|
|
||
|
|
1879 to 1955 |
Sinh 1935 |
ALBERT EINSTEIN VÀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Nguyên tác Anh ngữ: Rasoul
Sorkhabi
Việt dịch: Hoà Thượng Thích Trí
Chơn
Năm 2005 đánh dấu kỷ niệm năm
sinh nhật lần thứ 70 của đức Đạt
Lai Lạt Ma. Liên Hiệp Quốc
cũng tuyên bố năm 2005 là năm Vật Lư của thế
giới và người đă được vinh danh là ông
Albert Einstein, nhà đại khoa học phát minh ra Thuyết
Tương Đối năm 1905 (cách nay 100 năm) đă từ
trần năm 1955 (đúng 50 năm trước). Đây là
cơ duyên thuận lợi để chúng ta t́m hiểu tại
sao có sự trùng hợp, gặp gỡ giữa hai nhân vật
lịch sử vĩ đại này trong thời đại
của chúng ta hôm nay, một nhân vật là khoa học gia Tây
Phương nổi tiếng và người kia là vị lănh
đạo Phật Giáo mà khắp thế giới đều
tôn kính, đă nêu lên một h́nh ảnh ư nghĩa về sự
hợp nhất giữa khoa học và tôn giáo.
Ghi chú của dịch giả: Rasoul
Sorkhabi là giáo sư tại Học Viện Nghiên Cứu
Năng Lượng và Khoa Địa Chất thuộc Đại
Học Utah (Salt Lake City), nơi ông đang sống với
người vợ Nhật và cô con gái. Giáo
Sư đă thực hiện chương tŕnh nghiên cứu rộng
răi về địa chất ở vùng núi Hy Mă Lạp
Sơn (
Nhiều năm qua, nhà khoa học Albert Einstein và
đức Đạt Lai Lạt Ma đă ảnh hưởng
thu hút tôi rất nhiều. Khi đọc
tiểu sử và tác phẩm của hai nhân vật này mà tôi
nhận thấy có nhiều sự tương đồng ư
nghĩa về cá tính và hoạt động của họ
đă chiếu sáng trên mối quan hệ giữa lư trí và tinh
thần mà cả hai lănh vực đều cần thiết
cho xă hội và đời sống con người.
Phật Giáo lẫn Khoa Học chủ
trương người đi t́m đạo lư hay các định
lư khoa học cần dựa vào trí tuệ và kinh nghiệm của
chính bản thân họ. Nhà tôn giáo lẫn khoa học
không thể tin tưởng một cách mù quáng. Mọi lư thuyết tŕnh bày chỉ có giá trị khi
được chứng nghiệm bằng sự tu tập
của vị tu sĩ và chứng minh cụ thể của
nhà khoa học.
Đặc biệt trong các bài viết
cũng như thuyết giảng của đức Đạt
Lai Lạt Ma và nhà khoa học Einstein, là những ư tưởng
đều xuất phát từ tâm thức và kinh nghiệm bản
thân của họ. Khi viết bài này th́ cuốn
sách đầu tiên để trên bàn tôi đang đọc là
tác phẩm “Phật Giáo Tây Tạng và Ch́a Khoá Dẫn Đến
Trung Đạo” (The Buddhism of Tibet and the Key to the Middle Way)
do Tenzin Gyatso (tức đức Đạt Lai Lạt Ma
đời thứ 14) viết ấn hành năm 1975. Tôi
được tặng cuốn sách này vào năm 1982 khi tôi
và vợ tôi là Setsuko từ Nhật Bản lần đầu
tiên đến Ấn Độ gặp ngài tại thành phố
Dharamsala. Tôi cũng đă được đọc tác phẩm
của Einstein: “Đại Cương và Đặc Biệt
Thuyết Tương Đối” (Relativity: The Special and
the General Theory) ấn hành năm 1952.
Hai cuốn sách đều mang tính cách chuyên môn và cả
hai tác phẩm đều chịu ảnh hưởng tư
tưởng của những người đi trước,
nhưng điều đặc biệt thú vị là bút pháp của
họ đều giống nhau - giải thích các chủ
đề khó hiểu bằng lối diễn đạt rơ
ràng, chính xác với ngôn ngữ b́nh dị và đă tŕnh bày
được ngay chính tư tưởng của hai tác giả.
Mặc dù sự liên hệ giữa khoa học và tôn giáo là một
đề tài hóc búa, phức tạp và gay go, nhưng cả
hai khoa học gia Einstein và đức Đạt Lai Lạt
Ma đều phát biểu rằng, tôn giáo và khoa học có thể
hợp tác, chung sống và đóng góp lợi ích cho sự tiến
bộ, phát triển của xă hội con người. Tôn
giáo và khoa học thuộc hai lănh vực kiến thức và
thực hành khác nhau, tuy nhiên cả hai đều do nỗ lực
của con người và cần thiết cho sự thăng
hoa cuộc sống nhân sinh.
Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là
nhà tôn giáo theo trào lưu chính thống, duy tŕ ḷng tin cổ
truyền vào kinh điển mà ngài cũng đề cao giá
trị của nền khoa học hiện đại và tin
tưởng rằng tất cả các truyền thống tôn
giáo khác nhau đều giúp ích cho nhân loại. Ông
Einstein không phải là nhà toán học thiển cận, không
nghĩ đến sự phát triển tinh thần và đời
sống tâm linh. Trong tác phẩm: “Những năm cuối
cùng của đời tôi” (Out of My Later Years), ấn hành
năm 1950, tiên sinh viết: “Tất cả các tôn giáo, nghệ
thuật và khoa học là những cành nhánh chung
của một thân cây. Những khát vọng này
đều nhằm hướng đến sự thăng
hoa đời sống của kiếp người, giúp con
người vượt khỏi thể giới thuần
tuư vật chất và hướng dẫn cá nhân đến sự
tự do và giải thoát”.
Trong cùng cuốn sách trên, Einstein cũng xác nhận
rằng khoa học thực sự đă giúp cho mục tiêu của
tôn giáo, v́ khoa học đă dạy cho chúng ta hiểu biết
về sự hoà hợp, tương quan và tương duyên
của thế giới cũng như kiến thức khoa học
về vũ trụ bao la huyền bí này: “Mỗi ngày hằng
trăm lần tôi tự nhắc nhở để thấy
rằng đời sống nội tâm và ngoại giới của
tôi được xây dựng căn bản trên sức lao
động của những kẻ khác và tôi phải cố
gắng đáp đền trả ơn lại cho họ, những
người mà tôi đă và đang nhận sự giúp đỡ”.
Đây là những lời nói của Einstein.
Chia xẻ với ư tưởng này, đức Đạt
Lai Lạt Ma phát biểu sự tương quan tương
duyên phụ thuộc vào nhau của vạn vật, con
người và các biến cố xảy ra trên thế gian là
ư niệm căn bản của nền khoa học hiện
đại và tư tưởng Phật Giáo.
Trong lời phát biểu khi nhận giải Nobel Hoà
B́nh, đức Đạt Lai Lạt Ma đă nói: “Chúng ta
tuỳ thuộc vào nhau trong mọi sinh hoạt của đời
sống. Chúng ta không thể tồn tại khi
sống tách rời khỏi xă hội và không biết ǵ về
các sự việc xảy ra bên ngoài cộng đồng của
nhân loại. Khi gặp những khó
khăn, chúng ta cần giúp đỡ lẫn nhau cũng
như nên chia xẻ nguồn vui của chúng ta cho những kẻ
khác”. Về
mặt triết lư, lời dạy của Đức Đạt
Lai Lạt Ma phản ảnh lư “Nhân Duyên Sinh” của Phật
Giáo. Đức Đạt Lai Lạt Ma khuyên dạy
chư Tăng không nên có tâm ích kỷ và
đắm say của cải vật chất. Ngài đă từng
nói: “Tôi chỉ là một nhà sư tầm thường”.
Howard Cutler, người cùng chung với
ngài viết tác phẩm “Nghệ Thuật Đạt Đến
Hạnh Phúc” (The Art of Happiness) bảo rằng đức
Đạt Lai Lạt Ma không biết cuốn sách đó
đă trở thành tác phẩm bán chạy nhất (bestseller) tại
vùng Bắc Mỹ.
Ông Einstein cũng có tâm hồn vị tha hay giúp
đỡ mọi người. Một trong những tiểu
luận nổi tiếng của ông nhan đề “Thế Giới
như Tôi Nh́n Thấy Nó” (The World As I See It) ấn hành năm
1931, Einstein đă viết: “Tôi tin rằng một đời
sống giản dị không xa hoa cầu kỳ là rất tốt,
hữu ích cho mọi người cả hai phương diện
thể xác lẫn tinh thần. Ba mục tiêu mà nỗ lực
của con người nhắm đến là của cải,
tiền bạc và giàu sang, đối với tôi trở thành
vô nghĩa”. Ông đă thực hành những
điều ông nói. Chẳng hạn, Einstein đă dùng hết
số tiền 30.000 (ba chục ngh́n) đô-la ông được
thưởng trong giải Nobel Vật Lư năm 1921 để
giúp đỡ cho bà vợ đầu tiên và mấy đứa
con của bà, mặc dù lúc bấy giờ ông đă lập
gia đ́nh với người khác.
Einstein đoạt giải Nobel Vật Lư
năm 1921, và đức Đạt Lai Lạt Ma được
giải Nobel Hoà B́nh năm 1989. Hơn nữa, Einstein cũng là nhân vật tích cực
vận động cho nền hoà b́nh thế giới; yêu cầu
huỷ diệt các loại vơ khí nguyên tử cũng như
đ̣i hỏi quyền làm người, tự do và dân chủ
phải được thực hiện tại nhiều quốc
gia. Cuộc đời của ông luôn luôn
tranh đấu chống bạo động, chiến tranh,
chủ nghĩa phát xít và kỳ thị chủng tộc.
Vị anh hùng chính trị mà Einstein tôn sùng nhất là Thánh
Gandhi của Ấn Độ. Tháng 04 năm 1955, cùng với
đại triết gia người Anh, Bertrand Russell, cả
hai ông đă phổ biến một bản tuyên ngôn chung, kêu
gọi các nhà lănh đạo trên thế giới nên giải
quyết các cuộc khủng hoảng chính trị bằng
phương pháp hoà b́nh.
Gần đây trong một cuộc phỏng vấn,
tôi có nghe đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời
cho biết rằng nếu có thể ngài phát nguyện vào ở
một ngôi chùa và sẽ dành hết th́ giờ cho việc tu
thiền. Điều này khiến
tôi nhớ lại lời ông Einstein bảo rằng: “Công
việc của người trông coi ngọn hải
đăng thực lư tưởng cho nhà khoa học, v́ họ
có nhiều th́ giờ rănh để suy nghĩ và làm việc”.
Nơi khác, tiên sinh Einstein ghi nhận rằng cuộc đời
của ông được phân chia thành giữa “các
phương tŕnh và chính trị” nhưng “các
phương tŕnh th́ sẽ vĩnh viễn tồn tại
lâu dài”.
Cả hai ông Einstein và đức Đạt
Lai Lạt Ma đều mất tổ quốc. Năm 1933 Einstein trốn thoát chế độ
Phát Xít Đức Quốc Xă sang định cư tại
Hoa Kỳ. Năm 1959, Trung Cộng đánh chiếm xâm
lăng Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ
nước trốn qua tị nạn ở Ấn Độ.
Tôi nghĩ kinh nghiệm cuộc sống bản thân của
mỗi người này đă giúp cho cả hai nhân vật
(Einstein trong cộng đồng người Do Thái và đức
Đạt Lai Lạt Ma trong xă hội các Phật tử Tây
Tạng), khi ở xứ người, nhận thấy rơ
giá trị của sự đóng góp về khoa học, tôn
giáo cũng như lịch sử dân tộc của họ
vào các nền văn hoá đa dạng của nhân loại
trên thế giới.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thường bảo
rằng cuộc sống tị nạn lưu vong đă giúp
ngài có cơ hội tốt để gặp gỡ, tiếp
xúc với mọi người đủ thành phần tại
nhiều quốc gia và nhờ đó mà ngài đă nhận thức
được rằng: “Tất cả chúng ta ai cũng
muốn sống có hạnh phúc chứ không thích khổ
đau”.
Einstein sinh năm 1879 trong một gia đ́nh Do
Thái tại Đức quốc. Đức
Đạt Lai Lạt Ma ra đời năm 1935 trong một
gia đ́nh nông dân tại quận Amdo ở Tây Tạng. Tiểu
sử của hai nhân vật hoàn toàn khác nhau, nhưng tại
sao chúng ta nhận thấy có nhiều điểm
tương đồng về cá tính và hành động giữa
hai con người đặc biệt này? Câu trả lời
của tôi là v́ cả ông Einstein và đức Đạt Lai
Lạt Ma đều đă sống vượt lên trên những
thành kiến, cố chấp về tôn giáo cũng như các
chủ nghĩa phát xít, quốc gia và duy vật v.v…
Trái lại cả hai đă sống, hành động
v́ nền hoà b́nh thế giới, t́nh yêu thương nhân loại,
và phục vụ cứu giúp tất cả mọi người
với tấm ḷng vị tha. Trong
bài nói chuyện với các sinh viên trường Cal Tech
năm 1931, Einstein đă phát biểu: “Tôn giáo và khoa học
có thể cùng chung đóng góp cho lợi
ích của con người”.
Các giải Nobel đă trao tặng cho khoa học gia
Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma là biểu
tượng cho hai đỉnh cao của t́nh nhân loại và
trí tuệ con người mà hai đại nhân vật lịch
sử này đă thành tựu đạt tới qua những
phương cách hành động khác nhau. Và từ đỉnh
cao đó, ánh sáng rực rỡ của t́nh thương và sự
hiểu biết tuyệt vời của con người
đă chiếu toả xuống khắp vạn vật ở
trần gian.
Trích dịch từ tạp chí
Phật Giáo “Mandala” số tháng 6 & 7 năm 2005.