|
|
||
|
Vô Tích sưu
tầm
Thi Ca
Dân Gian
Một trong những vấn đề
cấp thiết của người Việt Nam ở
hải ngoại là dạy tiếng Việt cho các em
thiếu nhi. Ngược ḍng
thời gian trở lại thời điểm 1975,
những người Việt tỵ nạn cộng sản
đến Mỹ hay đến các nước khác trên
thế giới, rất khó có thể thực hiện
việc dạy tiếng Việt cho con em ḿnh. Bây giờ, sau hai mươi tám năm
qua, việc dạy tiếng Việt cho các em thiếu nhi đă
được mọi người cũng như mọi
tổ chức, hội đoàn người Việt v.v.
nỗ lực tham gia thực hiện, cộng tác phát
triển để đạt được nhiều thành
qủa tốt đẹp.
Hiện nay, trên khắp Hoa Kỳ nói chung, đă có
rất nhiều các Trung tâm Việt Ngữ, các trường,
lớp dạy tiếng Việt.
Chúng ta, những người
Việt tỵ nạn Cộng sản dù ở bất
cứ nước nào trên thế giới, cũng có trách
nhiệm bảo tồn và phát huy văn hóa Việt. Như thế việc đóng góp
dù dưới mọi h́nh thức trực tiếp hay gián
tiếp và dù nhiều hay ít cũng là một điều
hợp lư và cấp thiết.
Trên thực tế, việc ''dạy tiếng Việt
cho các em thiếu nhi chính là một
trong những việc quan trong nhất để bảo
tồn và phát huy văn hóa Việt.
H́nh thức gián tiếp ''góp một bàn tay vào việc
dạy tiếng Việt cho các em nhỏ tức là khuyến
khích, cổ động và thúc đẩy
các em nhỏ nên hăng say học tiếng Việt. Thấu hiểu tâm lư, t́nh cảm,
tính t́nh ... các em nhỏ không ai hơn bằng cha mẹ
hoặc các anh các chị lớn trong gia đ́nh. Như thế việc khuyến
khích, thúc đẩy các em nhỏ học tiếng Việt được
dựa vào yếu tố ''tế nhị, khéo léo, linh động
của các bậc phụ huynh hay các anh, các chị lớn
trong gia đ́nh để gặt hái được thành
qủa mỹ măn. Bởi
thật khó mà bảo rằng có một công thức hay điều
luật nào rơ ràng để áp dụng chung cho mọi trường
hợp khuyến khích, thúc đẩy các em nhỏ học
tiếng Việt.
Nói về ''lối dạy tiếng
Việt, ta nôm na hiểu rằng có hai cách dạy:
* Dạy bằng sách vở, giấy
bút, ghi chép, có trường có lớp
* Dạy bằng lối ''truyền
khẩu tức không trường lớp, sách vở, bút
mực, ghi chép. Nghĩa là dùng cách nói chuyện, kể
truyện, đọc thơ văn đặc biệt là Thi
Ca Gian Dân để truyền dạy.
Trước khi nói về Thi Ca Dân
Gian, chúng tôi xin trích đăng một số đoạn
trong bài viết của Luật Sư Nguyễn Quốc Lân,
Uỷ Viên Hội Đồng Giáo Dục, Học Khu Garden
Grove. Bài viết với nhan đề
''Lợi ích của tiếng Việt như một ngoại
ngữ cũng đủ để nói lên tầm quan
trọng vô cùng của việc dạy và học tiếng
Việt. V́ khuôn khổ của
bài báo, chúng tôi chỉ trích dẫn một số điểm
quan trọng dưới đây
Trang 1:
Phong trào dạy tiếng Việt đă
được cộng đồng lưu ư nhiều hơn
trong nhiều năm qua, đặc biệt là qua nhiều
cuộc vận động đ̣i các trường công
lập mở lớp dạy Việt ngữ trong chương
tŕnh ngoại ngữ. Trong
nỗ lực này, những lợi ích của việc
dạy và học Việt ngữ như là một ngoại
ngữ vẫnchưa được tŕnh bày một cách
thỏa đáng.
Việc học Việt ngữ như
là một ngoại ngữ có nhiều điểm khác
với phong trào dạy Việt ngữ tại các trung tâm
Việt ngữ tại các nơi có đông người
Việt Nam. Phong trào dạy
Việt ngữ này thường chỉ nhằm vào các
trẻ em Việt Nam với mục tiêu duy tŕ tiếng
Việt và Văn hóa Việt Nam.
Tuy đây là đối tượng và mục tiêu
tốt, song chương tŕnh dạy và học Việt
ngữ cũng cần phải nhằm vào các đối tượng
không phải người Việt Nam và các mục tiêu ngoài
duy tŕ và phát huy Văn hóa Việt. . . . . . . . . . .
Trang 2:
Những lợi ích cho cá nhân và xă
hội.
Những lợi ích cho cá nhân và xă
hội hầu như là một bởi v́ những lợi
ích cho cá nhân nào đó thường cũng là lợi ích cho
cộng đồng hay xă hội liên hệ. Ví dụ, một người lính
cứu hỏa biết nói tiếng Việt th́ xă hội nói
chung cũng được lợi ích là có được
người lính chữa lửa biết xử dụng ngôn
ngữ đó khi cần thiết.
Những lợi ích này có thể là cơ hội
kiếm việc làm, làm việc cho chính phủ, hành nghề
chuyên môn, phục vụ cho an ninh quốc gia, giao thương
quốc tế, nghiên cứu trong các chuyên khoa, phong phú văn
hóa, tăng tiến sự hài ḥa trong xă hội hay duy tŕ và
phát huy Văn hóa Việt Nam.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Trang 5 và 6:
Những lợi ích về học
vấn.
Nhiều công tŕnh nghiên cứu khoa
học đă cho thấy rằng việc trau dồi một
ngoại ngữ, đặc biệt là từ những
lớp nhỏ, thường hay đi đôi với sự
phát triển về trí thông minh, tŕnh độ học
vấn hay khả năng thích ứng với môi trường
chung quanh. Kết qủa là các
em học giỏi hơn hay có điểm cao hơn.
Học
giỏi tiếng Anh hơn
Nhiều phụ huynh hay nhà giáo
dục thường hay cho rằng việc học một
ngoại ngữ như Việt ngữ có ảnh hưởng
bất lợi đối với khả năng tiếp thu
Anh ngữ. Kết qủa
nhiều cuộc nghiên cứu của Giáo sư Bialystok đă
cho thấy các học sinh khoảng 4 hay 5 tuổi có học
thêm một ngoại ngữ có khả năng đọc và
hiểu Anh ngữ cao hơn các học sinh khác. (Bialystok,
1997).
Kết qủa cuộc nghiên cứu
này có thể giúp nhiều phụ huynh Việt Nam bớt lo
lắng khi phân vân không biết nên khuyến khích con em ḿnh nên
hay không nên nói tiếng Việt ở nhà v́ sợ rằng khi
đến trường các em sẽ thua kém các bạn cùng
lớp. Thực ra, Bộ Giáo
Dục Hoa Kỳ hiện nay đang khuyến khích và
nhiều học khu đang mở những chương tŕnh
dạy ngoại ngữ cho các em ở cấp lớp 1 đến
lớp 5. Các chương tŕnh
này dự trên những nghiên cứu giáo dục cho thấy
rằng nếu các em được tiếp thu được
một ngoại ngữ từ lúc nhỏ, các em có khả năng
tiếp thu, lưu giữ, và xử dụng được
nhiều hơn. Và đồng
thời các em này có khả năng học giỏi hơn các
em khác.
Ngay cả khi các em học hoàn toàn
trong tiếng ngoại quốc hay nửa Anh ngữ nửa
tiếng mẹ đẻ (Half & half immerson program), các em
có khả năng không thua kém ǵ đối với các học
sinh khác. (Thomas, Collier, and Abbott,
1993). Một cuộc nghiên
cứu khác tại Louissiana cho thấy các học sinh có
lớp học ngoại ngữ hàng ngày có khuyng hướng được
điểm cao hơn trong các phần thi Anh ngữ so
với các em không có học một ngoại ngữ nào
(Rafferty, 1986).
Nhiều cuộc nghiên cứu khác đă
cho thấy một sự liên hệ mật thiết
giữa khả năng họcAnh ngữ và một ngoại
ngữ, (Barik & Swain, 1975; Genesee, 1987; Swain, 1981), Ủy Ban
Chấm Thi Vào Đại Học (College Entrance Examination
Board) cũng nhận thấy rằng các học sinh
khoảng từ bốn, năm ngoại ngữ trở lên
thường có điểm cao hơn trong phần Anh
ngữ trong các bài thi Scholastic Aptitude Test, thường được
gọi là SAT.
Một số dữ kiện nghiên
cứu tại Học Khu Garden Grove cho thấy tŕnh độ
học vấn của học sinh Việt Nam thường đi
đôi với mức độ thông thạo Việt
ngữ của các em (Lynn Saito, 2002).
Mức độ thông thạo ở đây có nghĩa
là các em có thể nói chuyện hay hiểu sơ sơ
tiếng Việt để các em có thể quan hệ thường
xuyên với phụ huynh hay bà con họ hàng. Kết qủa nghiên cứu này c̣n
cho thấy mức điểm học vấn của các
học sinh Việt Nam c̣n đi đôi với mức độ
Mỹ hóa (assimilliation) của các em hay phụ huynh của
các em.
Kết qủa này cho thấy ràng ngày
nào các em c̣n thông hiểu tiếng Việt, ngày đó các em c̣n
duy tŕ được mối liên hệ thường xuyên
với bố mẹ, họ hàng, hay sinh hoạt cộng đồng,
ngày đó các em có cơ may học giỏi hơn các học
sinh khác.
Trang 8.
Ảnh hưởng đến trí
thông minh
Có nhiều cuộc nghiên cứu cho
thấy rằng các học sinh có học được
một ngoại ngữ cá khả năng sáng tạo và
khả năng thông hiểu các vấn đề phức
tạp một cách khá hơn (Bamford & Mizokawa, 1991). Kết qủa các cuộc nghiên
cứu này c̣n cho thấy rằng những học sinh thông
thạo được một ngoại ngữ có khả năng
trội hơn các các em không biết ngoại ngữ trong các
cuộc trắc nghiệm về trí thông minh (IQ Test) (Bruck,
Lambert & Tucker, 1974; Hakuta, 1986; Weatherford, 1986.
Các kết qủa này cho thấy
rằng nếu các học sinh thông thạo một ngoại
ngữ như tiếng Việt chẳng hạn, các em có
khả năng thích ứng với các đ̣i hỏi của
trí khôn một cách khá hơn.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Trở lại Thi Ca Dân Gian, chúng tôi
trích dẫn những câu ca dao tục ngữ, ngạn
ngữ, phong dao, phương ngôn v.v. - gọi chung là Thi Ca Dân Gian từ bộ
Tục Ngữ Ca Dao và Thi Ca Dân Gian của soạn giả Lê
Gia. Ông là giáo sư Trung học
từ 1956 đến 1975 ở Sài G̣n và Gia Định. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông và anh
ruột ông sống tạm bợ bằng nghề buôn bán
sách cũ ở Sài G̣n. Chúng tôi
trích dẫn vài gịng dưới đây từ thư của tác giả:
''.
. . . . . . .và tôi sống tạm bằng nghề buôn bán sách
cũ. Người ta mua
về đọc mua về cho vào ḷ bát quái để tái sinh
cũng có . . . Rồi thấy
quyển nào có 'dính tới tục ngữ, ca dao th́ giữ
lại, soạn lại.
Mới đầu cũng chỉ nghĩ giữ làm
kỷ niệm. Sau gửi
lậu bản thảo sang Pháp nhờ một ông cựu giáo
sư, bạn đồng nghiệp ngày trước, xem có
xuất bản được không, nhưng không được
v́ rất tốn và chưa chắc đă có ai mua. Chúng tôi phải đợi đến
thời gian đổi mới, lúc đó cácsách cũ của
Tự Lực Văn Đoàn, chuyện Tầu v.v. . . được
xuất bản rầm rộ, chúng tôi mới t́m cách xoay
sở để xuất bản bộ Tục Ngữ Ca
Dao, Thi Ca Dân Gian này.
.
. . . . . . . .
Thực
ra Tục Ngữ Ca Dao là do tiền nhân để
lại, có ai là tác giả đâu, ḿnh có thêm được
câu nào đâu. Ḿnh chỉ làm
công việc sắp xếp lại, so sánh các tài liệu tham
khảo với nhau, làm cho kỹ hơn các sách cùng
loại. Đem những
dị dạng lên để so sánh và cuối cùng theo ḿnh th́
như thế nào, như thế nào hợp lư cũng như để
mở rộng đường dư luận v.v. Sau mấy năm trời th́
việc in mới xong ...
Trong phạm vi bài viết và cũng để
góp một bàn tay nho nhỏ gián tiếp vào công cuộc
bảo tồn và phát triển văn hóa Việt, chúng tôi xin
nói về Thi Ca Dân Gian như là một lợi khí đặc
biệt cho lối ''dạy truyền khẩu. Bởi thi ca dân gian
thuận lợi cho cả hai đối tượng
''dạy và học v́ tính chất dễ nói,
dễ hiểu, dễ nghe, dễ nhớ. Những trích dẫn của chúng
tôi được lấy từ bộ Thi Ca Dân Gian và
Tục Ngữ Ca Dao của tác giả Lê Gia.
Tiếng nói là biểu hiện
của tâm hồn. Tâm hồn
càng cao rộng th́ tiếng nói sẽ có lời hay, ư đẹp
và được chuyển thành câu ca tiếng hát.
Dân tộc Việt Nam với hơn
bốn ngàn văn văn hiến, có một tiếng nói và
một giọng nói đặc biệt, độc âm
với tám thanh nên chỉ cần bốn tiếng nói là đủ
có thể trở thành một câu ca ngắn gọn, đủ
cả ư tứ, vần vè.
Thế nên, người nước ngoài đă có
nhận xét: người Việt Nam nói như hát. Nhận xét này không lấy ǵ là qúa đáng.
Những câu ca tiếng hát ấy có
tự ngàn xưa, phát xuất từ dân giả, ghi lại
những phong tục tập quán
bao đời của dân Việt. Nó chẳng phải chỉ riêng để
tỏ t́nh mà c̣n tỏ ư có tính
cách giáo dục, chỉ dẫn cho ta sống sao cho nên người. Nó khởi đầu ngay từ
Kinh Dương Vương dựng nước rồi các đời
sau lại bồi đắp thêm và cho tới bây giờ, đă
thành kho tàng văn chương với hàng vạn, hàng
vạn câu ca tiếng hát b́nh dân tức là thi ca dân gian.
Đó là vốn qúy của dân tộc
Việt và cũng là của chung của nhân loại trong kho
tàng ngôn ngữ. Với chúng ta,
đó là quốc hồn, quốc túy Việt Nam. Và đó cũng là hănh diện, là
niềm vui của dân Việt ở khắp mọi nơi
trên thế giới.
Bộ
Tục Ngữ Ca Dao và Thi Ca Dân Gian của Lê Gia sưu
tầm, biên soạn gồm mười bảy
quyển. Trong khuôn khổ bài
viết, chúng tôi xin trích dẫn phần T́m hiểu khái quát
về nền thi ca dân gian trong quyển một chủ đề
Ư Đẹp và trích dẫn một số câu ca dao, tục
ngữ, phong giao trong quyển một - Dẫn giải - của bộ Tục Ngữ Ca Dao
nói trên.
Trước
hết, là phần T́m hiểu
khái quát về THI CA DÂN GIAN Nó
là thi ca v́ nó là các nhóm từ đọc nghe xuôi tai và đầy
ư nghĩa, là những câu văn có vần có điệu, là
những bài ngâm, bài hát. Nó
thuộc về dân gian v́ nó dựa theo phong tục dân
tộc, nó từ quần chúng nhân dân mà ra và được
toàn dân sử dụng. Không
riêng một thành phần nào, một giai cấp nào, từ
vua quan cao sang cho tới người dân nghèo khổ ai mà
không biết tới nó ít nhiều.
Tác giả của nó là những nho sĩ, nghệ
sĩ, thương gia, thợ thuyền, nông phu ... và cả
những trí thức đại khoa bảng nữa. Nó là Thi ca dân gian cũng như Câu
truyện dân gian có xuất xứ từ dân chúng và được
truyền khẩu trong dân chúng, sau đó được
chấp nhận nó mới được ghi vào sách vở.
Nó không phải là Thi ca b́nh dân v́ nó nó
không phải của riêng giới b́nh dân và cũng chẳng
phải thi ca bất thành văn dù ta có hiểu chữ văn theo nghĩa nào đi nữa như
lâu nay đă có nhiều người đặt tên cho nó mà
chúng tôi sẽ đề cập dưới đây.
Thực
ra, từ cổ đại tới những ngày gần đây,
khi dân tộc ta chưa có hay mới có văn tự, đối
với dân chúng, th́ đó là những câu ví để tỏ ư
và những câu vè để tỏ t́nh. Sau đó, tiến bộ hơn và
có tính tập thể hơn nó lại có thêm các câu hát (lúc đầu
gọi là hót như chim hót chăng)
gồm cả ví và vè, cả ư và t́nh. Người ta gọi : Nói ví, ḥ vè
và hát (sau này gọi là Dân ca)
.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
-
Tục ngữ, gồm các câu ví (Tỏ ư).
-
Phong dao, gồm các câu vè (Tỏ t́nh). Khi đọc và ngâm lên th́ gọi
là hát, ḥ ...
Gần
đây, tiến bộ hơn, các câu hát súc tích hơn, có
tiết tấu hơn, người ta mới tách riêng các câu
hát ra và gọi là dân ca.
Như
vậy nền Thi ca dân gian này có ba thể loại chính là:
Tục ngữ, Phong dao và Dân ca.
Vậy:
a- Tục ngữ: Bao gồm tất
cả những câu mà ta thường gọi riêng ra là Thành
ngữ, Ngạn ngữ, Sấm ngữ, Mê ngữ và Phương
ngôn, Cách ngôn, Châm ngôn, Ngụ ngôn, Túy ngôn ... Đó là tất cả các văn
thể tỏ ư, có vần hay không vần, có đối hay
không đối, có thể nói như thường hay gằn
giọng hoặc ngâm lên được. Tất cả đều dựa
theo phong tục, và thường được chêm vào khi
nói chuyện để ví việc nọ với việc kia
cho thêm rơ ư nghĩa của câu nói.
b- Phong dao: Bao gồm những câu văn
vần ngắn dài để tỏ t́nh, thường được
ngâm lên, ḥ lên, hát lên và chỉ dùng thanh nhạc. Nó có một giọng điệu
gần giống nhau và đa số là ở thể lục
bát hoặc song thất lục bát, được ngâm lên, ḥ
hát khi có cảm hứng. Nói
rộng ra th́ nó bao gồm cả Đồng dao và Lư ca (hay
Lư ngữ) nữa. Tất cả đều dựa theo phong
tục, nghề nghiệp ...
a-
Dân ca: Thường do
một số Tục ngữ và đa số là Phong dao được
ghép lại thành bài hát, có tiết tấu, có chương
khúc, nhiều giọng điệu, có thể kèm theo nhạc
khí, có thể tŕnh diễn trước đám đông có
bối cảnh phụ họa.
Chúng gồm nhiều thể loại và chỉ với
một câu Phong dao người ta có thể đổi ra
nhiều giọng điệu: ḥ, ru, hát lư, hát dặm, ḥ
thai, bài cḥi. Với nội dung tỏ ư, tỏ t́nh nó cũng
dùng để hát chơi theo phong tục, nghề nghiệp
của mỗi nơi.
b-
Tiếp theo dưới đây,
là phần ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CÁC LOẠI TỤC
NGỮ PHONG DAO VÀ DÂN CA.
a- Tục ngữ
Theo
Hán tự th́ chữ tục có hai nghĩa:
- Thói quen, nếp sống có từ
lâu đời của một nước, một vùng. (phong
tục, tục truyền, thế tục).
- Tầm thường, thấp kém
(thô tục, tục tằn)
Và
chữ ngữ có nghĩa là:
- Nói, lời nói, tiếng nói của
một dân tộc (ngôn ngữ, thuật ngữ, ngữ pháp)
Vậy
Tục ngữ là câu nói dựa theo phong tục và ăn sâu
vào tư tưởng mọi người, được
mọi người chấp nhận và truyền
tụng. Đó là câu nói dựa
theo câu nói thường ngày mà thành thói quen phong tục, thói thường
... và tất nhiên là phải lâu đời.
Có
người lại hiểu theo nghĩa thứ hai của
chữ tục mà cho rằng chữ Tục ngữ là câu nói
thô tục, quê mùa không văn vẻ (Bất thành văn)
thuộc đám b́nh dân. Bởi
vậy nên họ mới gọi Tục ngữ, Phong dao là Thi
ca b́nh dân hay Thi ca bất thành văn v́ chỉ truyền
miệng.
Thực
ra Tục ngữ của ta chẳng thô tục chút nào, ngay
cả những câu thông thường nhất như: Được
bữa cỗ lỗ buổi cày cũng đă có đày đủ
tính cách văn chương rồi.
Riêng có đôi câu Lư ngữ (thường thuộc Phong
dao) th́ tuy lời có thô tục nhưng lại lột được
ư thanh.
Nếu
cho rằng câu nói ở thôn quê là thô tục th́ hăy thử so
sánh hai câu:
Cái
ṿng danh lợi cong cong
Kẻ ḥng ra khỏi, người
mong bước vào.
Và:
Trê
lờ đờ đỏ lừ con mắt,
Lóc bên ngoài lúc lắc muốn vô.
Có
lẽ câu trên là của một danh sĩ nơi thành thị
c̣n câu dưới là của một người nhà quê.
Hai
câu này có ư nghĩa tương tự nhau nhưng câu nào thanh,
câu nào tục, câu nào sâu sắc và kín đáo, câu nào nông
cạn và lộ liễu. Theo ư
chúng tôi th́ sâu sắc kín đáo là thanh, c̣n nông cạn lộ
liễu là tục. Tục
ngữ Việt Nam đa dạng, độc đáo và có giá
trị ở chỗ đó. Hơn
nữa có hàng ngàn câu Hán tự, với điển tích tràn đầy
th́ ta có thể coi đó là thô tục của tầng lấp
b́nh dân hoặc là bất thành văn được không
? Đúng ra Tục Ngữ của ta là Túi khôn của con người,
ai học được chừng nào th́ nên chùng nấy.
Bây
giờ ta lại xét xem thế nào là một câu Tục
ngữ:
Xét
về nội dung th́ tục ngữ là một câu, hay một
nhóm từ có thể thay cho một câu trọn nghĩa, dù dài
ngắn tự nó tự nó đă diễn đạt trọn
vẹn một ư nghĩa, nhận xét và phán xét phải trái,
một kinh nghiệm, một lư lẽ hay một sự
khuyên răng nào đó, nói chung là có tính cách giáo dục để
theo đó mà sống ở đời. Thường th́ nó có hai nghĩa tương
đối nhau hay kháng đối nhau để bật ra
một ẩn ư.
Tục
ngữ nặng về giáo dục và thuộc về lư trí để
tỏ ư. Thí dụ:
- Được voi, đ̣i tiên
- Nước giữa gịng chê trong chê
đục,
Vũng trâu nằm h́ hục khen ngon.
- Khôn cho người ta dái, dại
cho người ta thương, dở dở ương ương,
tổ người ta ghét.
(Dái hay Rái: Nể sợ, kiêng dè.
Tổ: Để cho, thành ra ...)
Xét
về h́nh thức th́ Tục ngữ là một câu có ư
nghĩa cô đọng tối đa, có hàm ư, ngụ ư, ẩn ư tức nghĩa bóng và có
vần có đối hoặc đọc lên nghe xuôi tai
tức có chất thơ, chất nhạc. Như vậy phải có từ
bốn tiếng trở lên để âm thanh có thể được
chia làm hai phần tương đối, nó là những câu nói
ít hiểu nhiều.
Ngoài
những câu ở thể song thất lục bát, thường
mỗi câu được chia làm nhiều vế, có vần
với nhau. Ví dụ:
- Bụng no, c̣ đói.
- G̣ với núi cũng kể là
loại cao, bể với ao cũng kêu là loại trũng.
- Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả
tơi xem hội, bối rối xem đám ma, bỏ cửa
bỏ nhà đi nghe giảng đạo.
Một
số câu khác chỉ có một vế nhưng khi đọc
lên nghe xuôi tai. Ví dụ:
- Trâu chậm uống nước đục.
- Đánh dấm sao cho vừa
miệng làng.
Hoặc
có chia vế, có đối nhưng không vần. Như:
- Cha cầm khoán, con bẻ măng.
- Đời cha ăn mặn, đời
con khát nước.
Thời
xưa, người ta gọi câu những này là câu ví. Lúc nói chuyện thường chêm
vào để ví von, so sánh, nói kín lấy sự này để
so sánh, để giải thích sự kía ...
Vậy
nên sau này người ta dùng từ ngôn hay ngữ để đặt
tên cho nó, nào Tục ngữ, Ngạn ngữ rồi Phương
ngôn, Cách ngôn ...
Tục
ngữ không chỉ là câu nói thường mà là câu nói có
giọng điệu, có tính thơ với những gieo
vần, âm hưởng ngâm nga, cũng như có những
gằn giọng hoặc kéo dài hơi v.v đó cũng là
nhờ tiếng nước ta có nhiều âm thanh vậy.
Đọc
Tục ngữ, ta có thể ngâm lên, vậy Tục ngữ là
một loại thơ đa dạng, nócó thể bảo như
là phôi thai của các thể thơ sau này: bốn chữ, năm
chữ, sáu bảy chữ
và thường là
nồng cốt của Phong dao, Dân ca. C̣n về các câu Ví của ta
gọi là Tục thi hay Thơ
cổ tục th́ cũng không sai mấy.
Tục
ngữ được dùng rộng răi trong các câu nói thường,
các câu văn xuôi, văn vần.
Phong dao và Dân ca là nồng cốt của các câu ấy.
Theo
nghĩa hẹp và đơn thuần th́ Tục ngữ là
một loại Thi ca gồm các câu kể trên. Theo nghĩa rộng và bao quát th́
Tục ngữ bao gồm cả các loại như: Thành
ngữ, Ngạn gnữ, Sấm ngữ, Mê ngữ, Phươngngôn,
Cách ngôn, Châm ngôn, Ngụ ngôn, Túy ngôn, Phong dao, Đồng dao,
Lư ca, Dân ca, Ca dao.
Thành ngữ
Theo hán tự, chữ ''thànhcó
nhiều nghĩa:
- Trở nên, nên việc (lập thành,
sinh thành)
- Một phần của sự
việc (thành phần, thành viên, vàng thập thành 10/10
Thành ngữ là một phần
của câu, do một số tiếng góp nên, nhưng lại
là thành phần quan trọng. Nó
là một nhóm từ, cụm từ trơn tru, thường
không chia vế, không vần và được dùng trong câu
nói, câu văn, câu thơ, câu hát.
Nó chỉ có một nghĩa, không có ngụ ư giáo
dục mà là để làm cho ư chính của câu nổi bật
lên và nó đủ cả hai nghĩa chữ ''thành. Do đó số lượng
của thành ngữ rất
nhiều, ở đây chúng tôi chỉ xin trích dẫn lại
phần nào thôi mà đó cũng là thành ngữ thường
nằm trong Tục ngữ, Ca
dao.
Thành ngữ có từ ba tiếng
trở lên, ít hơn 3 tiếng là tiếng kép hay tiếng đơn. Thí dụ:
- Gầy như tăm - Aùo rách
quần manh - Chui bờ rúc bụi.
Và trong Tục ngữ như:
- Nói phải như găi chỗ
ngứa
Hoặc trong câu Phong dao:
- Một ngày hai bữa cơm đèn,
C̣n ǵ má phấn răng đen
hỡi chàng.
Nhóm chữ ''găi dung chỗ ngứa
và ''má phấn răng đen là hai Thành ngữ. Thế nhưng ''Găi trúng chỗ
ngứa lại là một câu Tục ngữ. Nó ngụ ư (nghĩa bóng) và thay cho
một câu trọn nghĩa: Làm đúng việc, làm có lợi ...
C̣n như câu Tục ngữ: ''Ăn
như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như
mèo mửa lại là do ba câu Tục ngữ ngắn ghép
lại. Hoặc trong một
câu nói khác như: ''Thói thường, với mấy kẻ ăn
trắng mặc trơn dễ sinh ra cảnh bụng no c̣ đói, th́ ở đây ''ăn trắng mặc trơn là một Thành ngữ v́ nó chỉ có một
nghĩa rơ ràng là ăn sung mặc sướng, c̣n ''Bụng
no c̣ đói lại là một câu tục
ngữ tuy rằng nó có h́nh thức của một Thành
ngữ với chức năng tĩnh tự, trạng
tự nhưng lại chứa
hàm ư, ẩn ư là: sung sướng th́ dể sinh ra làm
bậy. Khi viết một câu
văn, phần Tục ngữ nên đóng ngoặc kép, c̣n
Thành ngữ th́ không.
Về h́nh thức, Thành ngữ và
Tục ngữ thường khá giống nhau. Ví dụ:
- Rào đường ngăn
lối. Đó là Thành ngữ v́
tuy có hai vế và hai việc giống nhau không đối
nghịch hay tương xứng nên không sinh ra một
nghĩa khác. Rào đường
cũng vậy mà ngăn lối cũng thế, dùng luôn hai
chữ là để nhấn mạnh, làm mạnh thêm lên thôi
chứ không đổi ư. Nhưng
mà: ''Rào trước đón sau lại là một câu Tục
ngữ và nó cũng có thể chỉ là một Thành ngữ
khi căn cứ trên cách dùng nó.
Nếu ta dùng trong một câu thông thường như:
''Họ rào trước đón sau rồi, ta khó thoát nổi
th́ đó là một Thành ngữ v́ nó chỉ có nghĩa là bao
vây kỹ lưỡng trước sau, không có ngụ ư phán
xét ǵ cả. C̣n như nếu
ta dùng nó trong một câu có tính cách giáo dục, khuyên răn như:
''Người không ngoan khi ăn nói phải rào trước đón
sau th́ nó lại được coi là một câu Tục
ngữ v́ nó ngụ ư khuyên răn là phải thận trọng
trong mọi mặt, rào trước mà không đón sau cũng
chưa đủ, như thế nó thay cho một câu
trọn nghĩa.
Lại thêm câu: ''Qủy tha, ma
bắt là một câu Tục ngữ rút ngắn của nguyên
câu: ''Qủy tha ra, ma bắt lại, nó cùng nghĩa với
câu: ''Quan tha, Nha bắt. Câu này
có nghĩa là: bị qủy bắt rồi qủy mới
tha ra th́ bị ma bắt lại có ư nói là gặp tai họa
dồn dập, hết cái xui này tới cái xui khác, vừa chưa
kịp mừng th́ lại gặp lo ... Thật là qúa rơ ràng
về ư nghĩa. Tuy nhiên trong
một vài trưóng hợp đă dùng câu ''qủy tha ma
bắt như một thành ngữ v́ đă hiểu
nghĩa chữ ''tha'' là mang xách đi bằng cách cắn
ở miệng như mèo tha chuột, kiến tha mồi
(kiến tha lâu đầy tổ) ... Thí dụ như câu: ''Tôi không ưa
thằng qủy tha ma bắt ầy. Như thế tha và bắt đều
cùng một hành động nên câu qủy tha ma bắt đó
trở thành một thành ngữ.
Sự thực, v́ không hiểu hết ư nghĩa
của câu tục ngữ ''Qủy tha ma bắt với nghĩa chữ THA trái ngược
nghĩa chữ BẮT tức hai hành động khác nhau
của qủy và ma nên mới đổi từ Tục
ngữ ra thành ngữ chăng?
Có những câu rất giống nhau
về h́nh thức, ví dụ: ''chậm như rùa ḅ là
một thành ngữ c̣n câu ''đi
như rùa ḅ lại có thể hiểu như là một câu
Tục ngữ v́ có ẩn ư là đi
chậm và có tính cách phán xét.
Điều cần lưu ư: Tục
ngữ là một câu thơ - c̣n thành ngữ chỉ là một
nhóm từ. Cho nên câu: ''Ăn cướp
cơm chim là một câu Tục ngữ, c̣n câu ''cướp cơm
chim tuy có cùng ẩn ư nhưng chỉ có ba tiếng, không
thể ngâm lên được, chưa có tính thơ nên coi như
một thành ngữ.
Như vậy, nói cho cùng, cho rộng
răi, cho rốt ráo, đa số thành ngữ khi được
hiểu rộng ra cũng coi như Tục ngữ, hơn
nữa, nó cũng chính là phôi thai của Tục ngữ. Sự phân biệt này rất
phức tạp, và để dễ hiểu ta có thể
bảo: trong khuôn khổ hẹp, thành ngữ khác Tục
ngữ; trong khuôn khổ rộng, thành ngữ nằm trong Tục
ngữ.
Bởi những lư do trên, xét về
h́nh thức lẫn nội dung, thành ngữ là phôi thai
của Tục ngữ nên chúng tôi xếp nó vào phần
Tục ngữ ngoại trừ một số thành ngữ có
ba tiếng trở lên.
Ngạn ngữ
Theo Hán tự, chữ 'Ngạn' là:câu
nói có từ lâu đời được lưu truyền
trong một vùng, một nước (tất nhiên là dựa
theo phong tục).
V́ vậy có nhiều người
dùng từ 'ngạn ngữ' thay cho 'Tục ngữ'.
Sấm ngữ
Theo Hán tự, chữ 'sấm' có
nghĩa là: nghiệm đúng theo sự việc đă
xảy ra (sấm Trạng).
Sấm ngữ là những câu nói đoán trước
những sự việc tương lai như: 'Mặt
rỗ, tổ ghen' hoặc 'Chớp Đông nhay nháy, gà gáy th́
mưa' (đoán thời tiết) ...v.v.
Mê ngữ
Theo Hán tự chữ 'mê' có nghĩa
là: mơ hồ, không rơ (u mê, đê mê ...)
Mê ngữ là những câu đố có
ẩn nghĩa như: 'Đầu bằng con ruồi, đuôi
bằng cái dĩa' (lá trầu).
Phương ngôn
Theo Hán tự chữ 'Phương'
có nghĩa là: hướng phía (phương hướng) -
vùng đất (địa phương) - Vuông vắn, ngay
thẳng có cách thức (phương pháp, phương phi)
Chữ 'Ngôn' có nghĩa là: nói,
lời nói, câu văn (ngôn ngữ, phát ngôn)
Vậy phương ngôn có nghĩa
là:
1- Tiếng nói hoặc một câu văn
hay của một vùng nào đó như: Trai Cầu Vồng
Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim
2- Câu nói chỉ hướng cho ta
theo, phương pháp cho ta dùng như:
Bầu ơi thương lấy bí
cùng.
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Phương ngôn với nghĩa
nhận xét và giáo dục như trên được coi như
là một loại Tục ngữ ở thể khác.
Cách ngôn
Theo Hán tự chữ 'Cách' có nghĩa
là: lề lối, phép tắc (cách thức, phương
cách). Cách ngôn có nghĩa là câu
nói hay, dùng làm phép tắc mà theo.
Vậy Cách ngôn cũng như Phương ngôn là
một loại Tục ngữ.
Châm ngôn
Theo Hán tự chữ 'châm' có nghĩa
là:
- Cái kim khâu (châm chích), châm tuyền là
kim chỉ
- Khuyên răn (châm biếm)
Châm ngôn có nghĩa là lời nói răn
đời, lời nói dùng làm kim chỉ đường cho
cuộc sống. Phương
châm là kim chỉ hướng đi; vậy châm ngôn cũng
giống Phương ngôn và cũng là một loại
Tục ngữ.
Ngụ ngôn
Theo Hán tự chữ ngụ có
nghĩa là ở đậu, ở nhờ, ở
gửi (cư ngụ, cư trú, ngụ ư). Ngụ ngôn là lời nói có ư bên
trong. Tục ngữ là một
câu nói có ngụ ư, vậy ngụ ngôn cũng coi như là
một loại Tục ngữ.
Túy ngôn
Theo Hán tự chữ 'túy' có nghĩa
là của cải, gia sản, tức là cái hay, cái qúy, cái đẹp
(tinh túy). Túy ngôn là lời nói
hay và đẹp để ta noi theo, nó cũng là một
loại Tục ngữ.
Qua sự phân tích như trên ta
thấy: Phương ngôn, Cách ngôn, Châm ngôn, Túy ngôn ... là
loại Tục ngữ nói về cư xử. C̣n Sấm ngữ, Mê ngữ nói
về công việc làm ăn, chơi bời. Tất cả đều gọi
chung là Tục ngữ.
PHONG DAO
Theo Hán tự chữ 'phong' có
những nghĩa sau:
- Gió (phong vũ, phong lưu)
- Cảnh vật ở trước
mắt (phong cảnh)
- Nếp sống lâu đời theo
thời gian (phong tục, gia phong)
- Dáng điệu bên ngoài, bên trong (tác
phong. Phong cách, phong độ)
Chữ 'giao' có hai nghĩa:
- Hát ngắn, bài hát câu hát không thành chương
khúc, ít giọng điệu, chỉ dùng thanh nhạc, không có
nhạc khí phụ họa, dùng ngâm hát chơi tùy hứng,
không tŕnh diễn với sân khấu và bối cảnh.
-
Lời đồn đại, nói vô bằng ớ,
không biết xuất xứ (dao ngôn, dao tục)
Vậy Phong dao có nghĩa là những
câu, những bài hát ngắn chưa thành chương khúc, ít
giọng điệu, dựa theo phong tục tập quán và được
truyền tụng lâu đời, không rơ tác giả và
xuất xứ, đôi khi có tính cách đồn đại
về một việc ǵ.
Xét về nội dung, Phong dao là
những câu hát thuộc về cảm xúc, hứng khởi
mà hát lên, nó dùng để
'tỏ t́nh'. Nội dung
thường nhắc nhở và ca tụng t́nh yêu mọi người,
t́nh yêu nam nữ, t́nh yêu thiên nhiên, t́nh yêu cái đẹp và
việc làm.
Phong dao thường ở thể lục
bát hay song thất lục bát như:
- Có
trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm
- Nụ tầm xuân nở ra xanh
biếc
Em có chồng rồi anh tiếc
lắm thay
-
Cầm tay, anh nắm cổ tay,
Ngày xưa em trắng mà rày em đen
...
Phong dao cũng bao gồm cả Đồng
dao và Lư ca, Lư ngữ ở thể bốn, năm, sáu
tiếng và các thể khác như:
- Tay cầm con dao,
Làm sao cho sắc ...
- Kỳ nhông là ông kỳ đà,
Kỳ đà là cha cắc ké ...
Nhiều bài Phong dao bên trong có Tục
ngữ như:
- Chó gầy hổ mặt người
nuôi (Tục ngữ)
Tôi gầy hổ mặt chúa tôi chăng
là ...
Hoặc do nhiều câu Tục
ngữ (Phương ngôn) ghép lại:
- Con vua lấy thằng bán than
Nó đưa lên ngàn cũng phải đi
theo (Tục ngữ)
- Con quan Đô Đốc, Đô Đài,
Lấy chồng thuyền chài
cũng phải lụy mui (Tục ngữ)
Đồng dao
Theo Hán tự chữ 'đồng' có
nghĩa là đứa trẻ, con nít (tiểu đồng,
mục đồng)
Vậy Đồng dao là những câu
hát, bài hát ngắn không rơ
xuất xứ của trẻ con hát chơi hay đồn đại
một sự việc ǵ như:
- Ông
tiển ông tiên
Ông có đồng tiền ...
- Thằng cuội ngồi gốc
cây đa,
Để trâu ăn lúa, gọi cha
ời ời ...
Đồng dao là một loại 'vè'
nên thuộc Phong dao.
Lư ca (Lư
ngữ)
Theo Hán tự chữ 'lư' có ba
nghĩa:
- Nhàn dỗi, rảnh rang, lười
biếng không có việc làm.
- Quê mùa, vụng về, thô lỗ,
thấp hèn. (Hương lư)
- Bài hát ở nơi đồng quê
(Hát lư)
Vậy Lư ca, Lư ngữ hay Hát lư là câu
hát nơi đồng quê, được hát một cách
thản nhiên, một cách nhàn nhă như:
- Trời mưa lâm dâm,
Cây trâm có trái ...
- Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo xổ lồng,
sáo bay ? ...
Xét ra chữ ca (Lư ca) ở đây
dùng chưa được chỉnh, mặc dù trong Lư ca
cũng có một số bài đủ cả chương
khúc, tiết tấu; và v́ vậy mà dùng chữ 'ngữ'th́
lại 'cưỡng dụng' (dùng gượng ép). Cũng như Đồng dao, Lư
ngữ cũng là một loại 'vè' nên thuộc Phong dao.
Xưa kia, trong những câu hát có âm
thanh hợp nhau nghe vui tai, tiền nhân ta gọi là 'vè'. Về sau dưa vào chữ
'vận' của tiếng Hán đổi nôm ra là 'vần'
(vần vè). Xét cho kỹ th́ các
câu và bài 'vè' của ta vừa là Thi vừa là Dao. Vè có nhiều về h́nh thức,
thể loại: tứ tư, ngũ ngôn, lục bát ... nên ta
thường gọi là hát vè, ḥ vè, bắt vè và đọc thơ
vè.
Điểm đặc biệt là
Phong dao được dùng rất rộng răi, biến đổi
ra hàng trăm giọng điệu Dân ca và nhiều thể
thơ hiện đại.
DÂN CA
Theo Hán tự chữ 'ca' có nghĩa
là hát lên, tiếng hát, câu hát, bài hát có giọng điệu,
tiết tấu, chương khúc.
Vậy Dân ca là bài hát, câu hát của
dân gian không phải của riêng giới chuyên nghiệp nhà
nghề nào đó. Về
nội dung Dân ca là những bài hát trữ t́nh, xuất
xứ ở từng địa phương, do từng
ngành nghề. Về h́nh
thức Dân ca là những bài hát thực sự có đủ
giọng điệu, tiết tấu, nhịp phách, có chương
khúc hẳn hoi, nặng về tính nhạc và được
chính danh là 'hát' hay 'ḥ'.
Mang nặng tính cách dân gian, phần
lớn các bài Dân ca đă dựa vào các câu Tục ngữ,
Phong dao mà tạo dựng nên bằng cách thêm vào các tiếng đệm,
tiếng láy, tiếng chuyền hơi, những điệp
khúc ... Do đó Dân ca rất
nhiều giọng điệu tùy theo những tiếng đệm
ấy dài hay ngắn, trầm hay bổng v.v...
Thí dụ với câu Phong dao
Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo xổ lồng,
sáo bay.
Người ta có thể hát thành: ru
con, c̣ lả, trống quân, hát đúm, hát dặm, ḥ lư, đối
đáp, bài cḥi, lô t v.v... Nói
chung, một câu thơ văn khi ngâm xướng tùy hứng
là Phong dao c̣n khi được sắp xếp thêm thắt để
hát lên trịnh trọng với hàng trăm giọng điệu
dân ca th́ gọi là 'Hát' va 'Ḥ'.
Ngoài ra c̣n có rất nhiều bài Dân ca được
sáng tác theo nhiều cách thức riêng. Bởi vậy ta khó mà sưu
tầm hết được.
CA DAO
Hai chữ CA và DAO có hai nghĩa khác
nhau như hai chữ 'thi' và 'phú'.
Sách ''Cổ dao ngạn (Phong dao,
ngạn ngữ xưa) viết: Ca và Dao khác nhau ở
chỗ Dao có thể dùng làm lời của Ca. Sách Mao truyện (Truyện hay
chọn lọc) viết: ''Khúc hợp nhạc viết Ca, đồ
ca viết Dao'' có nghĩa: khúc hát có đệm nhạc là Ca,
hát trơn (không đệm nhạc) là Dao.
Vậy một bài hát không thể
vừa là Ca vừa là Dao nên không có bài hát nào được
gọi là bài Ca Dao cả.
Một bài hát chỉ có thể là bài Ca hay bài Dao
thôi. Như thế khi nói Ca Dao
có nghĩa là gồ m những bài Ca và Dao cũng như Thi
Phú là nói về về những bài Thi và bài Phú chứ không
phải bài nào cũng là bài Thi Phú cả.
Nền ''Thi ca dân gian'' của chúng ta
gồm ba thể loại chính: Tục ngữ - Phong dao - và
Dân ca tức là 'Ví', 'Vè' (hót) và 'Hát'.
NGUỒN GỐC và LỢI ÍCH của
TỤC NGỮ CA DAO
Tiếng nói là biểu hiệu
của tâm hồn, lư trí và t́nh cảm. Lúc đầu, dân tộc ta c̣n
trong t́nh trạng sơ khai, tâm hồn c̣n hạn hẹp th́
tiếng nói ắt c̣n nghèo hèn.
Bởi khi mới có tiếng nói, dân ta chỉ nói
một số tiếng hạn chế trong đời
sống hàng ngày. Lần
lần, theo quy luật tiến hóa tự nhiên, dân ta phát
triển, mở mang về mọi mặt từ tâm hồn đến
vật chất ... Về ngôn
ngữ, tăng tiến từ tiếng đơn (một
tiếng) lên tiếng đôi, tiếng kép ... tiếng đếm,
so sánh v.v...
Rồi mỗi ngày con người
càng thêm khôn ngoan, lư trí và t́nh cảm phát triển, người
ta lấy những tiếng một, tiếng đôi đă có
ghép với nhau mà lập nên những nhóm chữ gọi là
Thành ngữ nghe xuôi tai và rông thêm nghĩa như: 'đau như
hoạn', 'ăn trên ngồi trốc' ... Ở thời xa xưa ấy, ta
có thể bảo đó là một loại thơ rồi
vậy.
Càng ngày con người càng có kinh
nghiệm sống hơn, và để bày tỏ tâm hồn
ḿnh, người ta đặt các thành ngữ vừa xuôi tai
vừa vần vè cho dễ nhớ lại vừa đủ
nghĩa, vừa cô đọng ... để dạy đời. Đó là các câu Ví tức Tục
ngữ ngày nay.
Thành ngữ chuyển qua Tục
ngữ, và Tục ngữ có từ bốn tiếng tới
ba bốn chục tiếng và có vần vè hơn, có chất
thơ với ư tứ dồi dào hơn.
* Có những câu vần vè sát nhau
ở cuối vế trên và đầu vế dưới như:
Quan tha, Nha bắt
* Có vần cách nhau một tiếng
như: Được tiếng khen, ho hen chẳng c̣n -
Thuốc Nam đánh giặc,
thuốc Bắc trả
tiền.
Với những câu này về sau người
ta đặt các câu 'Vè', Đồng dao, Lư ca rồi thơ
bốn, năm, sáu chữ và thơ mới ...
* Có vần cách nhau hai tiếng như:
Chơi với quan viên Thanh Lâm như
giáo đâm vào ruột
* Có vần cách nhau ba tiếng như:
Của ngon chẳng đến
mẹ con nhà mày
Với những câu này, nếu
tiếng cuối của vế trên là thanh 'trắc' và
của vế dưới là thanh 'bằng' th́ sau này trở
thành thể 'song that biến thể' như:
Làm như ngày mùa để đâu cho
hết (trắc)
Ăn như ngày Tết lấy ǵ mà ăn
(bằng)
C̣n nếu tiếng cuối của
cả hai vế đều là thanh 'bằng' th́ sau này
trở thành thể 'lục bát biến thể' như:
Con vua th́ lại làm vua (bằng)
Con nhà săi chùa lại quét lá đa.
(bằng)
* Có vần cách nhau bốn tiếng
và nếu tiếng cuối vế trên là thanh 'trắc' th́ sau
này trở thành thể 'song thất' như:
Khôn ngoan tới cửa quan mới
biết (trắc)
Giầu có ba ngày Tết mới hay.
* Có vần cách nhau năm tiếng và
nếu tiếng cuối của vế trên là thanh 'bằng'
th́ sau này trở thành thể 'lục bát' như:
Yêu nhau chin bỏ làm mười
Ghét nhau kể chin mười đời
nhau ra
* Lại có những câu vần mà
khoảng cách không đều như:
Băm chẳng lỗ, bổ
chẳng vào, ném ao chẳng ch́m.
Tục ngữ dùng để 'tỏ
ư' và thường được đọc kèm theo
những câu nói hàng ngày để ví von, để so sánh
việc này với việc kia trong tinh thần chỉ
bảo lẫn nhau, vậy nên mới gọi là câu ví. Ở thời cổ xưa đó
chưa có tiếng 'Thơ' (do chữ Thi của Hán tự mà
ra), nhưng có thể tiếng 'Ví' cũng có nghĩa như
tiếng 'Thơ' thời nay rồi. Ngày nay, nhiều người khi
nói chuyện thường chêm vào một, hai câu thơ
cũng giống như thời xưa chêm vào một, hai câu
ví vậy.
Sau này, người ta mượn
của Hán tự những từ: thi, ca, dao, ngôn, ngữ,
tục ngạn, phong ... mà đặt tên cho các thể
loại Ví, Vè và Hát của ta.
Việc đặt tên này rất đa dạng nhưng
những từ gọi phổ biến nhất là Tục
ngữ, Ca dao và Dân ca. Tuy nhiên,
ta có thể nói 'Ví' là một loại thơ cổ thuần
túy Việt Nam.