|
|
||
|
Chæ daån caùch download font VNI mieån
phí ñeå ñoïc Ñaëc san Vieät Voơ Ñaïo: click Chæ daån
QUÊ HƯƠNG TRONG TRÍ NHỚ
NHẠC VƠ TÂY SƠN
THÁI TẨU
Tỉnh
B́nh Định là nơi c̣n giữ được nhiều
bộ môn văn hóa đặc thù như: hát bội, bài cḥi,
vơ thuật và nhạc vơ Tây Sơn. Trong phạm vi bài này, người viết xin lạm bàn
đến môn nhạc vơ Tây Sơn.
TỪ
VĂN MINH TRỐNG ĐỒNG
Bộ
môn văn hóa này, theo dân thoại B́nh Định
gọi là "Nhạc Vơ Tây Sơn" và theo nhạc pháp gọi
là "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ". Ai cũng biết, sắc thái đặc biệt
trong nền văn hóa cổ xưa của người Việt
nổi bật hơn cả là việc dùng trống. Những
cuộc khai quật đă đem đến cho các nhà khảo
cổ cái trống đồng mà đặc trưng hơn
cả là "trống đồng Ngọc Lũ" là chứng
cớ đặc biệt của nền văn minh Việt.
"Tiếng trống từ xưa đến nay đối
với dân tộc Việt Nam vẫn là hiệu lệnh
để thi hành công việc tập đoàn, để báo
hiệu một công việc có quan hệ chung, trống ra
quân, trống ngũ liên, trống thu không, trống cầm
canh... thường ở đ́nh làng nào cũng có cái trống
lớn để báo hiệu, trước khi là một công
việc nghệ thuật từ trống chầu đến
cầm chầu cho con hát. Vậy dụng ư của trống
đồng là đại biểu uy lực của thủ
lănh quần chúng, ban hành mệnh lệnh để rồi
trở nên huy hiệu của mệnh lệnh và trở nên
thiêng liêng, cho đến thời quốc gia độc lập
mới có đền thờ "Đồng Cổ" như
là quốc giáo [1].
V́ vậy,
ta có thể nói rằng việc chế tạo và sử dụng
trống là sở trường của Văn Hoá Việt
Nam, và không có chi là lạ khi ta biết rằng trong thời
Tây Sơn (1788-1802) sắc thái đặc biệt nọ của
văn hóa dân tộc được anh em Nguyễn Nhạc
khai thác đến triệt để, th́ nghệ thuật
chơi trống cũng đưa đến tuyệt đỉnh.

vua Quang Trung
ĐẾN
NHẠC VƠ TÂY SƠN
Nhạc
khí căn bản của nhạc vơ Tây Sơn là một dàn trống
do quân Tây Sơn dùng khi thao diễn quân sĩ tại vơ
trường, khi xuất quân cho khí thế thêm mạnh mẽ,
khi thúc quân lướt tới trận mạc cho mau lẹ,
khi cần hành quân tiến thối nhịp nhàng, khi hăm thành
cho uy thế thêm mănh liệt, hoặc là khi khải hoàn mà reo
mừng thắng trận.
Bộ
trống đúng theo kinh điển gồm
12 cái, mỗi cái mang tên một con giáp của thập nhị
chi: tí, sửu, dần, mẹo, th́n... và khi học nhạc
th́ tên các con giáp này cũng là tên các cung bậc do tiếng trống
phát ra. Đường kính mỗi trống lớn,
nhỏ khác nhau, da bịt trống th́ căng chùng, thẳng
cũng khác nhau nên tiếng trống cao thấp khác nhau.
NGHỆ
THUẬT ĐÁNH TRỐNG
Khi
đánh trống th́ nghệ sĩ dùng roi trống (dùi trống),
có khi bỏ cả roi trống mà chỉ dùng những ngón tay, dùng bàn tay, dùng nắm tay, dùng cùi chỏ...
nghĩa là dùng đủ cả bộ phận của hai
tay. Trường hợp dùng roi trống th́ cứ mỗi nhịp
điệu cử động của ta là ta có thể nghe
được bốn âm thanh phát ra: nơi đầu roi trống
(1), kéo sang đuôi roi trống (2), hạ cùi chỏ xuống
(3), và bật ngửa nắm tay vào mặt
trống (4). Cứ như thế mà hai tay
của nghệ sĩ nhảy múa trên 12 cái trống khi
lơi lả nhẹ nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi
phấn khởi khoan thai. Chỉ có hai cái tay
mà đánh cả một dàn trống 12 cái nên nhạc pháp gọi
là "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ".
Tuy
nhiên, trong trường hợp mà nghệ sĩ vượt
khỏi tầm kinh điển đến bậc siêu thặng
th́ ngoài 12 cái trống đặt ngay trước mặt
để cho hai tay sử dụng theo đúng nhạc pháp
Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ, hăy c̣n đặt
thêm 5 cái trống khác ở phía sau: một cái đặt
ngang nơi đầu để đầu ngả ngửa
húc vào, hai cái đặt ngay hai bên hông cho hai cùi chỏ thúc
vào và c̣n hai cái nữa th́ đặt cho vừa tầm hai gót
chân để đá hậu vào, vị chi là 17 cái trống.
Nghệ sĩ "chơi" nổi 17 cái trống (ông Tám
Ngang) th́ không c̣n nữa, mà trước đây chỉ c̣n có
nghệ sĩ chơi được 12 trống mà thôi. Tuy nhiên, khi nghe xem th́ vẫn thấy là siêu việt.
Trước khi chơi, nghệ sĩ đi một
đường quyền, bái tổ rồi mới bắt
đầu đánh trống và các bản nhạc lần
lượt nổi lên. Nghệ sĩ, điệu bộ
hùng dũng, công lực dồn lên nét mặt, trổ ra hai
tay dồn dập bên 12 cái trống xem như một nghệ
sĩ đang múa đường quyền bên 12 cái trống
kiểu lăng ba vi bộ nên mới gọi là nhạc vơ.
Nghệ sĩ chơi bộ môn này cần phải biết
vơ thuật và khiếu thẩm âm để sự biệu
diễn tăng thêm phần ngoạn mục.
NGHỆ
THUẬT BỊ MAI MỘT
Những năm trước đây, không nghe ai nhắc
đến "Nhạc Vơ Tây Sơn" là v́ một lẽ
dễ hiểu. Thói đời thắng
được th́ là vua mà thua là giặc. Khi nhà Tây
Sơn thất bại, nhà Nguyễn Gia Long chiến thắng,
nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tru di đến nỗi mộ
phần của các Ngài cũng bị quật lên, nghiền
xương tán nhỏ làm thuốc súng bắn xuống biển,
các tôi trung nhà Tây Sơn đều phải mai danh ẩn
tích. Thậm chí đến những cái hay của nhà Tây
Sơn cũng phải dấu đi kẻo để lộ
cho người khác biết được đi báo th́ sẽ
bị tù đày. Do đó mà di tích nhà Tây Sơn đều bị
phá bỏ hết. Đồng bào B́nh Khê
thương nhớ ba Ngài lén lập đền thờ mà bề
ngoài cũng phải ngụy trang là miếu thờ thần.
Ai có thương nhớ giữ được cái ǵ hay của
Ba Ngài th́ để bụng chẳng dám phô trương v́ sợ
chính quyền nhà Nguyễn mà hay được th́ không tránh
khỏi hậu quả khốc hại. Nhạc vơ Tây Sơn
cũng cùng chung cái số phận này.
Tôi
cũng xin phép mở một cái dấu ngoặc tại
đây để nêu lên một lư do thứ hai (Thi sĩ Quách
Tấn cho biết: Ngày xưa, môn vơ thuật B́nh Định
chia làm 4 bộ môn: côn, quyền, kiếm, cổ (trống)
chứ không phải kích. Về môn Cổ th́ vơ
sinh thường treo lủng lẳng ngay hàng, hàng năm, muời
cái trống (loại trống chầu hát bội) để
tập vơ. Vơ sinh sẽ đánh, đá vào
các cái trống ấy. Trống bị sức
mạnh đánh, đá sẽ văng ra xa và nhờ dây treo thối
ngược lại. Lối tập vơ bằng
trống này, một là để tạo những cú đánh
(đấm), đá mạnh, nặng cân hơn; hai là để
tập sự nhanh nhẹn chống đỡ, tránh né.
Nếu ai không tinh mắt lẹ tay th́ chắc
chắn sẽ bị trống thối ngược lại
đập cho vỡ mặt, găy xương.
Lần
về sau, dường như con người mỗi ngày một
yếu dần nên không c̣n ai dám tập vơ bằng trống nữa
mà tập bằng những bao đựng cát hoặc bằng
bưởi, ḅng... Từ đó, danh từ tập
vơ bằng trống không c̣n ai dám nhắc tới v́ nhắc tới
cũng thêm hổ thẹn với người xưa, dần
dà rồi mai một.
Có người bảo Nhạc Vơ Tây Sơn là biến
thể của lối tập vơ bằng trống này. Điều đó không lấy ǵ làm chắc.
Nhưng nếu quả vậy th́ nhà Tây Sơn thật là kỳ
tài đă khéo khai thác từ bộ môn vơ thuật chuyển
sang bộ môn âm nhạc, rồi lại dùng âm nhạc mà giáo
dục vơ thuật, gây không khí hào hứng trong quần chúng,
kích động ḷng hăng say chiến đấu của
các chiến sĩ bằng tiếng trống.
Ngày nay, tại Kampuchia, người ta cũng dùng
trống để tập vơ. Trên vơ
đài Miên mà thiếu tiếng trống th́ vơ sinh không tài nào
biểu diễn được. Xin khép
ngoặc lại.
NHƯNG
CÓ NGƯỜI C̉N GIỮ ĐƯỢC CHÂN TRUYỀN
Nhưng
may thay, vận nước đổi dời, khi thực
dân bị lật đổ, nhà Nguyễn cũng nhào theo th́
chỉ có hai người, một ở B́nh Khê (nay là Tây
Sơn) và một ở Tuy Phước, tỉnh B́nh Định,
c̣n giữ được cái chân truyền ấy và xem
như quốc bảo. Người ở B́nh Khê là ông Tám Ngang,
ông là người sử dụng được 17 cái trống,
ông đem dạy lại cho ba người: hai đứa
con trai ông và một người học tṛ. Đứa con trai
đầu chết, đứa thứ hai th́ năm 1954 ở
trong đoàn văn công của Việt Cộng tập kết
ra Bắc, c̣n lại người học tṛ kia
là nghệ sĩ Tân Phong (tức Nguyễn Phong). Người
ở Tuy Phước tên là ông Bầu Thơm (tức Vơ Đôn)
là một ông bầu hát bội và cũng là một nhạc
sư về loại nhạc hát bội, ông dạy lại một
người học tṛ đó là nghệ sĩ Mười
Thông (tức Hoàng Thông) là một nghệ sĩ hát bội và
một roi trống hát bội có hạng.
Hai
ông thầy v́ tuổi già đă qui tiên c̣n lại hai người
học tṛ trên kia, tuy không phải bậc
siêu đẳng đánh nổi 17 trống, song cũng học
được đúng truyền thống của nhạc
pháp "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ".
Trước năm 1975, ở Phù Cát có anh Nguyễn Việt
cũng tập đánh được 12 trống và ở
B́nh Khê có hai em bé gái (một em 7 tuồi, và một em 12 tuổi)
do đoàn Ca Vơ Nhạc Tây Sơn đào tạo cũng tập
đánh được 5 trống (ngũ âm) xem rất ngộ.
Riêng Tân Phong, anh là một nghệ sĩ chơi thạo các
môn như vẽ vời, ca hát, đờn địch, đắp
tượng, chạm trổ, điêu khắc, viết tuồng,
đóng kịch... Cái ǵ anh cũng thảy làm
được. Nghe đâu anh cũng
đă thất lộc cách đây vài năm. Xin thắp cho anh một nén hương ḷng
thương tiếc một người bạn tài hoa.
GIÓNG
TRỐNG KHẮP NƠI
Trước năm 1975, anh Tân Phong v́ mang nặng một tinh
thần dân tộc nên anh sẵn sàng muốn truyền lại
cho đoàn hậu bối cái quốc túy của văn hóa dân
tộc, anh cũng đă thuận lời mời đi tŕnh
diễn Nhạc Vơ Tây Sơn này nhiều nơi.
Tôi
c̣n nhớ: Ngày 8-11-1967, Hội Văn Hoá B́nh Dân Sài G̣n mời
anh tŕnh diễn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc
và Kịch Nghệ tại Sải G̣n nhân có buổi lễ của
cơ quan UNESCO tổ chức tại trường này.
Ngày
11 và 12-1-1968, tŕnh diễn tại rạp Thống Nhất Sài
G̣n và sân Tinh Vơ Chợ Lớn do ban Quản Trị Điện
Tây Sơn B́nh Khê tổ chức dưới sự giúp đỡ
của Hội Đức Trí Thể Dục SAMIPIC (Société pour
l'Amélioration Moral Intellectuelle et Physique des Indochinois de Cochinchine)
và đoàn thể Vovinam.
Ngày
16-8-1969, tŕnh diễn tại Trung Tâm Văn Hoá B́nh Định tại
Qui Nhơn nhân ngày khánh thành Trung Tâm này có sự chứng kiến
của ông Quốc Vụ Khanh Mai Thọ Truyền, đặc
trách Văn Hoá, ông Đại sứ Đại Hàn Dân Quốc và rất
đông quan khách Việt Hàn Mỹ tham dự.
Ngày
15-3-1970, được phái đoàn điện ảnh Tổng
Cục Chiến Tranh Chính Trị thu h́nh và đă tŕnh chiếu
trên màn ảnh truyền h́nh Việt Nam vào đêm 25-4-1970 tại
Sài G̣n và tại Cần Thơ, Qui Nhơn, Huế vào các
đêm kế tiếp.
Ngày
Nghe
đâu, sau năm 1975, hai em bé ở B́nh Khê mà đoàn Ca Nhạc
Vơ Tây Sơn đào tạo năm nào nay cũng đă mang trống
Tây Sơn đi đánh xứ người, được
nhân dân nhiều nước tán thưởng.
Ngoài ra, hàng năm vào ngày mồng 5 Tết tại điện
Tây Sơn B́nh Khê, tiếng trống kích cảm của môn Nhạc
vơ Tây Sơn đă vang lên mở đầu cho chương
tŕnh tế lễ vua Quang Trung và lễ hội Tết đống
Đa, kỷ niệm trận chiến thắng quân Thanh oanh liệt
nhất trong lịch sử của vua Quang Trung Nguyễn Huệ
vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1979.
Ai có dự xem trên phim ảnh các lối đánh trống
ở nước ngoài đều phải công nhận rằng
nghệ thuật đánh trống của Tây Sơn thật
là kỳ ảo.
Trước năm 1975, ban Phổ biến Nhạc Vơ Tây
Sơn lại c̣n biểu diễn phối hợp giữa Nhạc
vơ Tây Sơn và Vơ thuật B́nh Định bằng cách khi nhạc
vơ nổi lên th́ các vơ sinh nam nữ ở bên ngoài đi những
đường quyền, những đường côn, siêu,
đao... múa, đá, tọa, nhảy nhịp nhàng theo tiếng
trống và đờn, kèn, xụp xơa, mơ phụ họa xem
chẳng khác chi những corps de ballet của Tây
phương.
BÀI
BẢN NHẠC VƠ
V́
mang danh là nhạc vơ nên bài bản phần nhiều cũng
mang tính chất quân sự như bài: Khai Trường, Xuất
Quân, Hành Quân, Hăm Thành, Khải Hoàn.
Nhạc
vơ Tây Sơn, muốn biểu diễn đúng theo truyền
thống và xem cho đẹp mắt th́ trước hết,
đi đầu là bộ phận của chiêng, trống, có
quân hầu, lọng che; theo sau là hai toán quân (mặc áo cạp
nẹp, chân quấn ṿng ve, đầu đội nón dấu,
tay cầm đao, kiếm, côn...) rồi đến giàn Nhạc
Vơ đặt trên một chiếc xe đẩy (Nhạc
trưởng đứng giữa, hai bên là bốn nhạc
công: đờn, kèn, xụp xơa, mơ phụ họa); sau rốt
là vị tướng chỉ huy lẫm liệt trên ḿnh voi
hoặc ngựa.
Bắt đầu biểu diễn, vị
tướng kêu gọi:
Ngoài biên thùy quân thù xâm lấn
Trong nội t́nh đất nước lâm nguy
Phận làm trai sinh tử nẹ chi
Quyết một dạ lên đường cứu quốc!
Nhạc trưởng tiếp theo
Anh em ơi!
(Toàn thể nhạc công) "Dạ"
Lệnh trên đà ban xuống
Phận dưới phải thi hành
Dùng kế mưu kích cổ đa thanh
Địch lầm tưởng hùng binh vạn đội
Đằng trước khởi chinh cổ, giàn
nhạc vơ nổi lên và lần lượt theo
các bài bản do vị tướng chỉ huy.
1.- Bài
Khai Trường
Bài
Khai Trường chỉ dùng để luyện tập quân
sĩ hay chào mừng các vị tướng chỉ huy khi cần
đến diễn vơ trường. Điệu nhạc khoan
thai, hùng dũng.Thuở xưa, mỗi dịp có vị Hoàng
đế hay vị Nguyên soái đến diễn vơ trường
để mở một cuộc diễn vơ, tập vơ hay là
chọn tướng sĩ th́ khi vị ấy bước
vào vơ trường, mỗi xứ có một điệu nhạc
riêng để chào mừng nhà lănh đạo. Riêng
đối với quân Tây Sơn, điệu nhạc đó
là ba hồi trống khai trường. Nhưng mà nhạc
hát bội thường chỉ có hai cái trống căn bản
gọi là "trống âm" và "trống
dương" hay "trống quân" và "trống chiến".
Nếu người ta biết rằng hát bội ngày nay là
do cụ Đào Tấn ở B́nh Định lập thành qui chế,
th́ phép đánh trống của hát bội cũng đánh nhái
theo điệu Khai Trường của Nhạc Vơ Tây
Sơn.
Trống Khai Trường của hát bội phải
đánh đúng ba sách, mỗi sách tám phách. Khi đánh
đúng 24 phách, nhạc sĩ mở ra thành trống chiến
và chờ cho trống quân gióng giáp ba hồi lại 9 tiếng
th́ người trống chiến phải thét theo.
Khi thét xong, nghĩa là khai trường xong th́
nhạc sĩ mở trống ra cho nghệ sĩ ra sân khấu.
Lúc đó th́ người hát hát thứ ǵ, nam, khách hay xuân...
th́ người đánh trống phải đánh theo thứ ấy. Nhưng
thường người đánh trống chỉ được
quyền đánh khi người nghệ sĩ trên sân khấu
đă "thủ" và "vĩ". Nếu người
đánh trống tự ư đánh theo, gọi
là đánh nhái.
Nói
về bài bản của nhạc hát bội th́ có 8 bài kể
từ bài nhịp một đến nhịp tám c̣n âm thanh
hay hoặc dở tùy theo người nhạc
sĩ bắt già hay non mà thôi.
2.- Bài
Xuất Quân
Xuất
quân có nghĩa là đem quân đội ra chiến trường,
nó có nghĩa là khởi hành và bao giờ khởi hành th́
điệu nhạc phải làm sao cho tinh thần chiến sĩ
phấn khởi lên, hăng hái lên và cũng phải gây cho
được trong ḷng mọi người một niềm
tin chiến thắng. Do đó, nhạc xuất quân của
Nhạc Vơ Tây Sơn theo điệu này là
một điệu nhạc hùng, nhịp của nó càng nhặt
làm cho tim mọi người đập càng lúc càng mau, nghe
hăng hái, phấn khởi.
3.- Bài
Hành Quân
Ta
tưởng tượng một đạo quân hùng hậu
đă xuất quân trong t́nh thần tối cao nhưng mà sau một
khúc đường dài chắc hẳn cũng đă thấy
mệt mỏi. Trong lúc ấy vị tướng
chỉ huy chỉ kêu gọi nầng cao tinh thần suông,
chúng ta có cảm tưởng rằng lời kêu gọi ấy
không được đáp ứng. Trái lại, nếu
lời khuyến khích là một lời êm ái, dịu dàng, có vẻ
vui vẻ, có vẻ đùa cợt ... thay v́ đem lời
hùng hồn th́ đem lời an ủi êm
ái, chắc có lẽ kết quả sẽ hay hơn.
Đọc
truyện Tàu, chúng ta c̣n nhớ lúc Quản Di Ngô ngồi trong
cũi để được đưa về nước
Tề th́ thấy các quân khiêng cũi hơi mệt mỏi
nên Quản Di Ngô bèn đặt ra những bài ca, bài hát để
cho quân sĩ đi theo nhịp bài ca mà quên mệt mỏi. C̣n
trong dă sử của Tây Sơn, người B́nh Khê thường
thuật lại rằng: Khi quân Tây Sơn đi ra Thăng
Long ngày đêm không nghỉ phải hai người vơng một
người th́ tránh sao khỏi cái việc khiêng liên tiếp
mười mấy ngày, quân Tây Sơn cũng có thể mệt
mỏi, và huyền thoại truyền rằng vua Quang Trung mới
bày ra chuyện thi đua kể chuyện tiếu lâm để
cho quân sĩ hào hứng quên sự mệt mỏi và, chúng tôi
cũng tin rằng không biết chừng dàn trống của
Nhạc Vơ Tây Sơn lúc ấy lại trổi khúc hành quân nhằm
mục đích giống như mục tiêu của việc
thi đua kể chuyện tiếu lâm trên kia.
Khúc nhạc này của Nhạc Vơ Tây Sơn cũng
diễn tả được cái ư nghĩ đó. Khúc
nhạc này có đoạn nhạc sĩ chỉ đánh thuần
bằng tay không, bằng những ngón tay,
bàn tay, nắm tay và cùi chỏ nghe rất vui tai và xem đẹp
mắt.
4,- Bài Hăm Thành
Bây
giờ chúng ta lại tưởng tượng tiếp
như đoàn quân Tây Sơn đă đến dưới
chân thành và vị tướng chỉ huy đă ra lệnh hăm
thành th́ phận sự của nhạc sĩ sử dụng
giàn trống là phải gây cho chiến sĩ một tinh thần
nỗ lực tối đa để công phá thành tŕ hầu
cướp được cho mau lẹ. Điệu
nhạc này nghe thật là sôi nổi, dồn dập, kích
động tối đa ḷng dũng cảm của mọi
người.
5.- Bài
Khải Hoàn
Và sau cùng là bài Khải Hoàn. Điệu
nhạc này dĩ nhiên âm thanh phải diễn đạt cho
được sự vui mừng, phấn khởi, ḥ reo của
kẻ chiến thắng.
Ai đă có nghe xem Nhạc Vơ Tây Sơn sẽ nhận
rơ điều đó. Tôi nói nghe và xem v́ Nhạc Vơ Tây
Sơn xem đă đẹp mắt mà nghe cũng vui tai. Điệu bộ và âm thanh ḥa
nhịp khi khoan, khi nhặt, khi bổng, khi trầm, khi
lơi lả, lúc dồn dập thật là khó tả.
TÂM T̀NH NGƯỜI VIẾT
Người viết bài này hân hạnh trước
đây đă có mặt trong tất cả các buổi tŕnh diễn
Nhạc Vơ Tây Sơn, nhưng không có lần nào măn nguyện.
Bởi lẽ, theo người viết,
bộ môn văn hóa này cần phải được chấn
hưng và tŕnh diễn theo đúng truyền thống. Thế
nhưng từ trước đến giờ, về mặt
chính quyền th́ ít để ư đến, mặc dù trên thực
tế đă công nhận nó là hay và siêu việt nhưng không
đật thành kế hoạch để chấn hưng.
C̣n nghệ sĩ th́ v́ thiếu sự để ư, đề
cao của chính quyền, nên mặc cảm bị bỏ
rơi, phần th́ bận rộn sinh kế làm ăn nên cũng không công đâu tập luyện.
Cho nên trong tất cả những lần tŕnh diễn,
người nghệ sĩ đều ở trong t́nh trạng
bị "bắt cóc", chẳng khác nào bắc nước
sôi rồi mới đuổi gà nên không tránh khỏi sự
lụp chụp v́ thiếu chuẩn bị, thiếu tập
dợt; nghệ sĩ nhớ được ngón nào học
được của ngày trước th́ trổ ra ngón ấy
chứ không có th́ giờ xét duyệt lại, tập tành thêm
cho hay, cho hoàn mỹ và thường chỉ tŕnh diễn thuần
việc đánh trống, thiếu phần phụ họa.
Người viết xin mạn phép ước mơ mà đề
nghị với nhà hữu trách Việt Nam sau này, nặng
t́nh với Văn Hoá Dân Tộc, nếu xét thấy bộ
môn Nhạc Vơ Tây Sơn là một quốc túy và có một giá
trị lịch sử huy hoàng th́ cần phải đật
kế hoạch cụ thể để bảo tồn và
phát huy. T́m kiếm những nghệ sĩ nào
c̣n giữ được chân truyền bộ môn này, truyền
lại cho đoàn hậu tấn.
Ngày
xưa, "Người Việt đă nghe tiếng gọi
của Trưng Trắc, Trưng Nhị mà chống lại
Tô Định muốn lấy luật pháp mà trói buộc; đă
mười năm gian khổ theo Lê Lợi để khỏi
phải bím tóc và kết đuôi sam giống người
Minh; đă cùng Nguyễn Huệ đánh trống tiến quân
vào Thăng Long để đuổi đám tướng
binh nhà Thanh nhiễu loạn cuộc sống của dân
chúng. Và chắc chắn măi măi về sau này, dân tộc Việt
Nam c̣n th́ văn hóa dân tộc Việt Nam cũng vẫn có,
và vẫn c̣n cái tinh thần bất khuất để bảo
vệ nền văn hóa của dân tộc" (2). Bởi v́ tiếng trống Lạc Việt luôn luôn
mang nặng t́nh tự dân tộc và văn hóa Việt
Houston, Xuân Bính Th́n, 2000
THÁI TẨU
Đặc san QUANG TRUNG & TÂY SƠN Xuân Canh Th́n
2000
(1) Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam
của Nguyễn Đăng Thục, Tủ sác Viện Khảo
Cổ, Bộ VH xuất bản 1967
(2)
Văn Hóa Dân Tộc trước những Nhu
Câu của Đất Nước của GS Trần Ngọc
Ninh. Lạc Việt xuất bản
1969