Vol. 21  6/2004                                                                                               4th year edition

Editor-in-chief:  Ñoă Hoaøng Nghóa    phutavanthu@yahoo.com 

 

Chæ daån caùch download font VNI mieån phí ñeå ñoïc Ñaëc san Vieät Voơ Ñaïo: click  Chæ daån

  

 QUÊ HƯƠNG TRONG TRÍ NHỚ


NHẠC VƠ TÂY SƠN

THÁI TẨU

 

          Tỉnh B́nh Định là nơi c̣n giữ được nhiều bộ môn văn hóa đặc thù như: hát bội, bài cḥi, vơ thuật và nhạc vơ Tây Sơn. Trong phạm vi bài này, người viết xin lạm bàn đến môn nhạc vơ Tây Sơn.

 

          TỪ VĂN MINH TRỐNG ĐỒNG

          Bộ môn văn hóa này, theo dân thoại B́nh Định gọi là "Nhạc Vơ Tây Sơn" và theo nhạc pháp gọi là "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ". Ai cũng biết, sắc thái đặc biệt trong nền văn hóa cổ xưa của người Việt nổi bật hơn cả là việc dùng trống. Những cuộc khai quật đă đem đến cho các nhà khảo cổ cái trống đồng mà đặc trưng hơn cả là "trống đồng Ngọc Lũ" là chứng cớ đặc biệt của nền văn minh Việt.

          "Tiếng trống từ xưa đến nay đối với dân tộc Việt Nam vẫn là hiệu lệnh để thi hành công việc tập đoàn, để báo hiệu một công việc có quan hệ chung, trống ra quân, trống ngũ liên, trống thu không, trống cầm canh... thường ở đ́nh làng nào cũng có cái trống lớn để báo hiệu, trước khi là một công việc nghệ thuật từ trống chầu đến cầm chầu cho con hát. Vậy dụng ư của trống đồng là đại biểu uy lực của thủ lănh quần chúng, ban hành mệnh lệnh để rồi trở nên huy hiệu của mệnh lệnh và trở nên thiêng liêng, cho đến thời quốc gia độc lập mới có đền thờ "Đồng Cổ" như là quốc giáo [1].

          V́ vậy, ta có thể nói rằng việc chế tạo và sử dụng trống là sở trường của Văn Hoá Việt Nam, và không có chi là lạ khi ta biết rằng trong thời Tây Sơn (1788-1802) sắc thái đặc biệt nọ của văn hóa dân tộc được anh em Nguyễn Nhạc khai thác đến triệt để, th́ nghệ thuật chơi trống cũng đưa đến tuyệt đỉnh.

vua Quang Trung

 

          ĐẾN NHẠC VƠ TÂY SƠN

          Nhạc khí căn bản của nhạc vơ Tây Sơn là một dàn trống do quân Tây Sơn dùng khi thao diễn quân sĩ tại vơ trường, khi xuất quân cho khí thế thêm mạnh mẽ, khi thúc quân lướt tới trận mạc cho mau lẹ, khi cần hành quân tiến thối nhịp nhàng, khi hăm thành cho uy thế thêm mănh liệt, hoặc là khi khải hoàn mà reo mừng thắng trận.

          Bộ trống đúng theo kinh điển gồm 12 cái, mỗi cái mang tên một con giáp của thập nhị chi: tí, sửu, dần, mẹo, th́n... và khi học nhạc th́ tên các con giáp này cũng là tên các cung bậc do tiếng trống phát ra. Đường kính mỗi trống lớn, nhỏ khác nhau, da bịt trống th́ căng chùng, thẳng cũng khác nhau nên tiếng trống cao thấp khác nhau.

 

          NGHỆ THUẬT ĐÁNH TRỐNG

          Khi đánh trống th́ nghệ sĩ dùng roi trống (dùi trống), có khi bỏ cả roi trống mà chỉ dùng những ngón tay, dùng bàn tay, dùng nắm tay, dùng cùi chỏ... nghĩa là dùng đủ cả bộ phận của hai tay. Trường hợp dùng roi trống th́ cứ mỗi nhịp điệu cử động của ta là ta có thể nghe được bốn âm thanh phát ra: nơi đầu roi trống (1), kéo sang đuôi roi trống (2), hạ cùi chỏ xuống (3), và bật ngửa nắm tay vào mặt trống (4). Cứ như thế mà hai tay của nghệ sĩ nhảy múa trên 12 cái trống khi lơi lả nhẹ nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi phấn khởi khoan thai. Chỉ có hai cái tay mà đánh cả một dàn trống 12 cái nên nhạc pháp gọi là "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ".

          Tuy nhiên, trong trường hợp mà nghệ sĩ vượt khỏi tầm kinh điển đến bậc siêu thặng th́ ngoài 12 cái trống đặt ngay trước mặt để cho hai tay sử dụng theo đúng nhạc pháp Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ, hăy c̣n đặt thêm 5 cái trống khác ở phía sau: một cái đặt ngang nơi đầu để đầu ngả ngửa húc vào, hai cái đặt ngay hai bên hông cho hai cùi chỏ thúc vào và c̣n hai cái nữa th́ đặt cho vừa tầm hai gót chân để đá hậu vào, vị chi là 17 cái trống. Nghệ sĩ "chơi" nổi 17 cái trống (ông Tám Ngang) th́ không c̣n nữa, mà trước đây chỉ c̣n có nghệ sĩ chơi được 12 trống mà thôi. Tuy nhiên, khi nghe xem th́ vẫn thấy là siêu việt.

          Trước khi chơi, nghệ sĩ đi một đường quyền, bái tổ rồi mới bắt đầu đánh trống và các bản nhạc lần lượt nổi lên. Nghệ sĩ, điệu bộ hùng dũng, công lực dồn lên nét mặt, trổ ra hai tay dồn dập bên 12 cái trống xem như một nghệ sĩ đang múa đường quyền bên 12 cái trống kiểu lăng ba vi bộ nên mới gọi là nhạc vơ. Nghệ sĩ chơi bộ môn này cần phải biết vơ thuật và khiếu thẩm âm để sự biệu diễn tăng thêm phần ngoạn mục.

 

          NGHỆ THUẬT BỊ MAI MỘT

          Những năm trước đây, không nghe ai nhắc đến "Nhạc Vơ Tây Sơn" là v́ một lẽ dễ hiểu. Thói đời thắng được th́ là vua mà thua là giặc. Khi nhà Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn Gia Long chiến thắng, nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tru di đến nỗi mộ phần của các Ngài cũng bị quật lên, nghiền xương tán nhỏ làm thuốc súng bắn xuống biển, các tôi trung nhà Tây Sơn đều phải mai danh ẩn tích. Thậm chí đến những cái hay của nhà Tây Sơn cũng phải dấu đi kẻo để lộ cho người khác biết được đi báo th́ sẽ bị tù đày. Do đó mà di tích nhà Tây Sơn đều bị phá bỏ hết. Đồng bào B́nh Khê thương nhớ ba Ngài lén lập đền thờ mà bề ngoài cũng phải ngụy trang là miếu thờ thần. Ai có thương nhớ giữ được cái ǵ hay của Ba Ngài th́ để bụng chẳng dám phô trương v́ sợ chính quyền nhà Nguyễn mà hay được th́ không tránh khỏi hậu quả khốc hại. Nhạc vơ Tây Sơn cũng cùng chung cái số phận này.

          Tôi cũng xin phép mở một cái dấu ngoặc tại đây để nêu lên một lư do thứ hai (Thi sĩ Quách Tấn cho biết: Ngày xưa, môn vơ thuật B́nh Định chia làm 4 bộ môn: côn, quyền, kiếm, cổ (trống) chứ không phải kích. Về môn Cổ th́ vơ sinh thường treo lủng lẳng ngay hàng, hàng năm, muời cái trống (loại trống chầu hát bội) để tập vơ. Vơ sinh sẽ đánh, đá vào các cái trống ấy. Trống bị sức mạnh đánh, đá sẽ văng ra xa và nhờ dây treo thối ngược lại. Lối tập vơ bằng trống này, một là để tạo những cú đánh (đấm), đá mạnh, nặng cân hơn; hai là để tập sự nhanh nhẹn chống đỡ, tránh né. Nếu ai không tinh mắt lẹ tay th́ chắc chắn sẽ bị trống thối ngược lại đập cho vỡ mặt, găy xương.

          Lần về sau, dường như con người mỗi ngày một yếu dần nên không c̣n ai dám tập vơ bằng trống nữa mà tập bằng những bao đựng cát hoặc bằng bưởi, ḅng... Từ đó, danh từ tập vơ bằng trống không c̣n ai dám nhắc tới v́ nhắc tới cũng thêm hổ thẹn với người xưa, dần dà rồi mai một.

          Có người bảo Nhạc Vơ Tây Sơn là biến thể của lối tập vơ bằng trống này. Điều đó không lấy ǵ làm chắc. Nhưng nếu quả vậy th́ nhà Tây Sơn thật là kỳ tài đă khéo khai thác từ bộ môn vơ thuật chuyển sang bộ môn âm nhạc, rồi lại dùng âm nhạc mà giáo dục vơ thuật, gây không khí hào hứng trong quần chúng, kích động ḷng hăng say chiến đấu của các chiến sĩ bằng tiếng trống.

          Ngày nay, tại Kampuchia, người ta cũng dùng trống để tập vơ. Trên vơ đài Miên mà thiếu tiếng trống th́ vơ sinh không tài nào biểu diễn được. Xin khép ngoặc lại.

 

          NHƯNG CÓ NGƯỜI C̉N GIỮ ĐƯỢC CHÂN TRUYỀN

          Nhưng may thay, vận nước đổi dời, khi thực dân bị lật đổ, nhà Nguyễn cũng nhào theo th́ chỉ có hai người, một ở B́nh Khê (nay là Tây Sơn) và một ở Tuy Phước, tỉnh B́nh Định, c̣n giữ được cái chân truyền ấy và xem như quốc bảo. Người ở B́nh Khê là ông Tám Ngang, ông là người sử dụng được 17 cái trống, ông đem dạy lại cho ba người: hai đứa con trai ông và một người học tṛ. Đứa con trai đầu chết, đứa thứ hai th́ năm 1954 ở trong đoàn văn công của Việt Cộng tập kết ra Bắc, c̣n lại người học tṛ kia là nghệ sĩ Tân Phong (tức Nguyễn Phong). Người ở Tuy Phước tên là ông Bầu Thơm (tức Vơ Đôn) là một ông bầu hát bội và cũng là một nhạc sư về loại nhạc hát bội, ông dạy lại một người học tṛ đó là nghệ sĩ Mười Thông (tức Hoàng Thông) là một nghệ sĩ hát bội và một roi trống hát bội có hạng.

          Hai ông thầy v́ tuổi già đă qui tiên c̣n lại hai người học tṛ trên kia, tuy không phải bậc siêu đẳng đánh nổi 17 trống, song cũng học được đúng truyền thống của nhạc pháp "Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ". Trước năm 1975, ở Phù Cát có anh Nguyễn Việt cũng tập đánh được 12 trống và ở B́nh Khê có hai em bé gái (một em 7 tuồi, và một em 12 tuổi) do đoàn Ca Vơ Nhạc Tây Sơn đào tạo cũng tập đánh được 5 trống (ngũ âm) xem rất ngộ.

          Riêng Tân Phong, anh là một nghệ sĩ chơi thạo các môn như vẽ vời, ca hát, đờn địch, đắp tượng, chạm trổ, điêu khắc, viết tuồng, đóng kịch... Cái ǵ anh cũng thảy làm được. Nghe đâu anh cũng đă thất lộc cách đây vài năm. Xin thắp cho anh một nén hương ḷng thương tiếc một người bạn tài hoa.

 

          GIÓNG TRỐNG KHẮP NƠI

          Trước năm 1975, anh Tân Phong v́ mang nặng một tinh thần dân tộc nên anh sẵn sàng muốn truyền lại cho đoàn hậu bối cái quốc túy của văn hóa dân tộc, anh cũng đă thuận lời mời đi tŕnh diễn Nhạc Vơ Tây Sơn này nhiều nơi.

          Tôi c̣n nhớ: Ngày 8-11-1967, Hội Văn Hoá B́nh Dân Sài G̣n mời anh tŕnh diễn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ tại Sải G̣n nhân có buổi lễ của cơ quan UNESCO tổ chức tại trường này.

          Ngày 11 và 12-1-1968, tŕnh diễn tại rạp Thống Nhất Sài G̣n và sân Tinh Vơ Chợ Lớn do ban Quản Trị Điện Tây Sơn B́nh Khê tổ chức dưới sự giúp đỡ của Hội Đức Trí Thể Dục SAMIPIC (Société pour l'Amélioration Moral Intellectuelle et Physique des Indochinois de Cochinchine) và đoàn thể Vovinam.

          Ngày 16-8-1969, tŕnh diễn tại Trung Tâm Văn Hoá B́nh Định tại Qui Nhơn nhân ngày khánh thành Trung Tâm này có sự chứng kiến của ông Quốc Vụ Khanh Mai Thọ Truyền, đặc trách Văn Hoá, ông Đại sứ Đại Hàn Dân Quốc và rất đông quan khách Việt Hàn Mỹ tham dự.

          Ngày 15-3-1970, được phái đoàn điện ảnh Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thu h́nh và đă tŕnh chiếu trên màn ảnh truyền h́nh Việt Nam vào đêm 25-4-1970 tại Sài G̣n và tại Cần Thơ, Qui Nhơn, Huế vào các đêm kế tiếp.

          Ngày 18-6-1970, được phái đoàn Điện ảnh Bộ Thông Tin thu h́nh làm phim tài liệu và sẽ tŕnh chiếu trên các màn ảnh ciné và truyền h́nh.

          Nghe đâu, sau năm 1975, hai em bé ở B́nh Khê mà đoàn Ca Nhạc Vơ Tây Sơn đào tạo năm nào nay cũng đă mang trống Tây Sơn đi đánh xứ người, được nhân dân nhiều nước tán thưởng.

          Ngoài ra, hàng năm vào ngày mồng 5 Tết tại điện Tây Sơn B́nh Khê, tiếng trống kích cảm của môn Nhạc vơ Tây Sơn đă vang lên mở đầu cho chương tŕnh tế lễ vua Quang Trung và lễ hội Tết đống Đa, kỷ niệm trận chiến thắng quân Thanh oanh liệt nhất trong lịch sử của vua Quang Trung Nguyễn Huệ vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1979.

          Ai có dự xem trên phim ảnh các lối đánh trống ở nước ngoài đều phải công nhận rằng nghệ thuật đánh trống của Tây Sơn thật là kỳ ảo.

          Trước năm 1975, ban Phổ biến Nhạc Vơ Tây Sơn lại c̣n biểu diễn phối hợp giữa Nhạc vơ Tây Sơn và Vơ thuật B́nh Định bằng cách khi nhạc vơ nổi lên th́ các vơ sinh nam nữ ở bên ngoài đi những đường quyền, những đường côn, siêu, đao... múa, đá, tọa, nhảy nhịp nhàng theo tiếng trống và đờn, kèn, xụp xơa, mơ phụ họa xem chẳng khác chi những corps de ballet của Tây phương.

 

          BÀI BẢN NHẠC VƠ

          V́ mang danh là nhạc vơ nên bài bản phần nhiều cũng mang tính chất quân sự như bài: Khai Trường, Xuất Quân, Hành Quân, Hăm Thành, Khải Hoàn.

          Nhạc vơ Tây Sơn, muốn biểu diễn đúng theo truyền thống và xem cho đẹp mắt th́ trước hết, đi đầu là bộ phận của chiêng, trống, có quân hầu, lọng che; theo sau là hai toán quân (mặc áo cạp nẹp, chân quấn ṿng ve, đầu đội nón dấu, tay cầm đao, kiếm, côn...) rồi đến giàn Nhạc Vơ đặt trên một chiếc xe đẩy (Nhạc trưởng đứng giữa, hai bên là bốn nhạc công: đờn, kèn, xụp xơa, mơ phụ họa); sau rốt là vị tướng chỉ huy lẫm liệt trên ḿnh voi hoặc ngựa.

Bắt đầu biểu diễn, vị tướng kêu gọi:

Ngoài biên thùy quân thù xâm lấn
Trong nội t́nh đất nước lâm nguy
Phận làm trai sinh tử nẹ chi
Quyết một dạ lên đường cứu quốc!

Nhạc trưởng tiếp theo

Anh em ơi!

(Toàn thể nhạc công) "Dạ"

Lệnh trên đà ban xuống
Phận dưới phải thi hành
Dùng kế mưu kích cổ đa thanh
Địch lầm tưởng hùng binh vạn đội

 

Đằng trước khởi chinh cổ, giàn nhạc vơ nổi lên và lần lượt theo các bài bản do vị tướng chỉ huy.

 

1.- Bài Khai Trường

          Bài Khai Trường chỉ dùng để luyện tập quân sĩ hay chào mừng các vị tướng chỉ huy khi cần đến diễn vơ trường. Điệu nhạc khoan thai, hùng dũng.Thuở xưa, mỗi dịp có vị Hoàng đế hay vị Nguyên soái đến diễn vơ trường để mở một cuộc diễn vơ, tập vơ hay là chọn tướng sĩ th́ khi vị ấy bước vào vơ trường, mỗi xứ có một điệu nhạc riêng để chào mừng nhà lănh đạo. Riêng đối với quân Tây Sơn, điệu nhạc đó là ba hồi trống khai trường. Nhưng mà nhạc hát bội thường chỉ có hai cái trống căn bản gọi là "trống âm" và "trống dương" hay "trống quân" và "trống chiến". Nếu người ta biết rằng hát bội ngày nay là do cụ Đào Tấn ở B́nh Định lập thành qui chế, th́ phép đánh trống của hát bội cũng đánh nhái theo điệu Khai Trường của Nhạc Vơ Tây Sơn.

          Trống Khai Trường của hát bội phải đánh đúng ba sách, mỗi sách tám phách. Khi đánh đúng 24 phách, nhạc sĩ mở ra thành trống chiến và chờ cho trống quân gióng giáp ba hồi lại 9 tiếng th́ người trống chiến phải thét theo. Khi thét xong, nghĩa là khai trường xong th́ nhạc sĩ mở trống ra cho nghệ sĩ ra sân khấu. Lúc đó th́ người hát hát thứ ǵ, nam, khách hay xuân... th́ người đánh trống phải đánh theo thứ ấy. Nhưng thường người đánh trống chỉ được quyền đánh khi người nghệ sĩ trên sân khấu đă "thủ" và "vĩ". Nếu người đánh trống tự ư đánh theo, gọi là đánh nhái.

          Nói về bài bản của nhạc hát bội th́ có 8 bài kể từ bài nhịp một đến nhịp tám c̣n âm thanh hay hoặc dở tùy theo người nhạc sĩ bắt già hay non mà thôi.

 

2.- Bài Xuất Quân

          Xuất quân có nghĩa là đem quân đội ra chiến trường, nó có nghĩa là khởi hành và bao giờ khởi hành th́ điệu nhạc phải làm sao cho tinh thần chiến sĩ phấn khởi lên, hăng hái lên và cũng phải gây cho được trong ḷng mọi người một niềm tin chiến thắng. Do đó, nhạc xuất quân của Nhạc Vơ Tây Sơn theo điệu này là một điệu nhạc hùng, nhịp của nó càng nhặt làm cho tim mọi người đập càng lúc càng mau, nghe hăng hái, phấn khởi.

 

3.- Bài Hành Quân

          Ta tưởng tượng một đạo quân hùng hậu đă xuất quân trong t́nh thần tối cao nhưng mà sau một khúc đường dài chắc hẳn cũng đă thấy mệt mỏi. Trong lúc ấy vị tướng chỉ huy chỉ kêu gọi nầng cao tinh thần suông, chúng ta có cảm tưởng rằng lời kêu gọi ấy không được đáp ứng. Trái lại, nếu lời khuyến khích là một lời êm ái, dịu dàng, có vẻ vui vẻ, có vẻ đùa cợt ... thay v́ đem lời hùng hồn th́ đem lời an ủi êm ái, chắc có lẽ kết quả sẽ hay hơn.

          Đọc truyện Tàu, chúng ta c̣n nhớ lúc Quản Di Ngô ngồi trong cũi để được đưa về nước Tề th́ thấy các quân khiêng cũi hơi mệt mỏi nên Quản Di Ngô bèn đặt ra những bài ca, bài hát để cho quân sĩ đi theo nhịp bài ca mà quên mệt mỏi. C̣n trong dă sử của Tây Sơn, người B́nh Khê thường thuật lại rằng: Khi quân Tây Sơn đi ra Thăng Long ngày đêm không nghỉ phải hai người vơng một người th́ tránh sao khỏi cái việc khiêng liên tiếp mười mấy ngày, quân Tây Sơn cũng có thể mệt mỏi, và huyền thoại truyền rằng vua Quang Trung mới bày ra chuyện thi đua kể chuyện tiếu lâm để cho quân sĩ hào hứng quên sự mệt mỏi và, chúng tôi cũng tin rằng không biết chừng dàn trống của Nhạc Vơ Tây Sơn lúc ấy lại trổi khúc hành quân nhằm mục đích giống như mục tiêu của việc thi đua kể chuyện tiếu lâm trên kia.

 

          Khúc nhạc này của Nhạc Vơ Tây Sơn cũng diễn tả được cái ư nghĩ đó. Khúc nhạc này có đoạn nhạc sĩ chỉ đánh thuần bằng tay không, bằng những ngón tay, bàn tay, nắm tay và cùi chỏ nghe rất vui tai và xem đẹp mắt.

 

4,- Bài Hăm Thành

          Bây giờ chúng ta lại tưởng tượng tiếp như đoàn quân Tây Sơn đă đến dưới chân thành và vị tướng chỉ huy đă ra lệnh hăm thành th́ phận sự của nhạc sĩ sử dụng giàn trống là phải gây cho chiến sĩ một tinh thần nỗ lực tối đa để công phá thành tŕ hầu cướp được cho mau lẹ. Điệu nhạc này nghe thật là sôi nổi, dồn dập, kích động tối đa ḷng dũng cảm của mọi người.

 

5.- Bài Khải Hoàn

          Và sau cùng là bài Khải Hoàn. Điệu nhạc này dĩ nhiên âm thanh phải diễn đạt cho được sự vui mừng, phấn khởi, ḥ reo của kẻ chiến thắng.

          Ai đă có nghe xem Nhạc Vơ Tây Sơn sẽ nhận rơ điều đó. Tôi nói nghe và xem v́ Nhạc Vơ Tây Sơn xem đă đẹp mắt mà nghe cũng vui tai. Điệu bộ và âm thanh ḥa nhịp khi khoan, khi nhặt, khi bổng, khi trầm, khi lơi lả, lúc dồn dập thật là khó tả.

 

TÂM T̀NH NGƯỜI VIẾT

          Người viết bài này hân hạnh trước đây đă có mặt trong tất cả các buổi tŕnh diễn Nhạc Vơ Tây Sơn, nhưng không có lần nào măn nguyện. Bởi lẽ, theo người viết, bộ môn văn hóa này cần phải được chấn hưng và tŕnh diễn theo đúng truyền thống. Thế nhưng từ trước đến giờ, về mặt chính quyền th́ ít để ư đến, mặc dù trên thực tế đă công nhận nó là hay và siêu việt nhưng không đật thành kế hoạch để chấn hưng. C̣n nghệ sĩ th́ v́ thiếu sự để ư, đề cao của chính quyền, nên mặc cảm bị bỏ rơi, phần th́ bận rộn sinh kế làm ăn nên cũng không công đâu tập luyện. Cho nên trong tất cả những lần tŕnh diễn, người nghệ sĩ đều ở trong t́nh trạng bị "bắt cóc", chẳng khác nào bắc nước sôi rồi mới đuổi gà nên không tránh khỏi sự lụp chụp v́ thiếu chuẩn bị, thiếu tập dợt; nghệ sĩ nhớ được ngón nào học được của ngày trước th́ trổ ra ngón ấy chứ không có th́ giờ xét duyệt lại, tập tành thêm cho hay, cho hoàn mỹ và thường chỉ tŕnh diễn thuần việc đánh trống, thiếu phần phụ họa.

          Người viết xin mạn phép ước mơ mà đề nghị với nhà hữu trách Việt Nam sau này, nặng t́nh với Văn Hoá Dân Tộc, nếu xét thấy bộ môn Nhạc Vơ Tây Sơn là một quốc túy và có một giá trị lịch sử huy hoàng th́ cần phải đật kế hoạch cụ thể để bảo tồn và phát huy. T́m kiếm những nghệ sĩ nào c̣n giữ được chân truyền bộ môn này, truyền lại cho đoàn hậu tấn.

          Ngày xưa, "Người Việt đă nghe tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị mà chống lại Tô Định muốn lấy luật pháp mà trói buộc; đă mười năm gian khổ theo Lê Lợi để khỏi phải bím tóc và kết đuôi sam giống người Minh; đă cùng Nguyễn Huệ đánh trống tiến quân vào Thăng Long để đuổi đám tướng binh nhà Thanh nhiễu loạn cuộc sống của dân chúng. Và chắc chắn măi măi về sau này, dân tộc Việt Nam c̣n th́ văn hóa dân tộc Việt Nam cũng vẫn có, và vẫn c̣n cái tinh thần bất khuất để bảo vệ nền văn hóa của dân tộc" (2). Bởi v́ tiếng trống Lạc Việt luôn luôn mang nặng t́nh tự dân tộc và văn hóa Việt Nam không bao giờ thiếu vắng tiếng trống đặc trưng đó.

 

Houston, Xuân Bính Th́n, 2000

THÁI TẨU

Đặc san QUANG TRUNG & TÂY SƠN Xuân Canh Th́n 2000

 

(1)   Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Tủ sác Viện Khảo Cổ, Bộ VH xuất bản 1967

(2)   Văn Hóa Dân Tộc trước những Nhu Câu của Đất Nước của GS Trần Ngọc Ninh. Lạc Việt xuất bản 1969    

 

 

Home