy. Trứng chạy trên dây
chuyền qua những đèn đặc biệt để công
nhân lựa những trứng lành, không bị nứt, bể
, rồi phân loại lớn nhỏ cho vào vỉ. Gà thịt (ở Mỹ gọi là
broiler) phần lớn đem làm thịt ở 7
tuần tuổi, vào lúc trọng lượng đạt
khoảng 2kg. Gà trống
nặng trung b́nh từ khoảng 2,7kg đến 3,6kg ở
vào tuần tuổi thứ 10.
Loại gọi là gà đồng (fowl ) được
nuôi trên một năm rồi mới thịt.
Ở Châu
Âu từ thế kỷ thứ mười tám nhiều gịng
gà đă phát triển ổn định nhưng cũng trong
thế kỷ này việc du nhập những gịng gà lớn
con Châu Á đă gây nên những cơn sốt nhập
những loại gà mà ban đầu họ đặt tên đơn
giản là gà ‘Thượng Hải’, hoặc gà ‘ Chittagoong ’ ( sau có tên chính thức là Cochin,
thấy nhiều trong vùng Đông Nam Á). Ở Mỹ một hiện tượng vô cùng
ngoạn mục là Hội
Chợ Gia Cầm Boston, do tiến sĩ John C.
Bennett đứng ra tổ
chức vào ngày 14 tháng mười một, năm 1849. Trên mười ngàn người đă
tham dự cuộc triển lăm này, xem xét 1,023 con thuộc đủ
giống, loại gà. Vào giai đoạn
này, gà đă xuất hiện trên trường giao lưu
quốc tế: người ta mua bán, đổi chác, t́m
mọi cách quảng cáo, tâng bốc những giống gà
xuất sắc của ḿnh.
Bác sĩ, luật sư, cả đến những
mục sư cũng dẫn đầu trong chăn nuôi và
tŕnh diễn gà.
Mục sư Edmund Saul Dixon là người viết cuốn
sách nổi tiếng Khảo
Về Lịch Sử và Quản Trị Gà Nuôi Thịt và Gà
Cảnh (Treatise of the History and Management of the Ornemental and
Domestic Fowl ) in vào năm 1849, cùng năm với cuộc đấu
xảo gà ở Birmingham.
Theo Dixon con gà Thượng Hải có lẽ là con
gà thượng thặng nhất trần gian, xứng đáng
cặp với bất cứ chị gà nào trên thế
giới. ‘Hắn’ ta quả là dân ‘quí phái ’. Mượn
lời của một người rất ngoan đạo
là Isaac Walton “ Đức Chúa Trời có
lẽ đă có thể tạo ra một giống cá tốt
hơn cả cá hồi, nhưng Ngài đă không làm chuyện
ấy ’’, Dixon
viết ‘‘ con gà Thượng Hải
rặt gịng của chúng ta cũng vậy ’’ . Những gà thuộc gịng Châu Á
như Cochin, Brahma, Malay, Cochin China (đất Nam
Kỳ xưa) phối giống với những giống địa
phương như Polish, Hamburg, Dorking,… đă tạo
ra những gịng gà mới đắt giá. Những gà trúng giải nhiều con giá lên tới
hàng ngàn bảng Anh. Dixon
không tin là có thể phát triển nuôi gà trên qui mô lớn v́ Dixon
đă chứng kiến những dịch bệnh làm chết
gà hàng loạt. Nhưng ở Mỹ, dù Dixon được
xem là một tác giả quan trọng, tâm lư thực dụng
và mối lợi lớn do việc chăn nuôi gà đem
lại đă thúc đẩy mọi giới nỗ lực
cải tiến kỹ thuật chăn nuôi. Trên đất Mỹ dần
dần h́nh thành những trang trại nuôi gà qui mô rất
lớn, từ vài chục ngàn con đến hàng trăm ngàn
con. Những trại nuôi gà
lớn thường tập trung ở một số
tiểu bang như ở New Jersey, Delaware, Pennsylvania, Texas. Ngày nay thịt gà là món ăn
rất b́nh dân của dân chúng nhiều nước Tây Âu và
Bắc Mỹ. Việc
Việt kiều về nước khoe ăn một ngày
từ một đến hai con gà nướng không phải
là chuyện phóng đại của kẻ từ xa trở
về.
Một vài giống gà khá
quen thuộc với người Việt là gà tàu vàng
thường thấy nuôi thả ngoài vườn ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long, con trống nặng trung b́nh
khoảng 2,5-2,8kg , con mái khoảng từ 1,8 - 2kg, cổ to,
chân to, lông màu vàng tươi, biết ấp và nuôi con,
thịt rất ngon. Gà ác,
dễ nuôi, cũng thường được nuôi trong
nhiều gia đ́nh. Gà có lông trắng, mỏ đen, chân ch́,
da ,thịt, xương màu đen, thịt thơm ngon, được
coi là món tăng lực đại bổ. Nuôi sau 4 tuần gà nặng
khoảng 200g, tỉ lệ nuôi sống khoảng 96%-98%.
Một
vài loại gà mới được nhập nội từ
Trung Quốc như gà Tam Hoàng , lông và chân màu vàng, mỏ vàng, đuôi
có lẫn lông đen, thân ngắn, lưng bằng, đùi to,
4 tháng nặng 2kg, thịt thơm ngon, tỉ lệ nuôi
sống tới 95% ( theo một bản tin Nông Nghiệp và
Nông Thôn, Vĩnh Long ). Gà
Lương Phượng cũng nhập từ TQ; lông
cổ, cánh, thân màu vàng sậm, tăng trưởng nhanh
hơn gà Tam Hoàng, kháng bệnh tốt, nuôi 3 đến 3
tháng rưỡi đạt 2kg; thức ăn cứ 2,2 -
2,5kg cho 1kg thịt, đẻ vào tuần lễ thứ 24.
Ngoài ra VN cũng đă du nhập nhiều giống gà năng
suất cao từ Châu Âu và Mỹ như ISA Brown (
từ Pháp) chuyên đẻ trứng, lông màu nâu lợt,
nhỏ con, nuôi 5 tháng đạt 1,6 –1,7kg, trung b́nh một mái
đẻ 289 trứng/năm.
Một số giống gà đă từng nhập từ
Mỹ vào Miền Nam
trước đây như Plymouth Rock là loại gà vừa cho trứng,
vừa cho thịt rất được ưa chuộng, Rhode
Island Red , lông màu nâu, đẻ nhiều, kháng bệnh
tốt nay cũng đă được nhập trở
lại. Ngoài ra ta c̣n có thể
kể thêm một vài loại gà nổi tiếng khác như New
Hampshire, Delaware.
3. Thú chơi gà đá
Ngồn
gốc của tṛ chơi đá gà cũng xa xưa như
việc thuần hoá gà rừng thành gà nuôi thả sống
gần con người trong những bộ tộc
xưa. Theo những nhà nghiên
cứu về gà, Gà Rừng Đỏ xứ Ấn Độ ( Red
Jungle Fowl of India) và Gà Rừng Xám xứ Mă Lai ( Grey Jungle
Fowl of Malaya) là tằng tổ của những ṇi gà đá
hiện thời.
Vào
thế kỷ thứ tư trước CN khi lần đầu
tiên ta thấy người Hy Lạp đề cập
tới con gà chọi, có phần chắc khi ấy gà
chọi đă hiện diện ở Ấn Độ và Đông Nam
Á. Người ta kể là
ở Hy Lạp viên tướng Themistocles, một
dũng tướng người Athenes đă đưa
tṛ đá gà thành môn thể thao quốc gia. Khi Themistocles
xua quân vào vùng Ba Tư ( nay là Iran ), ông ta thấy hai con
gà đá nhau, ông đă cho đạo binh dừng lại và
chỉ dụ cho binh đội như sau “ Trông đây, những gà này
không chiến đấu cho các vị thần trong nhà
của chúng, cho những đền đài của tổ
tiên, cho vinh quang, cho tự do, hay cho an toàn của con cái chúng,
nhưng chỉ v́ không con nào chịu nhường con
nào.” Bị khích động
như thế, binh đội Hy Lạp đă đè bẹp
binh đội Ba Tư.
Mới chỉ bị ‘
khích tướng’, ‘chiến
tranh tâm lư ’ tí tỉnh mà quân lính Hy Lạp đă hăm
hở xung trận, đâu kể ǵ chuyện lư tưởng
xa vời. Sau đó tướng Caelius đă cho
thực hiện những trận đấu gà hàng năm
tại trường đấu gà ở thành phố Perganum. Người ta buộc thanh niên đến
dự để học bài học về sự can đảm
và học cả bài học về sức chịu đựng
dẫu có phải chết chăng nữa. Ngay từ thời kỳ ấy,
người ta đă biết buộc những thanh kim
loại vào cẳng gà, và gà được
huấn luyện như những giác đấu. Cũng theo
truyền thuyết Hy Lạp, Hermes là thần về
thương mại và giao thương, nhưng cũng là
thần của bọn ăn cắp, cờ bạc, hùng
biện và tranh tài thể thao. Vóc dáng hùng dũng của gà
chọi, tiếng gáy ‘hùng hồn’ của nó khiến nó
biến thành h́nh ảnh tượng trưng của
thần Hermes. Trong
nhiều yếu tố văn hoá của người La Mă,
họ đă thừa hưởng máu đam mê của
người Hy Lạp. Đấu
gà cũng là biểu tượng của người xưa
không chịu khuất thân sống đời nô lệ. Sau này trong nhiều nghi thức và
trong nhiều ẩn dụ, ta thấy rất nhiều h́nh
tượng các trận đấu gà. Những trận đấu gà trong những
thế kỷ sau phổ biến khắp nơi ở
những vương quốc Châu Âu đến mức Giáo
Hội phải t́m mọi cách ngăn chặn, v́ những
kích thích dă man của những trận ấy..
Ở
Ấn, Bán Đảo Mă Lai, Thái Lan, Việt Nam, Cam-pu-chi-a, Lào,
cho đến tận những vùng ở Bắc Phi không
nơi nào ta không thấy có những trận đá gà.
Ở
Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân cũng như ở
nhiều nước Á Châu khác tṛ đá gà ở nhiều
nơi đă biến thành tṛ cờ bạc rất thịnh
hành. Trong thời gian vài năm
trở lại đây, ở ngoại thành Hà Nội, xuôi theo
đường Giải Phóng, qua hồ Yên Sở, cách
cầu phao Khuyến Lương khoảng 1km là một
sới gà (đấu trường) qui tụ hầu
hết dân có máu mặt ở khắp các tỉnh miền
Bắc như Bắc Ninh, Hải Pḥng, Nam Định,…Mỗi
sới gà lại có nhiều ‘sàn’ gà, mỗi sàn qui tụ vài
chục tay chơi . Chủ gà
nh́n gà ṇi của ḿnh lâm trận, kẻ th́ nghiến răng
trèo trẹo, cổ bạnh ra, mặt đỏ tiá, kẻ
th́ mặt tṛn vành vạnh, lúc hồng, lúc tái, lúc đờ đẫn. Ở những sàn đấu gà
những ‘ biện gà’ luôn miệng ra giá 2 ăn 1 ( 200ngàn ăn
1triệu), 4 ăn 2,…Có nơi chưa đầy ba tiếng
đồng hồ tiền cá độ lên tới cả 100
triệu đồng. Chủ
gà cho gà ăn tỏi, phun rượu ngâm gừng lên ḿnh gà,
xoa bóp cẳng, thân,…chăm sóc gà như ông bầu và huấn
luyện viên chăm sóc các vơ sĩ quyền anh. Tàn trận đấu
‘kẻ’
bại trận có con chỉ c̣n màng da dính vào cổ, máu
ướt đẫm lông trên khắp thân ḿnh; có con rũ
cánh, gục đầu, mắt nhắm nghiền, thoi thóp
thở vào những giây cuối cùng của đời gà;
‘kẻ’
chiến thắng cũng vấy máu trên đầu, trên
cổ, trên cánh, nhưng vẫn oai dũng ưỡn
ngực, vươn cánh gáy.
Chủ gà thắng ôm gà của ḿnh vuốt ve, hôn hít;
chủ gà bại mặt tiu nghỉu như chó cụp
tai. Và sau đó là màn chung
tiền qua trung gian của trọng tài.
Ở Phi
Luật tân, một chuyện khó tin nhưng có thật đă
xảy ra ở một sới gà vùng Zamboanga vào một
dịp đầu năm 2004.
Chủ gà sau khi gá bộ cựa sắt sắc như
dao cạo dài chừng 5cm vào chân con gà cưng của ḿnh th́
bất ngờ gà vuột khỏi tay chủ. Thay v́ lao vào đối thủ gà đă
lao như sét đánh vào giữa đùi của chủ,
cặp cựa sắc như dao làm rách toang ống quần đùi
và làm đứt luôn một vài động mạch
chủ. Chủ gà đă trút
linh hồn trên đường tới bịnh viện.
Giải thưởng hôm ấy có tên Giải Thưởng
Darwin.
Một
viên tướng thời đệ nhị cộng hoà ở
Miền Nam xưa là tay chơi nổi tiếng về
cả hai tṛ đá gà : gà chọi trên các ‘sới’ gà, lẫn
‘gà-chọi’ trên giường.
Mới đây ‘ chú gà’ này
đă lại lên tiếng ‘gáy’ khi về thăm VN. Đó cũng là một chú gà ưa
gáy, tuy tiếng gáy khiến nhiều người nghe khó
chịu lắm.
4. Khi Các
Triết Gia và Những Nhà Khoa Học Xưa Bàn Về Gà
Aristotle có
lẽ là sinh viên đầu tiên nghiên cứu về gà
cũng như về nhiều khiá cạnh khác của
thế giới tự nhiên và con người. Trong hầu hết những lănh
vực nghiên cứu, với các triết gia trong những
thời đại kế tiếp, những quan sát của Aristotle
về gà được coi là sự thật khó ḷng phản
bác. Aristotle là
người có vinh dự thực hiện thí nghiệm đầu
tiên trong ngành phôi thai học bằng cách tách mỗi ngày
một trứng trong ổ gà ấp và đă mô tả sự
phát triển của phôi.
Khi Alcibiades hỏi Socrates
tại sao ông không chịu tống cổ bà vợ đanh đá
đi ( cũng chính cái bà vợ lắm điều nổi
tiếng ấy v́ tính t́nh khó chịu của bà khiến ông
thành người ưa triết lư về cuộc đời
) th́ Socrates đă trả lời , cũng hết
sức triết lư : “ tại
sao anh không đuổi lũ gà mái nhà anh ra khỏi nhà
chỉ v́ chúng vỗ cánh phành phạch.’’
Plato, môn đồ
của Socrates, đă định
nghiă người là ‘ ‘ loài hai cẳng không có
lông vũ.’’ Khi Diogenes,
thủ lănh của nhóm Cynics, mang một con gà trống
bị vặt trụi lông đến Học Viện
của Plato và hỏi ‘‘ đây chẳng phải là
‘Người’ của ông sao ’’ th́ Plato đă xét lại định
nghiă: ‘‘ Người là thú hai cẳng không có lông vũ,
nhưng có móng lớn.’’ Mô
tả ấy chả thoả đáng tí nào. Nhiều triết gia sau này t́m cách
bổ sung cho định nghiă ban đầu của Plato
nhưng hầu như chưa ai thành công.
Gà là con vật quan
trọng đối với văn hoá Hy Lạp;
người La Mă c̣n hơn thế: họ mê gà đến độ
tôn sùng. Ở La Mă, gà là
thực phẩm, là loài thú linh thiêng, thuốc, và là cả đề
tài tra vấn triết học nữa. Columella, một tác giả la-tinh viết
về nông nghiệp vào thế kỷ đầu đă dành
chương dài nhất để viết về gà trong
cuốn De re rustica ( Bàn về những vấn đề
thôn dă). Tự điển Oxford Encyclopaedia cho những
thông tin của ông ‘‘chính xác một cách đáng ngạc
nhiên.’’
Varro
( khoảng 116-27 trước CN) là cha đẻ của khoa
lịch sử thiên nhiên của La mă, là một giáo sĩ
của Pompey. Sau này khi Pompey
bị đánh bại, ông về với Caesar, được
phong làm giám đốc thư viện công cộng. Ông
viết đến 620 tác phẩm, và không ngạc nhiên ǵ khi
ta thấy ông đề cập khá nhiều đến De
re rustica của Columella.
Sau Varro, Pliney the Elder ( 23-79 sau CN) bạn của hoàng đế Vespasian
đă viết một công tŕnh bách khoa về lịch sử
thiên nhiên có tên Historiae naturalis là một tập hợp đáng
kinh ngạc giữa thông tin thật, và thông tin méo mó. Cũng như Columella ông ham
mê t́m hiểu gà đến độ sự ṭ ṃ của nhà
khoa học đă khiến ông đến gần ngọn núi
lửa Vesuvius khi ấy đang
phun lửa khiến ông chết ngạt sau đó.
Sau Columella
và Varro mười lăm thế kỷ có Ulisse
Aldrovandi là người đă dày công nghiên cứu về
gà. Trong mười lăm
thế kỷ liên tiếp con gà hầu như đă bị
quên lăng trong cộng đồng uyên bác của phương
Tây. Dưới ảnh
hưởng của Thiên Chúa Giáo người phương
Tây đă từ lănh vực thực hành, phổ quát trong toàn
thế giới La Mă bước qua lănh vực chiêm
nghiệm, khu biệt. Khoa
học - sự quan sát cẩn thận về thế
giới tự nhiên- nhường chỗ cho thần
học, chỉ quan tâm đến những vấn đề
‘rốt
ráo’ như mối quan hệ giữa Thượng Đế và
con người, và những dự kiến về tính
bất tử.
Và như thế, con gà - một trong những sinh
vật trần tục nhất cũng như thực
tế nhất đối với con người- đă
bị bỏ quên.
Ulisse
Androvaldi sinh ở Bologna
vào năm 1522. Hệt
những nhà chuyên t́m hiểu về gà trong một vài
thập niên gần đây, ông là người yêu thích gà, dành
một đời chuyên chú quan sát giống này. Ông đọc
không biết mệt những tác phẩm viết về gà
của những tác giả cổ điển. Những sưu tầm của ông
kéo dài nhiều chục năm, có kèm theo những bức
hoạ của nhiều hoạ sĩ. Nhưng chân giáo sư về lịch sử thiên
nhiên tại Đại Học Bologna không đủ cho
những sở phí của ông trong sưu tầm, nghiên
cứu, và đặc biệt trong việc in bộ Magnum
Opus gồm chín cuốn viết về các loài thú. Năm ông 77 tuổi tác phẩm đầu
tiên của ông mới được xuất bản (1599).
Các sách
của Androvaldi, theo tiêu chuẩn của những nhà
khoa học hiện nay, thuộc loại ‘cưỡi
ngựa xem hoa’, nhưng những quan sát trực tiếp
của ông rất kỹ càng và chính xác. Ông là một nhà điểu học khá hoàn
thiện. Nếu người
đồng hương của ông là Columbus đă đi
ṿng thế giới trên những chuyến hải hành để
đến Tân Thế Giới, ông là người đầu
tiên dành một chỗ đứng vinh dự trong từng bước phát
triển của khoa học hiện đại về gà,
trong khi những truyền thuyết, ngụ ngôn, và cả
những giới có thẩm quyền trước ông về
ngành này đă mất đi quyền lực của họ.
Cho
tới thế kỷ thứ mười sáu các nhà thám hiểm
người Tây Ban Nha đă đưa một vài giống gà
đến Bắc Mỹ, và qua thế kỷ thứ
mười bảy người Anh đến định
cư ở Bắc Mỹ đă đưa những gà có đẳng
cấp của họ đến đây. Từ đầu thế kỷ thứ
mười chín một vài giống gà Mỹ đă được
phát triển qua những hoạt động tích cực
trong giới nghiên cứu khoa học cũng như qua
những công tŕnh quảng bá sau này.
Vào đầu thế kỷ sau, kỹ nghệ nuôi gà đă
rất quan trọng, kỹ thuật nuôi gà được
cải thiện liên tục, và đến giữa thế
kỷ hai mươi gà đă thành sản phẩm chăn
nuôi chính trong nhiều trang trại lớn ở nhiều
quốc gia.
5. Gà trong Văn Chương, Nghệ
Thuật
Truyền thuyết và
chuyện dân gian về gà rất phong phú nếu ta trở
lại với mối quan hệ ta đă biết qua
giữa người và gà trong thế giới cổ Hy
Lạp – La Mă xa xưa. Hai phạm trù ta thường
thấy là những phương ngôn và những ngụ
ngôn. Trong chuyện của Horace,
câu nói “ từ trứng đến táo” chỉ rằng
tiệc của người La Mă bắt đầu bằng
món trứng, hàm nghiă bữa tiệc thịnh soạn. Câu nói “ hắn từ trứng
chui ra” ( He came forth from an egg ) nói về những
người hết sức bảnh trai. Theo truyền thuyết La Mă th́ Castor và Pollux
cũng đẻ từ trứng ra, sau khi cha là Jove
giả dạng làm thiên nga làm t́nh với Leda khiến
nàng đẻ được hai trứng; một trứng
nở ra Castor và Pollux, trứng kia nở ra Helen-thành-Troy. Trong thế giới cổ
xưa, những người giống nhau về ngoại
h́nh hay về tài năng thường được
gọi là từ cùng một trứng mà ra. Ở đây ta có thể thấy
truyền thuyết bà Âu Cơ đẻ 100 trứng nở
ra 100 con là một truyền thuyết cổ của dân
Việt và ta không có lư do ǵ để không thể nói là
từ trong đáy ḷng của chúng ta, 100 người con
ấy dù lên núi, hay xuống biển lại không thể mang
trong ḿnh mầm của t́nh thương yêu, đoàn kết.
Câu tiếng Anh “ gáy như
gà chọi ” ( crowed like a gamerooster ) hẳn không khác câu
ta vẫn thường nói về những anh chàng thích
‘nổ ’ như
“ làm ǵ
mà ‘gáy’ dữ thế. ’’ Ở
Mỹ hai tiếng “ gà mái xanh ” ( blue hen) là tên gọi
diễu tiểu bang Delaware, một tiểu bang có
nhiều trại gà – và ‘gà xanh’ hàm nghĩa nóng tính, hay gây
gổ. “ She’s the blue hen’s chicks ” chắc không xa với câu
tiếng Việt “ Gà mái gáy gà cồ. ” Trên đây là một vài câu tạm dùng để đối
chiếu hai ngôn ngữ. Trong
tiếng Việt những câu có dùng tiếng ‘gà’ khá phong
phú. Để chỉ những
kẻ nhát nhúa, chẳng làm nên tṛ trống ǵ, ta có câu “đồ
gà chết”, hoặc “ gà nuốt giây thun”, hay “ gà mắc
tóc”. Để chỉ những
anh lớn xác, phổi ḅ , ta có “ gà tồ ”.
Khi nghe những người nghịch ư nhau, nói
chỏi lại nhau ta bảo “ ông nói gà, bà nói vịt ”. Kể về lúc gặp chuyện
khiến ta sợ quá, ta nói “ sợ đến nổi da gà
”.
Đặc biệt có một loại gà rất
nhiều người ưa thích là “ gà-móng - đỏ ”; trong hàng ngũ loại
này có loại gà đắt giá - loại thịt mềm,
thơm và ngon, biết nũng nịu mà tiếng Pháp gọi
là “ Poule deluxe ”. Xơi loại gà này phải là
những tay lắm của, nhiều tiền, hoặc
nhiều quyền. Ở nhiều nước đă có
những chính khách thân bại, danh liệt v́ những gà-móng-đỏ
ấy. Bên Anh nhiều năm
trước đây, gà-móng-đỏ
Christine Keeler đă khiến
bộ trưởng quốc pḥng thuộc chánh phủ
bảo thủ Anh là John Profumo bị đo ván trên
giường, rồi sau đó phải từ giă cuộc đấu
trên vơ đài chánh trị.
Thời đệ nhất cộng hoà ở miền nam Việt Nam
xưa, một ‘ dũng tướng ’ (!) đă chết gục
trên bụng gà-móng-đỏ.
Về
hội họa và điêu khắc của Việt Nam, ta
thấy nhiều h́nh ảnh gà lưu truyền trong dân gian. Tranh làng Đông Hồ vẽ gà mái
với đàn gà con là những bức tranh dân gian giàu
chất nghệ thuật. Nổi tiếng nhất phải
kể đến tranh gà, lợn của gịng họ
Nguyễn Đăng ở làng này. Vào những năm cực
thịnh của tranh Đông Hồ ( khoảng đầu
thế kỷ 20 đến 1930) ta thấy lối bỏ
mầu đặc biệt của nhà này: những bức
tranh trên giấy dó với màu đỏ cam của son, màu
vàng rực rỡ của hoa hoè, và màu xanh mơn mởn
của lá mạ non, cùng với những đường nét
đen, chắc và khoẻ, của than lá tre bồi hồ.
Trong văn
chương thế giới ta thấy không thiếu
những câu chuyện hấp dẫn về gà, từ
những ngụ ngôn của Ê-dốp ( Aesop) cho đến
những ngụ ngôn của La Fontaine mà nhiều
người trong chúng ta đă được học trong
chương tŕnh trung học; chuyện ‘ Cáo và Gà’ là một điển
h́nh.
Ở VN, Tô Hoài là nhà văn
tuyệt vời của tuổi thơ qua những nhận xét cực kỳ tinh tế
về các loài thú ở làng Nghĩa Đô của ông. Những
truyện ông viết như O Chuột, Quê Người,… là
những tuyệt tác, đă đặt ông vào vị trí
xứng đáng giữa những nhà văn lớn trên
thế giới của thế giới không chỉ dành riêng
cho tuổi thơ. Chàng gà
trống ‘độc nhăn’ trong truyện của Tô Hoài, qua vài
nét phác hoạ, đă trở thành h́nh ảnh sống động
mà người đọc chỉ một lần đọc
đă có thể nhớ suốt một đời.
Bài thơ Chợ
Tết của Đoàn văn
Cừ đăng trên báo Ngày Nay (1938) với những câu
thơ như :
Chùa xóm
làm ngay ở mé ng̣i
Ngày
tết lên chùa cúng gà xôi
Cúng
xong các cụ chia gà béo
Bốn
cụ ngồi bên chia bốn đùi
khiến ta thấy h́nh ảnh dung dị,
chân quê đầy thi vị.
Huy
Cận, cách đây hơn nửa thế kỷ, cũng
từng viết về tiếng gà gáy trong bài Em Về Nhà:
Tới
ngă ba sông nước bốn bề
Nửa
chiều gà lạ gáy bên đê
nghe rơ ra là tiếng ḷng bịn rịn
của một trang thanh niên mới lớn, mới qua
cảnh tiễn người yêu về quê nhà.
Cũng c̣n rất nhiều
nhà văn, nhà thơ Việt Nam khác đă đưa h́nh
ảnh gà vào thơ, vào truyện của ḿnh.
Gần đây thôi,
khoảng trên một chục năm, Vơ Phiến trong bài Gà
Gáy Trong Thơ đă viết “ Đang nhớ nhung mà gà nó
dồn cho mấy tiếng gáy trưa th́ ḷng dạ bấn
loạn, bồn chồn, hết chịu thấu. Gà với người gắn bó
chặt chẽ quá. Cái gắn
bó quấn quít dế với gà, giữa thiên nhiên và con người,…
” Thật t́nh khi đọc câu “ Cái gắn bó quấn quít
dế với gà” ta thấy cái hài hước nhẹ nhàng
của nhà văn trước cuộc gắn bó bội
phần hung hiểm (cho dế) ấy. Cái này chẳng khác lắm cái gắn bó của đảng
với nhân dân!
Ta cũng c̣n có thể
dẫn rất nhiều h́nh ảnh gà, lẫn tiếng gà
trong thơ văn của nhiều nhà thơ, nhà văn VN
khác nữa, nhưng xin được tạm dừng
ở đây để giới thiệu thêm một nét sinh
hoạt văn hoá đẹp đẽ khác.
Ở
nhiều làng, xă Việt Nam thuở xa xưa c̣n tục
lệ thờ thành hoàng. Hàng năm vào mùa xuân, nhất là
vào tháng giêng, nhiều nơi có lệ tổ chức
những hội thi tài trong đó có cả thi gà. Như ở làng Tạ Xá, xưa
có tên là Lường Tè nằm trong một cụm bốn
làng Lường Tè, Lường Bụi, Lường
Lủi, Lường Lau thuộc tổng Lương Xá,
huyện Phù Vân, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Bốn làng thờ chung một
thành hoàng: Trung Thành Đại Vương Thượng Đẳng
Phúc Thần có công giúp Hùng Duệ Vương dẹp
giặc cứu nước.
Ở đây, từ 10 đến 15 tháng 3 âm lịch đều
tổ chức lễ rước thánh về nghè rất
trọng thể. Thi gà
diễn ra trong dịp này. Gà
thi là gà sống thiến, thường nặng từ
2kg-2,5kg. Gà giải nhất ,
nh́, ba được làm thịt tế thần. Làm gà tế thần rất
cầu kỳ, đ̣i hỏi khéo tay cũng như trang trí. Khi cắt tiết không được
nắm chặt đầu, cánh và đùi gà để tránh
khi luộc da gà có những chỗ bầm tím, nom không được
đẹp. Chỗ cắt
tiết dùng dao nhỏ, sắc, nhọn chọc tiết để
khi luộc vết cắt ngậm lại. Nước sôi
vừa sủi tăm để gà khỏi tuột da. Mổ moi gà xong, gan, ḷng, mề được
làm sạch rồi nhồi lại vào bụng gà. Cắt chân gà dưới khớp
để tránh chỗ cắt bị co rút lên khi luộc
chín. Gà được
luộc trong nồi rộng, dùng đũa ngáng sao cho đầu
cổ ngay ngắn và gà nằm ở tư thế tự
nhiên, cánh gà xoè ra trong dáng đang cất cánh bay. Luộc xong, gà được đặt
lên mâm đồng, mồm ngậm một bông hồng
sẵn sàng dâng lên bàn thờ.
Qua
những hội thi vào những dịp lễ, tết
như vậy ư thức về cái ngon, cái đẹp, cái
khéo, cái hài hoà thấm dần vào đời sống dân quê.
Một
kiến trúc có tên độc đáo ở Đà Nẵng là nhà thờ ‘con gà’; đó chính là nhà
thờ lớn Đà Nẵng.
Một người Pháp đă cho đặt một
tượng gà trên tháp chuông nhà thờ này vào năm1923. Từ đó đến nay
nhiều du khách vẫn có thói quen gọi đó là Nhà Thờ
Con Gà. Nhà thờ này là một
công tŕnh kiến trúc phối hợp giữa nghệ
thuật gô-tích ( gothic) và la mă.
Trên đường
từ Huế xuôi Nam c̣n có một làng có tên ‘ Làng Gà’. Một tượng điêu
khắc rất lớn h́nh gà bằng xi măng nằm
ở lối vào làng.
5. Gà trong nghệ thuật ẩm thực
Trừ
một vài trường hợp quá đặc biệt
như với những tín đồ theo Ấn Độ Giáo
Chính Thống, hoặc nơi một vài bộ tộc ở
Châu Phi, gà là một trong những món thịt rất được
ưa chuộng. Với
người Việt, gà là loại thịt được
dùng để chế biến thành nhiều món ăn hấp
dẫn. Đăi tiệc không
thể thiếu món gà. Cúng
giỗ càng không thể thiếu.
Các nhà hàng
ở khắp nơi trên thế giới hầu như không
nhà hàng nào không có món gà. Trong dây chuyền thương mại
Gà Chiên Kentucky ( thương hiệu: ông già KFC ) cũng như trong các hệ thống thức ăn nhanh ( fast food
) khác như Mac Donald, Burger
King, Pizza Hut,… nhiều món gà b́nh dân bán rất chạy
như cánh gà, đùi gà chiên kèm theo nhiều loại
nước ‘xốt’ đặc biệt. Nhưng ăn gà ở những
tiệm fast food dù chuyên biệt như KFC, hay
ở những tiệm thuộc hệ thống nấu theo
lối Á Đông như Manchu Wok, Ho Lee Chau ( thấy ở
Mỹ, Canada) nhiều người không thấy ngon
miệng bằng cơm gà b́nh dân ở nhiều nơi trên
vỉa hè Sàig̣n. Mới đây,
quán ăn Con Gà Pháp ở số 33 đường Lê
Lợi, Nha Trang hănh diện quảng cáo: “ Gà của tiệm
chúng tôi được nấu đặc biệt theo
kiểu Pháp. Chúng tôi dùng toàn
nguyên liệu và dụng cụ nấu ăn đưa
từ Pháp qua. Một con gà
ở tiệm chúng tôi đủ cho bốn người ăn
có kèm theo món ‘ khoai tây chiên’ ( french fries).” Chủ nhân cao lớn, tươi
cười, có dáng dấp của một ‘gà trống gô-loa’ đỏm
đáng giữa những nữ công nhân xinh xắn
người Việt. Thật
ra gà nơi đây ăn không khác gà nướng ở
những chợ như chợ Loblaws ở Toronto,
Canada, và ‘khoai tây chiên’ cũng na ná ‘ french fries ’ của Burger King.
Trong
những cách nấu ăn ( cuisine) nổi tiếng trên
thế giới, cách nấu gà kiểu Trung Hoa, kiểu Pháp,
Ư, Ai Cập và Ma-rốc là những cách nấu được
nhiều giới sành ăn ưa chuộng. Những món gà trung hoa được
nhiều người biết là gà hầm thuốc bắc,
gà xào cải làn, gà xào chua ngọt, gà hấp muối, gà
hấp gừng hành, gà hấp x́ dầu, cơm gà Hải
Nam, cơm gà Triều Châu…Nhiều tiệm ăn trung hoa trên
thực đơn có tới hàng vài chục món gà khác nhau
nhưng về căn bản món hầm dùng một số
vị thường thấy trong thuốc bắc như ư
dĩ, hạt sen, nhăn nhục, táo tầu, thảo quả, hoài sơn,… các
món chiên, xào của lối nấu trung hoa dùng rất
nhiều dầu ăn cũng như nhiều phụ gia
như nước tương, rượu gạo nấu ăn,
tỏi, gừng, quế, hồi, dầu hào, dầu mè
(vừng)…
Những
món gà của người Pháp, người Ư cũng hấp
dẫn thực khách khắp thế giới. Phó mát, dầu
ô-liu, hành, tỏi thường được dùng trong
việc nấu nhiều món gà. Nhập gia tùy tục, dùng
cơm tây cho đúng lệ bộ quả là lỉnh kỉnh
đối với nhiều người Việt chúng ta,
nhất là khi vào nhà hàng, từ áo quần cần phải
mặc cho đến thứ tự chỗ ngồi khi vào bàn, cùng với thứ tự các món ăn, uống:
từ rượu khai vị ( apéritifs), đến món
khai khẩu (entrées), rượu chính trong bữa ăn
( như rượu vang, thường là hai loại
trắng, đỏ với ly dùng riêng cho mỗi loại)
với các món ăn chính ( ḅ, heo, hoặc gà, hoặc hải
sản); sau đó là tráng miệng ( với bánh ngọt, có
khi là kem, trái cây); sau cùng thường là cà phê.
Đi đâu
rồi ta cũng về đến quê nhà. Những món gà kiểu Việt Nam
như gà luộc, gỏi gà, gà hấp lá chanh ( chấm
muối, tiêu, chanh), gà xào xả,
ớt; gà xào gừng, hành; gà xào cải; gà nướng
vỉ (ướp muối, tiêu, tỏi); miến gà, phở
gà, bún thang,… đều là những món ăn lành mạnh không
lạm dụng gia vị, không dùng nhiều chất mỡ,
dầu. Nghệ thuật
nấu ăn chính của người Việt là tôn
trọng vị và mùi thơm nguyên thủy của nguyên
liệu chính dùng trong ăn, uống. Xin mượn câu nói của một người
bạn Canada gốc Pháp trong một buổi tiệc
nhỏ đầu năm: “ Các món ăn việt nam đă được
nêm gia vị một cách hết sức thông thái ( savamment
dosés).” Nghe xong thấy ấm
cả ḷng: lúc ấy qua khung cửa kiếng lớn ở
pḥng ăn nh́n ra một khoảnh đồi trống ,
nắng trong vắt rải trên sườn tuyết,
nhạc cổ điển êm dịu, món ăn ngon,
người cùng ngồi chung biết hoà chuyện và
thưởng thức những món ‘hồn dân tộc’
của ta như gà luộc cắt miếng vuông vức, gà xé
phay, nộm gà, bóng, miến, gị lụa,…khiến ta nhớ
tới câu nói về ăn ngon của nhà thơ Tản Đà. Ta
không ngạc nhiên ǵ khi thấy càng ngày càng nhiều
người trên thế giới biết đến tên
tuổi những món ăn vừa ngon, vừa lành mà ông bà,
tổ tiên đă truyền lại cho chúng ta.
Nhân ngày đầu
xuân, xin mời quí bạn cùng nâng chén.
6. Dịch Cúm
gà
Khoa học đă giúp đưa
kỹ thuật nuôi gà đến những giới hạn
trước đây ta không thể tưởng tượng được:
những trại gà có số lượng gà lên tới vài
chục ngàn con, mức tăng trưởng gà đạt đến
độ tối ưu: chỉ khoảng trên,
dưới 2kg thức ăn để
tăng trọng 1kg gà. Gà nuôi
qua 6 tuần tuổi đă đạt trọng lượng
gần 2kg. Gà mái đẻ hai
trứng một ngày. Người ta dùng các phương pháp
khử trùng khu vực nuôi gà, dùng sinh tố kích thích tăng
trọng, chích ngừa, và dùng trụ sinh trong chăn
nuôi. Trong nhiều chục năm,
tỉ lệ gà sống trong các trại đạt tới
mức 95-98%. Nhưng tiến
bộ khoa học nào cũng có những giới hạn
của nó, và khi loài thú bị khai thác đến mức th́
tai họa bất ngờ dễ dàng xảy đến. Năm
2003 bệnh cúm gà bộc phát trước tiên ở một
vài nước Châu Á; sau đó ngay tại Mỹ , Canada
mà kỹ nghệ nuôi gà phải kể là phát triển vào hàng
đầu thế giới, dịch cũng phát ra ở
nhiều nơi. Ở Úc vào cuối năm 2004 cũng đă
xảy ra dịch cúm gà đến mức báo động.
Vào tháng10,
2004 vừa qua, tại Thái Lan dịch cúm gà xảy ra khiến thủ tướng Thái
Lan đă phải khẩn cấp triệu tập tỉnh
trưởng của 76 tỉnh t́m biện pháp giải
quyết khẩn cấp. Lúc đó, gà bị hủy lên
tới 7 triệu con. Tại Indonesia, gà bị hủy
gần 5 triệu con. Tại VN
số gà phải hủy từ Bắc chí Nam cũng
lên tới trên 3 triệu con. Nhiều người khi đi
ngang những băi đốt, chôn gà, như băi Đông Thạnh,
Hóc Môn, Gia Định vẫn chưa hết bồi hồi;
riêng một xă điển h́nh về chăn nuôi heo, gà,
vịt như xă Long Thới, Nhà Bè trận dịch đă
quét đi gần như sạch sẽ những con thú nuôi
chính của xă, khiến đa số dân trong xă phải lao đao,
khốn khổ. Ở
phường Nguyễn Cư Trinh, Quận Một, Sàig̣n có
người nuôi chim cảnh ư thức được nguy
hiểm của dịch bệnh lây lan từ gia cầm
như ông lăo Tư Vinh, đă ngoài 70 tuổi, tuy không nuôi gà,
cũng đă gạt nước mắt tự nguyện
giao những chim quí hiếm, trong đó có một con họa
mi rất đẹp, hót hay, đă đoạt giải ba
tại Hội Chợ Hoa Xuân.
Virus
cực kỳ nguy hiểm gây bệnh cúm gà là H5N1 ảnh
hưởng tới Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Thái Lan, Đài Loan, Camphuchia, nhưng tổ chức Y Tế
Thế Giới (WHO) cho biết việc phát triển vaccin
ngừa loại virus này chỉ có thể có được
vào khoảng đầu năm Ất Dậu này. Đây có
lẽ là tin mừng lớn cho các nước có nền chăn
nuôi gà kỹ nghệ, đặc biệt ở Châu Á.
Bện
cúm gà lây lan từ gia cầm qua người là nguyên nhân
của dịch bệnh SARS khiến nhiều nước
kinh hoàng. Vùng đại đô
thị Toronto, Canada đă trải qua một mùa
dịch bệnh SARS vào năm 2003 mà người dân nay
vẫn c̣n nhớ và ngán sợ. Các du khách từ Trung
Quốc, Hương Cảng,
Singapore, Đài Loan, Việt Nam đến Canada chịu
kiểm soát hết sức kỹ càng. Mọi biện pháp
pḥng chống cẩn thận đều đă được
chính phủ áp dụng, và dân chúng rất có ư thức tôn
trọng những qui định cũng như những
hướng dẫn của chính phủ đă giúp ngành y
tế Canada khống chế được trận
dịch chết người ghê gớm ấy.
Dịch
cúm gà trong năm qua cũng đă đến viếng
nhiều vùng trên đất Mỹ từ Texas, đến
Delaware, New Jersey và cả Pennsylvania, nhưng virus
gà t́m thấy trên đất Mỹ là loại H5N2,
dạng ‘hiền’
hơn của loại H5N1 ở Châu Á. Ngay khi phát hiện gà Mỹ
bị virus H5N2 ở Delaware, New Jersey khoảng 30
quốc gia đă cấm nhập gà Mỹ.
Ở Canada,
tỉnh bang British Columbia trong năm 2004 đă có trên hai
chục trại gà qui mô lớn ( từ hàng chục ngàn
trở lên) bị nhiễm virus khiến chính phủ
phải lo ngại.
Cũng
cần nhắc lại ở đây là vi khuẩn H5N1
rất nguy hiểm v́ ngoài tác hại gây chết hàng loạt
cho gà, c̣n có thể lây lan từ gà qua người, biến
thái thành dịch cúm sưng phổi cấp tính nơi
người (SARS) . Mới đây ở Thái Lan người
ta c̣n phát hiện lây lan qua mèo, và chó nữa.
Bây
giờ người ta đă dè dặt nhiều về
tương lai rực rỡ của kỹ nghệ nuôi gà do
những cơn băo dịch cúm gà liên tiếp trong hai, ba năm
vừa qua khiến dân chúng nhiều nước , nhất là
giới chăn nuôi gà, rơi vào ṿng khốn đốn. Thời kỳ vàng son của
kỹ nghệ nuôi gà trong thế kỷ trước đă
bắt đầu bước vào một giai đoạn
thử thách đầy chông gai mới.
6. Gà Ảo trong Thời Đại Điện
Tử
Ở
thời đại điện tử người ta không
chỉ gắn những con chíp ( chip ) để theo dơi
sự di chuyển hoặc bệnh trạng nơi một
số loài thú, người ta c̣n tính gắn chíp cho gà. Để kiểm soát đàn gà
chọi đắt giá của ḿnh, lên tới trên 200ngàn con,
Thái Lan đă có dự tính gắn chíp theo dơi sức khoẻ
gà nhằm pḥng ngừa
một trận dịch cúm có thể làm tiêu luôn đàn
gà đắt giá này.
Nói đến chip ta không thể không nói đến
kỹ nghệ điện tử.
Vào năm 1996 con gà ảo Tamagutchi do hăng Banzai
– hăng
sản xuất đồ chơi điện tử lớn
nhất của Nhật Bản đưa vào thị
trường đă lôi cuốn hàng triệu thanh, thiếu
niên. Gà ảo là một
loại gà không ngán bất cứ thứ virus kiểu
H5N1 nào. Gà là một vật
nuôi h́nh trái trứng bắt người nuôi phải chăm
sóc, tắm rửa, và cho ăn cẩn thận; nếu không
gà sẽ ủ rũ, chết toi! Theo lời nhà sản
xuất, nuôi gà ảo tập cho thiếu niên tính siêng năng(?),
có ḷng nhân từ với thú và người chung quanh. Nhưng nhiều học sinh đă
mê tṛ chơi gà ảo đến độ quên cả
học hành!!! Mới đây bà
Kazue, một đại diện của hăng Banzai
c̣n thông báo hăng chuẩn bị đưa ra thị
trường loại gà ảo mới có giới tính rơ ràng (
trống/mái); và gà mái ảo c̣n có thể đẻ trứng
nữa.
Từ con gà ảo Tamagutchi,
đến nay lại thêm thiếu nữ ảo dành cho đàn
ông độc thân ( và ai cấm được cả
những ‘ chàng gà’ đă có vợ, con đùm đề) do Cty
Artificial Life sản xuất.
Giám đốc Shoneberg của hăng này đă anh
dũng phát biểu “ Cô ta có thể làm bất một
chuyện ǵ mà một phụ nữ có thể làm. ” Nếu gà mái ảo có thể đẻ
trứng th́ không chừng người đẹp ảo
cũng có thể sanh con cho bạn (?). Ôi! thời đại điện tử!! Kẻ
viết bài này dám chắc sẽ có rất nhiều bạn đọc
phe liền ông đầu tư vào những thiếu nữ
ảo này cho đến lúc tan thành khói về
với…thế-giới-ảo có thật; ở đó có
bạn có thể sẽ phải đến gơ cửa thánh
Phao-Lồ theo như tin tưởng của những
người TCG.
Một lần nữa kính chúc quí bạn đọc
vạn sự may mắn, tốt lành trong Năm Mới
Ất Dậu này.
Sầu
Đông
Tham khảo:
-
The Hen at Work: A Brief Manuel of Home Poultry Culture,
New York, 1919 ( Cobb, Ernest)
-
The Order of Things: An Archaelogy of the Human Sciences,
New York, 1970 ( Foucault, Michel)
-
“ The Races
of Domestic Fowl” ( National Geographic, April, 1927)
-
Animal in Art and Thought, Cambridge, Mass., 1972 (
Kligender, Francis)
-
The Chicken Book , The University of Georgia Press, 1975 (
Page Smith and Charles Daniel)
- Các bài viết của những
tác giả khác nhau trên báo điện tử Lao Động
(http://www.laodong.com/)
- Các bài viết về
ẩm thực trên Đặc Trưng
- Con Gà Chọi Phản
Chủ
(http://www.truongthi.com.vn/)
- Gắn Vi Mạch Cho
Gà
( http://ww.vnn.vn/khoahoc/tintuc/
- Đá gà ở Hà
thành
(http://us.vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/)
- Cuisine du monde
– The Finest Food from around the World
( http://www.cuisinedumonde.com/)