Vol. 27  10/2005            Đặc San Vietvodao năm thứ năm              5th year edition

 

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

 

Vô Tích sưu tầm

Thi Ca

Dân Gian

 

Một trong những vấn đề cấp thiết của người Việt Nam ở hải ngoại là dạy tiếng Việt cho các em thiếu nhi.  Ngược ḍng thời gian trở lại thời điểm 1975, những người Việt tỵ nạn cộng sản đến Mỹ hay đến các nước khác trên thế giới, rất khó có thể thực hiện việc dạy tiếng Việt cho con em ḿnh.  Bây giờ, sau hai mươi tám năm qua, việc dạy tiếng Việt cho các em thiếu nhi đă được mọi người cũng như mọi tổ chức, hội đoàn người Việt v.v. nỗ lực tham gia thực hiện, cộng tác phát triển để đạt được nhiều thành qủa tốt đẹp.  Hiện nay, trên khắp Hoa Kỳ nói chung, đă có rất nhiều các Trung tâm Việt Ngữ, các trường, lớp dạy tiếng Việt.

 

Chúng ta, những người Việt tỵ nạn Cộng sản dù ở bất cứ nước nào trên thế giới, cũng có trách nhiệm bảo tồn và phát huy văn hóa Việt.  Như thế việc đóng góp dù dưới mọi h́nh thức trực tiếp hay gián tiếp và dù nhiều hay ít cũng là một điều hợp lư và cấp thiết.  Trên thực tế, việc ''dạy tiếng Việt cho các em thiếu nhi chính là một trong những việc quan trong nhất để bảo tồn và phát huy văn hóa Việt.  H́nh thức gián tiếp ''góp một bàn tay vào việc dạy tiếng Việt cho các em nhỏ tức là khuyến khích, cổ động và  thúc đẩy các em nhỏ nên hăng say học tiếng Việt.  Thấu hiểu tâm lư, t́nh cảm, tính t́nh ... các em nhỏ không ai hơn bằng cha mẹ hoặc các anh các chị lớn trong gia đ́nh.  Như thế việc khuyến khích, thúc đẩy các em nhỏ học tiếng Việt được dựa vào yếu tố ''tế nhị, khéo léo, linh động của các bậc phụ huynh hay các anh, các chị lớn trong gia đ́nh để gặt hái được thành qủa mỹ măn.  Bởi thật khó mà bảo rằng có một công thức hay điều luật nào rơ ràng để áp dụng chung cho mọi trường hợp khuyến khích, thúc đẩy các em nhỏ học tiếng Việt.

 

Nói về ''lối dạy tiếng Việt, ta nôm na hiểu rằng có hai cách dạy:

 

* Dạy bằng sách vở, giấy bút, ghi chép, có trường có lớp

* Dạy bằng lối ''truyền khẩu tức không trường lớp, sách vở, bút mực, ghi chép. Nghĩa là dùng cách nói chuyện, kể truyện, đọc thơ văn đặc biệt là Thi Ca Gian Dân để truyền dạy.

 

Trước khi nói về Thi Ca Dân Gian, chúng tôi xin trích đăng một số đoạn trong bài viết của Luật Sư Nguyễn Quốc Lân, Uỷ Viên Hội Đồng Giáo Dục, Học Khu Garden Grove.  Bài viết với nhan đề ''Lợi ích của tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng đủ để nói lên tầm quan trọng vô cùng của việc dạy và học tiếng Việt.  V́ khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chỉ trích dẫn một số điểm quan trọng dưới đây

 

Trang 1:

 

Phong trào dạy tiếng Việt đă được cộng đồng lưu ư nhiều hơn trong nhiều năm qua, đặc biệt là qua nhiều cuộc vận động đ̣i các trường công lập mở lớp dạy Việt ngữ trong chương tŕnh ngoại ngữ.  Trong nỗ lực này, những lợi ích của việc dạy và học Việt ngữ như là một ngoại ngữ vẫnchưa được tŕnh bày một cách thỏa đáng.

 

Việc học Việt ngữ như là một ngoại ngữ có nhiều điểm khác với phong trào dạy Việt ngữ tại các trung tâm Việt ngữ tại các nơi có đông người Việt Nam.  Phong trào dạy Việt ngữ này thường chỉ nhằm vào các trẻ em Việt Nam với mục tiêu duy tŕ tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam.  Tuy đây là đối tượng và mục tiêu tốt, song chương tŕnh dạy và học Việt ngữ cũng cần phải nhằm vào các đối tượng không phải người Việt Nam và các mục tiêu ngoài duy tŕ và phát huy Văn hóa Việt. . . . . . . . . . .

 

Trang 2:

 

Những lợi ích cho cá nhân và xă hội.

 

Những lợi ích cho cá nhân và xă hội hầu như là một bởi v́ những lợi ích cho cá nhân nào đó thường cũng là lợi ích cho cộng đồng hay xă hội liên hệ.  Ví dụ, một người lính cứu hỏa biết nói tiếng Việt th́ xă hội nói chung cũng được lợi ích là có được người lính chữa lửa biết xử dụng ngôn ngữ đó khi cần thiết.  Những lợi ích này có thể là cơ hội kiếm việc làm, làm việc cho chính phủ, hành nghề chuyên môn, phục vụ cho an ninh quốc gia, giao thương quốc tế, nghiên cứu trong các chuyên khoa, phong phú văn hóa, tăng tiến sự hài ḥa trong xă hội hay duy tŕ và phát huy Văn hóa Việt Nam.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trang 5 và 6:

Những lợi ích về học vấn.

 

Nhiều công tŕnh nghiên cứu khoa học đă cho thấy rằng việc trau dồi một ngoại ngữ, đặc biệt là từ những lớp nhỏ, thường hay đi đôi với sự phát triển về trí thông minh, tŕnh độ học vấn hay khả năng thích ứng với môi trường chung quanh.  Kết qủa là các em học giỏi hơn hay có điểm cao hơn.

 

Học giỏi tiếng Anh hơn

 

Nhiều phụ huynh hay nhà giáo dục thường hay cho rằng việc học một ngoại ngữ như Việt ngữ có ảnh hưởng bất lợi đối với khả năng tiếp thu Anh ngữ.  Kết qủa nhiều cuộc nghiên cứu của Giáo sư Bialystok đă cho thấy các học sinh khoảng 4 hay 5 tuổi có học thêm một ngoại ngữ có khả năng đọc và hiểu Anh ngữ cao hơn các học sinh khác. (Bialystok, 1997).

 

Kết qủa cuộc nghiên cứu này có thể giúp nhiều phụ huynh Việt Nam bớt lo lắng khi phân vân không biết nên khuyến khích con em ḿnh nên hay không nên nói tiếng Việt ở nhà v́ sợ rằng khi đến trường các em sẽ thua kém các bạn cùng lớp.  Thực ra, Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ hiện nay đang khuyến khích và nhiều học khu đang mở những chương tŕnh dạy ngoại ngữ cho các em ở cấp lớp 1 đến lớp 5.  Các chương tŕnh này dự trên những nghiên cứu giáo dục cho thấy rằng nếu các em được tiếp thu được một ngoại ngữ từ lúc nhỏ, các em có khả năng tiếp thu, lưu giữ, và xử dụng được nhiều hơn.  Và đồng thời các em này có khả năng học giỏi hơn các em khác.

 

Ngay cả khi các em học hoàn toàn trong tiếng ngoại quốc hay nửa Anh ngữ nửa tiếng mẹ đẻ (Half & half immerson program), các em có khả năng không thua kém ǵ đối với các học sinh khác.  (Thomas, Collier, and Abbott, 1993).  Một cuộc nghiên cứu khác tại Louissiana cho thấy các học sinh có lớp học ngoại ngữ hàng ngày có khuyng hướng được điểm cao hơn trong các phần thi Anh ngữ so với các em không có học một ngoại ngữ nào (Rafferty, 1986).

 

Nhiều cuộc nghiên cứu khác đă cho thấy một sự liên hệ mật thiết giữa khả năng họcAnh ngữ và một ngoại ngữ, (Barik & Swain, 1975; Genesee, 1987; Swain, 1981), Ủy Ban Chấm Thi Vào Đại Học (College Entrance Examination Board) cũng nhận thấy rằng các học sinh khoảng từ bốn, năm ngoại ngữ trở lên thường có điểm cao hơn trong phần Anh ngữ trong các bài thi Scholastic Aptitude Test, thường được gọi là SAT.

 

Một số dữ kiện nghiên cứu tại Học Khu Garden Grove cho thấy tŕnh độ học vấn của học sinh Việt Nam thường đi đôi với mức độ thông thạo Việt ngữ của các em (Lynn Saito, 2002).  Mức độ thông thạo ở đây có nghĩa là các em có thể nói chuyện hay hiểu sơ sơ tiếng Việt để các em có thể quan hệ thường xuyên với phụ huynh hay bà con họ hàng.  Kết qủa nghiên cứu này c̣n cho thấy mức điểm học vấn của các học sinh Việt Nam c̣n đi đôi với mức độ Mỹ hóa (assimilliation) của các em hay phụ huynh của các em.

 

Kết qủa này cho thấy ràng ngày nào các em c̣n thông hiểu tiếng Việt, ngày đó các em c̣n duy tŕ được mối liên hệ thường xuyên với bố mẹ, họ hàng, hay sinh hoạt cộng đồng, ngày đó các em có cơ may học giỏi hơn các học sinh khác.

 

Trang 8.

 

Ảnh hưởng đến trí thông minh

 

Có nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng các học sinh có học được một ngoại ngữ cá khả năng sáng tạo và khả năng thông hiểu các vấn đề phức tạp một cách khá hơn (Bamford & Mizokawa, 1991).  Kết qủa các cuộc nghiên cứu này c̣n cho thấy rằng những học sinh thông thạo được một ngoại ngữ có khả năng trội hơn các các em không biết ngoại ngữ trong các cuộc trắc nghiệm về trí thông minh (IQ Test) (Bruck, Lambert & Tucker, 1974; Hakuta, 1986; Weatherford, 1986.

 

Các kết qủa này cho thấy rằng nếu các học sinh thông thạo một ngoại ngữ như tiếng Việt chẳng hạn, các em có khả năng thích ứng với các đ̣i hỏi của trí khôn một cách khá hơn.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .      

Trở lại Thi Ca Dân Gian, chúng tôi trích dẫn những câu ca dao tục ngữ, ngạn ngữ, phong dao, phương ngôn v.v. - gọi  chung là Thi Ca Dân Gian từ bộ Tục Ngữ Ca Dao và Thi Ca Dân Gian của soạn giả Lê Gia.  Ông là giáo sư Trung học từ 1956 đến 1975 ở Sài G̣n và Gia Định.  Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông và anh ruột ông sống tạm bợ bằng nghề buôn bán sách cũ ở Sài G̣n.  Chúng tôi trích dẫn vài gịng dưới đây từ  thư của tác giả:

 

          ''. . . . . . . .và tôi sống tạm bằng nghề buôn bán sách cũ.  Người ta mua về đọc mua về cho vào ḷ bát quái  để tái sinh cũng có . . .   Rồi thấy quyển nào có 'dính tới tục ngữ, ca dao th́ giữ lại, soạn lại.  Mới đầu cũng chỉ nghĩ giữ làm kỷ niệm.  Sau gửi lậu bản thảo sang Pháp nhờ một ông cựu giáo sư, bạn đồng nghiệp ngày trước, xem có xuất bản được không, nhưng không được v́ rất tốn và chưa chắc đă có ai mua.  Chúng tôi phải đợi đến thời gian đổi mới, lúc đó cácsách cũ của Tự Lực Văn Đoàn, chuyện Tầu v.v. . . được xuất bản rầm rộ, chúng tôi mới t́m cách xoay sở để xuất bản bộ Tục Ngữ Ca Dao, Thi Ca Dân Gian này.

          . . . . . . . . .

          Thực ra Tục Ngữ Ca Dao là do tiền nhân để lại, có ai là tác giả đâu, ḿnh có thêm được câu nào đâu.  Ḿnh chỉ làm công việc sắp xếp lại, so sánh các tài liệu tham khảo với nhau, làm cho kỹ hơn các sách cùng loại.  Đem những dị dạng lên để so sánh và cuối cùng theo ḿnh th́ như thế nào, như thế nào hợp lư cũng như để mở rộng đường dư luận v.v.  Sau mấy năm trời th́ việc in mới xong ...

 

Trong phạm vi bài viết và cũng để góp một bàn tay nho nhỏ gián tiếp vào công cuộc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt, chúng tôi xin nói về Thi Ca Dân Gian như là một lợi khí đặc biệt cho lối ''dạy truyền khẩu.  Bởi thi ca dân gian thuận lợi cho cả hai đối tượng ''dạy và học v́ tính chất dễ nói, dễ hiểu, dễ nghe, dễ nhớ.  Những trích dẫn của chúng tôi được lấy từ bộ Thi Ca Dân Gian và Tục Ngữ Ca Dao của tác giả Lê Gia.

 

Tiếng nói là biểu hiện của tâm hồn.  Tâm hồn càng cao rộng th́ tiếng nói sẽ có lời hay, ư đẹp và được chuyển thành câu ca tiếng hát.

Dân tộc Việt Nam với hơn bốn ngàn văn văn hiến, có một tiếng nói và một giọng nói đặc biệt, độc âm với tám thanh nên chỉ cần bốn tiếng nói là đủ có thể trở thành một câu ca ngắn gọn, đủ cả ư tứ, vần vè.  Thế nên, người nước ngoài đă có nhận xét: người Việt Nam nói như hát.  Nhận xét này không lấy ǵ là qúa đáng.

 

Những câu ca tiếng hát ấy có tự ngàn xưa, phát xuất từ dân giả, ghi lại những phong tục tập quán  bao đời của dân Việt.  Nó chẳng phải chỉ riêng để tỏ t́nh mà c̣n tỏ ư  có tính cách giáo dục, chỉ dẫn cho ta sống sao cho nên người.  Nó khởi đầu ngay từ Kinh Dương Vương dựng nước rồi các đời sau lại bồi đắp thêm và cho tới bây giờ, đă thành kho tàng văn chương với hàng vạn, hàng vạn câu ca tiếng hát b́nh dân tức là thi ca dân gian.

 

Đó là vốn qúy của dân tộc Việt và cũng là của chung của nhân loại trong kho tàng ngôn ngữ.  Với chúng ta, đó là quốc hồn, quốc túy Việt Nam.  Và đó cũng là hănh diện, là niềm vui của dân Việt ở khắp mọi nơi trên thế giới.

 

          Bộ Tục Ngữ Ca Dao và Thi Ca Dân Gian của Lê Gia sưu tầm, biên soạn gồm mười bảy quyển.  Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin trích dẫn phần T́m hiểu khái quát về nền thi ca dân gian trong quyển một chủ đề Ư Đẹp và trích dẫn một số câu ca dao, tục ngữ, phong giao trong quyển một - Dẫn giải -  của bộ Tục Ngữ Ca Dao nói trên.

 

          Trước hết, là phần  T́m hiểu khái quát về THI CA DÂN GIAN      Nó là thi ca v́ nó là các nhóm từ đọc nghe xuôi tai và đầy ư nghĩa, là những câu văn có vần có điệu, là những bài ngâm, bài hát.  Nó thuộc về dân gian v́ nó dựa theo phong tục dân tộc, nó từ quần chúng nhân dân mà ra và được toàn dân sử dụng.  Không riêng một thành phần nào, một giai cấp nào, từ vua quan cao sang cho tới người dân nghèo khổ ai mà không biết tới nó ít nhiều.  Tác giả của nó là những nho sĩ, nghệ sĩ, thương gia, thợ thuyền, nông phu ... và cả những trí thức đại khoa bảng nữa.  Nó là Thi ca dân gian cũng như Câu truyện dân gian có xuất xứ từ dân chúng và được truyền khẩu trong dân chúng, sau đó được chấp nhận nó mới được ghi vào sách vở.

 

Nó không phải là Thi ca b́nh dân v́ nó nó không phải của riêng giới b́nh dân và cũng chẳng phải thi ca bất thành văn dù ta có hiểu chữ văn theo nghĩa nào đi nữa như lâu nay đă có nhiều người đặt tên cho nó mà chúng tôi sẽ đề cập dưới đây.

          Thực ra, từ cổ đại tới những ngày gần đây, khi dân tộc ta chưa có hay mới có văn tự, đối với dân chúng, th́ đó là những câu ví để tỏ ư và những câu vè để tỏ t́nh.  Sau đó, tiến bộ hơn và có tính tập thể hơn nó lại có thêm các câu hát (lúc đầu gọi là hót như chim  hót chăng) gồm cả ví và vè, cả ư và t́nh.  Người ta gọi : Nói ví, ḥ vè và hát (sau này gọi là Dân ca)

          . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

          - Tục ngữ, gồm các câu ví (Tỏ ư).

          - Phong dao, gồm các câu vè (Tỏ t́nh).  Khi đọc và ngâm lên th́ gọi là hát, ḥ ...

          Gần đây, tiến bộ hơn, các câu hát súc tích hơn, có tiết tấu hơn, người ta mới tách riêng các câu hát ra và gọi là dân ca.

          Như vậy nền Thi ca dân gian này có ba thể loại chính là: Tục ngữ, Phong dao và Dân ca.  Vậy:

 

a- Tục ngữ: Bao gồm tất cả những câu mà ta thường gọi riêng ra là Thành ngữ, Ngạn ngữ, Sấm ngữ, Mê ngữ và Phương ngôn, Cách ngôn, Châm ngôn, Ngụ ngôn, Túy ngôn ...  Đó là tất cả các văn thể tỏ ư, có vần hay không vần, có đối hay không đối, có thể nói như thường hay gằn giọng hoặc ngâm lên được.  Tất cả đều dựa theo phong tục, và thường được chêm vào khi nói chuyện để ví việc nọ với việc kia cho thêm rơ ư nghĩa của câu nói.

 

b- Phong dao: Bao gồm những câu văn vần ngắn dài để tỏ t́nh, thường được ngâm lên, ḥ lên, hát lên và chỉ dùng thanh nhạc.  Nó có một giọng điệu gần giống nhau và đa số là ở thể lục bát hoặc song thất lục bát, được ngâm lên, ḥ hát khi có cảm hứng.  Nói rộng ra th́ nó bao gồm cả Đồng dao và Lư ca (hay Lư ngữ) nữa. Tất cả đều dựa theo phong tục, nghề nghiệp ...

 

a-                  Dân ca:  Thường do một số Tục ngữ và đa số là Phong dao được ghép lại thành bài hát, có tiết tấu, có chương khúc, nhiều giọng điệu, có thể kèm theo nhạc khí, có thể tŕnh diễn trước đám đông có bối cảnh phụ họa.  Chúng gồm nhiều thể loại và chỉ với một câu Phong dao người ta có thể đổi ra nhiều giọng điệu: ḥ, ru, hát lư, hát dặm, ḥ thai, bài cḥi. Với nội dung tỏ ư, tỏ t́nh nó cũng dùng để hát chơi theo phong tục, nghề nghiệp của mỗi nơi.

b-                   

          Tiếp theo dưới đây, là phần ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN TÍCH CÁC LOẠI TỤC NGỮ PHONG DAO VÀ DÂN CA.

 

a- Tục ngữ

          Theo Hán tự th́ chữ tục có hai nghĩa:

- Thói quen, nếp sống có từ lâu đời của một nước, một vùng. (phong tục, tục truyền, thế tục).

- Tầm thường, thấp kém (thô tục, tục tằn)

          Và chữ ngữ có nghĩa là:

- Nói, lời nói, tiếng nói của một dân tộc (ngôn ngữ, thuật ngữ, ngữ pháp)

          Vậy Tục ngữ là câu nói dựa theo phong tục và ăn sâu vào tư tưởng mọi người, được mọi người chấp nhận và truyền tụng.  Đó là câu nói dựa theo câu nói thường ngày mà thành thói quen phong tục, thói thường ... và tất nhiên là phải lâu đời.

          Có người lại hiểu theo nghĩa thứ hai của chữ tục mà cho rằng chữ Tục ngữ là câu nói thô tục, quê mùa không văn vẻ (Bất thành văn) thuộc đám b́nh dân.  Bởi vậy nên họ mới gọi Tục ngữ, Phong dao là Thi ca b́nh dân hay Thi ca bất thành văn v́ chỉ truyền miệng.

          Thực ra Tục ngữ của ta chẳng thô tục chút nào, ngay cả những câu thông thường nhất như: Được bữa cỗ lỗ buổi cày cũng đă có đày đủ tính cách văn chương rồi.  Riêng có đôi câu Lư ngữ (thường thuộc Phong dao) th́ tuy lời có thô tục nhưng lại lột được ư thanh.

          Nếu cho rằng câu nói ở thôn quê là thô tục th́ hăy thử so sánh hai câu:

 

          Cái ṿng danh lợi cong cong

Kẻ ḥng ra khỏi, người mong bước vào. 

 

Và:

 Trê lờ đờ đỏ lừ con mắt,

Lóc bên ngoài lúc lắc muốn vô.

 

          Có lẽ câu trên là của một danh sĩ nơi thành thị c̣n câu dưới là của một người nhà quê.

 

          Hai câu này có ư nghĩa tương tự nhau nhưng câu nào thanh, câu nào tục, câu nào sâu sắc và kín đáo, câu nào nông cạn và lộ liễu.  Theo ư chúng tôi th́ sâu sắc kín đáo là thanh, c̣n nông cạn lộ liễu là tục.  Tục ngữ Việt Nam đa dạng, độc đáo và có giá trị ở chỗ đó.  Hơn nữa có hàng ngàn câu Hán tự, với điển tích tràn đầy th́ ta có thể coi đó là thô tục của tầng lấp b́nh dân hoặc là bất thành văn được không ?  Đúng ra Tục Ngữ  của ta là Túi khôn của con người, ai học được chừng nào th́ nên chùng nấy.

 

          Bây giờ ta lại xét xem thế nào là một câu Tục ngữ:

          Xét về nội dung th́ tục ngữ là một câu, hay một nhóm từ có thể thay cho một câu trọn nghĩa, dù dài ngắn tự nó tự nó đă diễn đạt trọn vẹn một ư nghĩa, nhận xét và phán xét phải trái, một kinh nghiệm, một lư lẽ hay một sự khuyên răng nào đó, nói chung là có tính cách giáo dục để theo đó mà sống ở đời.  Thường th́ nó có hai nghĩa tương đối nhau hay kháng đối nhau để bật ra một ẩn ư.

 

          Tục ngữ nặng về giáo dục và thuộc về lư trí để tỏ ư.  Thí dụ:

 

- Được voi, đ̣i tiên

- Nước giữa gịng chê trong chê đục,

Vũng trâu nằm h́ hục khen ngon.

- Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương, tổ người ta ghét.

(Dái hay Rái: Nể sợ, kiêng dè. Tổ: Để cho, thành ra ...)

 

          Xét về h́nh thức th́ Tục ngữ là một câu có ư nghĩa cô đọng tối đa, có hàm ư, ngụ ư,  ẩn ư tức nghĩa bóng và có vần có đối hoặc đọc lên nghe xuôi tai tức có chất thơ, chất nhạc.  Như vậy phải có từ bốn tiếng trở lên để âm thanh có thể được chia làm hai phần tương đối, nó là những câu nói ít hiểu nhiều.

 

          Ngoài những câu ở thể song thất lục bát, thường mỗi câu được chia làm nhiều vế, có vần với nhau.  Ví dụ:

- Bụng no, c̣ đói.

- G̣ với núi cũng kể là loại cao, bể với ao cũng kêu là loại trũng.

- Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội, bối rối xem đám ma, bỏ cửa bỏ nhà đi nghe giảng đạo.

          Một số câu khác chỉ có một vế nhưng khi đọc lên nghe xuôi tai.  Ví dụ:

- Trâu chậm uống nước đục.

- Đánh dấm sao cho vừa miệng làng.

 

          Hoặc có chia vế, có đối nhưng không vần.  Như:

- Cha cầm khoán, con bẻ măng.

- Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.

          Thời xưa, người ta gọi câu những này là câu ví.  Lúc nói chuyện thường chêm vào để ví von, so sánh, nói kín lấy sự này để so sánh, để giải thích sự kía ...

          Vậy nên sau này người ta dùng từ ngôn hay ngữ để đặt tên cho nó, nào Tục ngữ, Ngạn ngữ rồi Phương ngôn, Cách ngôn ...

          Tục ngữ không chỉ là câu nói thường mà là câu nói có giọng điệu, có tính thơ với những gieo vần, âm hưởng ngâm nga, cũng như có những gằn giọng hoặc kéo dài hơi v.v đó cũng là nhờ tiếng nước ta có nhiều âm thanh vậy.

          Đọc Tục ngữ, ta có thể ngâm lên, vậy Tục ngữ là một loại thơ đa dạng, nócó thể bảo như là phôi thai của các thể thơ sau này: bốn chữ, năm chữ, sáu bảy chữ và thường là nồng cốt của Phong dao, Dân ca.  C̣n về các câu Ví của ta gọi  là Tục thi hay Thơ cổ tục th́ cũng không sai mấy.

          Tục ngữ được dùng rộng răi trong các câu nói thường, các câu văn xuôi, văn vần.  Phong dao và Dân ca là nồng cốt của các câu ấy.

          Theo nghĩa hẹp và đơn thuần th́ Tục ngữ là một loại Thi ca gồm các câu kể trên.  Theo nghĩa rộng và bao quát th́ Tục ngữ bao gồm cả các loại như: Thành ngữ, Ngạn gnữ, Sấm ngữ, Mê ngữ, Phươngngôn, Cách ngôn, Châm ngôn, Ngụ ngôn, Túy ngôn, Phong dao, Đồng dao, Lư ca, Dân ca, Ca dao.

         

Thành ngữ

Theo hán tự, chữ ''thànhcó nhiều nghĩa:

- Trở nên, nên việc (lập thành, sinh thành)

- Một phần của sự việc (thành phần, thành viên, vàng thập thành 10/10

 

Thành ngữ là một phần của câu, do một số tiếng góp nên, nhưng lại là thành phần quan trọng.  Nó là một nhóm từ, cụm từ trơn tru, thường không chia vế, không vần và được dùng trong câu nói, câu văn, câu thơ, câu hát.  Nó chỉ có một nghĩa, không có ngụ ư giáo dục mà là để làm cho ư chính của câu nổi bật lên và nó đủ cả hai nghĩa chữ ''thành.  Do đó số lượng của  thành ngữ rất nhiều, ở đây chúng tôi chỉ xin trích dẫn lại phần nào thôi mà đó cũng là thành ngữ thường nằm  trong Tục ngữ, Ca dao.

 

Thành ngữ có từ ba tiếng trở lên, ít hơn 3 tiếng là tiếng kép hay tiếng đơn.  Thí dụ:

- Gầy như tăm - Aùo rách quần manh - Chui bờ rúc bụi.

Và trong Tục ngữ như:

- Nói phải như găi chỗ ngứa

Hoặc trong câu Phong dao:

- Một ngày hai bữa cơm đèn,

C̣n ǵ má phấn răng đen hỡi chàng.

Nhóm chữ ''găi dung chỗ ngứa và ''má phấn răng đen là hai Thành ngữ.  Thế nhưng ''Găi trúng chỗ ngứa lại là một câu Tục ngữ.  Nó ngụ ư (nghĩa bóng) và thay cho một câu trọn nghĩa: Làm đúng việc,  làm có lợi ...

C̣n như câu Tục ngữ: ''Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa lại là do ba câu Tục ngữ ngắn ghép lại.  Hoặc trong một câu nói khác như: ''Thói thường, với mấy kẻ ăn trắng mặc trơn dễ sinh ra cảnh bụng no c̣ đói, th́ ở đây ''ăn trắng mặc trơn là một Thành ngữ v́ nó chỉ có một nghĩa rơ ràng là ăn sung mặc sướng, c̣n ''Bụng no c̣ đói lại là một câu tục ngữ tuy rằng nó có h́nh thức của một Thành ngữ với chức năng tĩnh tự, trạng tự nhưng lại chứa  hàm ư, ẩn ư là: sung sướng th́ dể sinh ra làm bậy.  Khi viết một câu văn, phần Tục ngữ nên đóng ngoặc kép, c̣n Thành ngữ th́ không.

 

Về h́nh thức, Thành ngữ và Tục ngữ thường khá giống nhau.  Ví dụ:

 

- Rào đường ngăn lối.  Đó là Thành ngữ v́ tuy có hai vế và hai việc giống nhau không đối nghịch hay tương xứng nên không sinh ra một nghĩa khác.  Rào đường cũng vậy mà ngăn lối cũng thế, dùng luôn hai chữ là để nhấn mạnh, làm mạnh thêm lên thôi chứ không đổi ư.    Nhưng mà: ''Rào trước đón sau lại là một câu Tục ngữ và nó cũng có thể chỉ là một Thành ngữ khi căn cứ trên cách dùng nó.  Nếu ta dùng trong một câu thông thường như: ''Họ rào trước đón sau rồi, ta khó thoát nổi th́ đó là một Thành ngữ v́ nó chỉ có nghĩa là bao vây kỹ lưỡng trước sau, không có ngụ ư phán xét ǵ cả.  C̣n như nếu ta dùng nó trong một câu có tính cách giáo dục, khuyên răn như: ''Người không ngoan khi ăn nói phải rào trước đón sau th́ nó lại được coi là một câu Tục ngữ v́ nó ngụ ư khuyên răn là phải thận trọng trong mọi mặt, rào trước mà không đón sau cũng chưa đủ, như thế nó thay cho một câu trọn nghĩa. 

 

Lại thêm câu: ''Qủy tha, ma bắt là một câu Tục ngữ rút ngắn của nguyên câu: ''Qủy tha ra, ma bắt lại, nó cùng nghĩa với câu: ''Quan tha, Nha bắt.  Câu này có nghĩa là: bị qủy bắt rồi qủy mới tha ra th́ bị ma bắt lại có ư nói là gặp tai họa dồn dập, hết cái xui này tới cái xui khác, vừa chưa kịp mừng th́ lại gặp lo ... Thật là qúa rơ ràng về ư nghĩa.  Tuy nhiên trong một vài trưóng hợp đă dùng câu ''qủy tha ma bắt như một thành ngữ v́ đă hiểu nghĩa chữ ''tha'' là mang xách đi bằng cách cắn ở miệng như mèo tha chuột, kiến tha mồi (kiến tha lâu đầy tổ) ...  Thí dụ như câu: ''Tôi không ưa thằng qủy tha ma bắt ầy.  Như thế tha và bắt đều cùng một hành động nên câu qủy tha ma bắt đó trở thành một thành ngữ.  Sự thực, v́ không hiểu hết ư nghĩa của câu tục ngữ ''Qủy tha ma bắt với nghĩa chữ THA trái ngược nghĩa chữ BẮT tức hai hành động khác nhau của qủy và ma nên mới đổi từ Tục ngữ ra thành ngữ chăng?

 

Có những câu rất giống nhau về h́nh thức, ví dụ: ''chậm như rùa ḅ là một thành ngữ c̣n câu  ''đi như rùa ḅ lại có thể hiểu như là một câu Tục ngữ v́ có ẩn ư  là đi chậm và có tính cách phán xét.

 

Điều cần lưu ư: Tục ngữ là một câu thơ - c̣n thành ngữ chỉ là một nhóm từ.  Cho nên câu: ''Ăn cướp cơm chim là một câu Tục ngữ, c̣n câu ''cướp cơm chim tuy có cùng ẩn ư nhưng chỉ có ba tiếng, không thể ngâm lên được, chưa có tính thơ nên coi như một thành ngữ.

 

Như vậy, nói cho cùng, cho rộng răi, cho rốt ráo, đa số thành ngữ khi được hiểu rộng ra cũng coi như Tục ngữ, hơn nữa, nó cũng chính là phôi thai của Tục ngữ.  Sự phân biệt này rất phức tạp, và để dễ hiểu ta có thể bảo: trong khuôn khổ hẹp, thành ngữ khác Tục ngữ; trong khuôn khổ rộng, thành ngữ nằm trong Tục ngữ.

Bởi những lư do trên, xét về h́nh thức lẫn nội dung, thành ngữ là phôi thai của Tục ngữ nên chúng tôi xếp nó vào phần Tục ngữ ngoại trừ một số thành ngữ có ba tiếng trở lên.

 

Ngạn ngữ

Theo Hán tự, chữ 'Ngạn' là:câu nói có từ lâu đời được lưu truyền trong một vùng, một nước (tất nhiên là dựa theo phong tục).

V́ vậy có nhiều người dùng từ 'ngạn ngữ' thay cho 'Tục ngữ'.

 

Sấm ngữ

Theo Hán tự, chữ 'sấm' có nghĩa là: nghiệm đúng theo sự việc đă xảy ra (sấm Trạng).  Sấm ngữ là những câu nói đoán trước những sự việc tương lai như: 'Mặt rỗ, tổ ghen' hoặc 'Chớp Đông nhay nháy, gà gáy th́ mưa' (đoán thời tiết) ...v.v.

 

Mê ngữ

Theo Hán tự chữ 'mê' có nghĩa là: mơ hồ, không rơ (u mê, đê mê ...)

Mê ngữ là những câu đố có ẩn nghĩa như: 'Đầu bằng con ruồi, đuôi bằng cái dĩa' (lá trầu).

 

Phương ngôn

Theo Hán tự chữ 'Phương' có nghĩa là: hướng phía (phương hướng) - vùng đất (địa phương) - Vuông vắn, ngay thẳng có cách thức (phương pháp, phương phi)

 

Chữ 'Ngôn' có nghĩa là: nói, lời nói, câu văn (ngôn ngữ, phát ngôn)

Vậy phương ngôn có nghĩa là:

1- Tiếng nói hoặc một câu văn hay của một vùng nào đó như: Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim

2- Câu nói chỉ hướng cho ta theo, phương pháp cho ta dùng như:

Bầu ơi thương lấy bí cùng.

 Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Phương ngôn với nghĩa nhận xét và giáo dục như trên được coi như là một loại Tục ngữ ở thể khác.

 

Cách ngôn

Theo Hán tự chữ 'Cách' có nghĩa là: lề lối, phép tắc (cách thức, phương cách).  Cách ngôn có nghĩa là câu nói hay, dùng làm phép tắc mà theo.  Vậy Cách ngôn cũng như Phương ngôn là một loại Tục ngữ.

 

Châm ngôn

Theo Hán tự chữ 'châm' có nghĩa là:

- Cái kim khâu (châm chích), châm tuyền là kim chỉ

- Khuyên răn (châm biếm)

Châm ngôn có nghĩa là lời nói răn đời, lời nói dùng làm kim chỉ đường cho cuộc sống.  Phương châm là kim chỉ hướng đi; vậy châm ngôn cũng giống Phương ngôn và cũng là một loại Tục ngữ.

 

Ngụ ngôn

Theo Hán tự chữ ngụ    nghĩa là ở đậu, ở nhờ, ở gửi (cư ngụ, cư trú, ngụ ư).  Ngụ ngôn là lời nói có ư bên trong.  Tục ngữ là một câu nói có ngụ ư, vậy ngụ ngôn cũng coi như là một loại Tục ngữ.

 

Túy ngôn

Theo Hán tự chữ 'túy' có nghĩa là của cải, gia sản, tức là cái hay, cái qúy, cái đẹp (tinh túy).  Túy ngôn là lời nói hay và đẹp để ta noi theo, nó cũng là một loại Tục ngữ.

Qua sự phân tích như trên ta thấy: Phương ngôn, Cách ngôn, Châm ngôn, Túy ngôn ... là loại Tục ngữ nói về cư xử.  C̣n Sấm ngữ, Mê ngữ nói về công việc làm ăn, chơi bời.  Tất cả đều gọi chung là Tục ngữ.

 

PHONG DAO

Theo Hán tự chữ 'phong' có những nghĩa sau:

- Gió (phong vũ, phong lưu)

- Cảnh vật ở trước mắt (phong cảnh)

- Nếp sống lâu đời theo thời gian (phong tục, gia phong)

- Dáng điệu bên ngoài, bên trong (tác phong. Phong cách, phong độ)

Chữ 'giao' có hai nghĩa:

- Hát ngắn, bài hát câu hát không thành chương khúc, ít giọng điệu, chỉ dùng thanh nhạc, không có nhạc khí phụ họa, dùng ngâm hát chơi tùy hứng, không tŕnh diễn với sân khấu và bối cảnh.

-  Lời đồn đại, nói vô bằng ớ, không biết xuất xứ (dao ngôn, dao tục)

Vậy Phong dao có nghĩa là những câu, những bài hát ngắn chưa thành chương khúc, ít giọng điệu, dựa theo phong tục tập quán và được truyền tụng lâu đời, không rơ tác giả và xuất xứ, đôi khi có tính cách đồn đại về một việc ǵ.

Xét về nội dung, Phong dao là những câu hát thuộc về cảm xúc, hứng khởi mà hát lên, nó dùng để  'tỏ t́nh'.  Nội dung thường nhắc nhở và ca tụng t́nh yêu mọi người, t́nh yêu nam nữ, t́nh yêu thiên nhiên, t́nh yêu cái đẹp và việc làm.

Phong dao thường ở thể lục bát hay song thất lục bát như:

-  Có trầu mà chẳng có cau

Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm

- Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay

-  Cầm tay, anh nắm cổ tay,

Ngày xưa em trắng mà rày em đen ...

Phong dao cũng bao gồm cả Đồng dao và Lư ca, Lư ngữ ở thể bốn, năm, sáu tiếng và các thể khác như:

- Tay cầm con dao,

Làm sao cho sắc ...

- Kỳ nhông là ông kỳ đà,

Kỳ đà là cha cắc ké ...

Nhiều bài Phong dao bên trong có Tục ngữ như:

- Chó gầy hổ mặt người nuôi (Tục ngữ)

Tôi gầy hổ mặt chúa tôi chăng là ...

Hoặc do nhiều câu Tục ngữ (Phương ngôn) ghép lại:

- Con vua lấy thằng bán than

Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo (Tục ngữ)

- Con quan Đô Đốc, Đô Đài,

Lấy chồng thuyền chài cũng phải lụy mui (Tục ngữ)

 

Đồng dao

Theo Hán tự chữ 'đồng' có nghĩa là đứa trẻ, con nít (tiểu đồng, mục đồng)

Vậy Đồng dao là những câu hát,  bài hát ngắn không rơ xuất xứ của trẻ con hát chơi hay đồn đại một sự việc ǵ như:

-  Ông tiển ông tiên

Ông có đồng tiền ...

- Thằng cuội ngồi gốc cây đa,

Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời ...

Đồng dao là một loại 'vè' nên thuộc Phong dao.

 

Lư ca  (Lư ngữ)

Theo Hán tự chữ 'lư' có ba nghĩa:

- Nhàn dỗi, rảnh rang, lười biếng không có việc làm.

- Quê mùa, vụng về, thô lỗ, thấp hèn. (Hương lư)

- Bài hát ở nơi đồng quê (Hát lư)

Vậy Lư ca, Lư ngữ hay Hát lư là câu hát nơi đồng quê, được hát một cách thản nhiên, một cách nhàn nhă như:

- Trời mưa lâm dâm,

Cây trâm có trái ...

- Ai đem con sáo sang sông,

Để cho con sáo xổ lồng, sáo bay ? ...

Xét ra chữ ca (Lư ca) ở đây dùng chưa được chỉnh, mặc dù trong Lư ca cũng có một số bài đủ cả chương khúc, tiết tấu; và v́ vậy mà dùng chữ 'ngữ'th́ lại 'cưỡng dụng' (dùng gượng ép).  Cũng như Đồng dao, Lư ngữ cũng là một loại 'vè' nên thuộc Phong dao.

Xưa kia, trong những câu hát có âm thanh hợp nhau nghe vui tai, tiền nhân ta gọi là 'vè'.  Về sau dưa vào chữ 'vận' của tiếng Hán đổi nôm ra là 'vần' (vần vè).  Xét cho kỹ th́ các câu và bài 'vè' của ta vừa là Thi vừa là Dao.  Vè có nhiều về h́nh thức, thể loại: tứ tư, ngũ ngôn, lục bát ... nên ta thường gọi là hát vè, ḥ vè, bắt vè và đọc thơ vè.

Điểm đặc biệt là Phong dao được dùng rất rộng răi, biến đổi ra hàng trăm giọng điệu Dân ca và nhiều thể thơ hiện đại.

         

DÂN CA

Theo Hán tự chữ 'ca' có nghĩa là hát lên, tiếng hát, câu hát, bài hát có giọng điệu, tiết tấu, chương khúc.

Vậy Dân ca là bài hát, câu hát của dân gian không phải của riêng giới chuyên nghiệp nhà nghề nào đó.  Về nội dung Dân ca là những bài hát trữ t́nh, xuất xứ ở từng địa phương, do từng ngành nghề.  Về h́nh thức Dân ca là những bài hát thực sự có đủ giọng điệu, tiết tấu, nhịp phách, có chương khúc hẳn hoi, nặng về tính nhạc và được chính danh là 'hát'  hay 'ḥ'.

Mang nặng tính cách dân gian, phần lớn các bài Dân ca đă dựa vào các câu Tục ngữ, Phong dao mà tạo dựng nên bằng cách thêm vào các tiếng đệm, tiếng láy, tiếng chuyền hơi, những điệp khúc ...  Do đó Dân ca rất nhiều giọng điệu tùy theo những tiếng đệm ấy dài  hay ngắn,  trầm hay bổng v.v...

Thí dụ với câu Phong dao

Ai đem con sáo sang sông,

Để cho con sáo xổ lồng, sáo bay.

Người ta có thể hát thành: ru con, c̣ lả, trống quân, hát đúm, hát dặm, ḥ lư, đối đáp, bài cḥi, lô t v.v...  Nói chung, một câu thơ văn khi ngâm xướng tùy hứng là Phong dao c̣n khi được sắp xếp thêm thắt để hát lên trịnh trọng với hàng trăm giọng điệu dân ca th́ gọi là 'Hát' va 'Ḥ'.  Ngoài ra c̣n có rất nhiều bài Dân ca được sáng tác theo nhiều cách thức riêng.  Bởi vậy ta khó mà sưu tầm hết được.

         

CA DAO

Hai chữ CA và DAO có hai nghĩa khác nhau như hai chữ 'thi' và 'phú'.

Sách ''Cổ dao ngạn” (Phong dao, ngạn ngữ xưa) viết: Ca và Dao khác nhau ở chỗ Dao có thể dùng làm lời của Ca.  Sách Mao truyện (Truyện hay chọn lọc) viết: ''Khúc hợp nhạc viết Ca, đồ ca viết Dao'' có nghĩa: khúc hát có đệm nhạc là Ca, hát trơn (không đệm nhạc) là Dao.

Vậy một bài hát không thể vừa là Ca vừa là Dao nên không có bài hát nào được gọi là bài Ca Dao cả.  Một bài hát chỉ có thể là bài Ca hay bài Dao thôi.  Như thế khi nói Ca Dao có nghĩa là gồ m những bài Ca và Dao cũng như Thi Phú là nói về về những bài Thi và bài Phú chứ không phải bài nào cũng là bài Thi Phú cả.

Nền ''Thi ca dân gian'' của chúng ta gồm ba thể loại chính: Tục ngữ - Phong dao - và Dân ca tức là 'Ví', 'Vè' (hót) và 'Hát'.

NGUỒN GỐC và LỢI ÍCH của TỤC NGỮ CA DAO

 

Tiếng nói là biểu hiệu của tâm hồn, lư trí và t́nh cảm.  Lúc đầu, dân tộc ta c̣n trong t́nh trạng sơ khai, tâm hồn c̣n hạn hẹp th́ tiếng nói ắt c̣n nghèo hèn.  Bởi khi mới có tiếng nói, dân ta chỉ nói một số tiếng hạn chế trong đời sống hàng ngày.  Lần lần, theo quy luật tiến hóa tự nhiên, dân ta phát triển, mở mang về mọi mặt từ tâm hồn đến vật chất ...  Về ngôn ngữ, tăng tiến từ tiếng đơn (một tiếng) lên tiếng đôi, tiếng kép ... tiếng đếm, so sánh v.v...  

Rồi mỗi ngày con người càng thêm khôn ngoan, lư trí và t́nh cảm phát triển, người ta lấy những tiếng một, tiếng đôi đă có ghép với nhau mà lập nên những nhóm chữ gọi là Thành ngữ nghe xuôi tai và rông thêm nghĩa như: 'đau như hoạn', 'ăn trên ngồi trốc' ...  Ở thời xa xưa ấy, ta có thể bảo đó là một loại thơ rồi vậy.

Càng ngày con người càng có kinh nghiệm sống hơn, và để bày tỏ tâm hồn ḿnh, người ta đặt các thành ngữ vừa xuôi tai vừa vần vè cho dễ nhớ lại vừa đủ nghĩa, vừa cô đọng ... để  dạy đời.  Đó là các câu Ví tức Tục ngữ ngày nay.

Thành ngữ chuyển qua Tục ngữ, và Tục ngữ có từ bốn tiếng tới ba bốn chục tiếng và có vần vè hơn, có chất thơ với ư tứ dồi dào hơn.

* Có những câu vần vè sát nhau ở cuối vế trên và đầu vế dưới như:

Quan tha, Nha bắt      

* Có vần cách nhau một tiếng như: Được tiếng khen, ho hen chẳng c̣n -

Thuốc Nam đánh giặc, thuốc  Bắc trả tiền.

Với những câu này về sau người ta đặt các câu 'Vè', Đồng dao, Lư ca rồi thơ bốn, năm, sáu chữ và thơ mới ...

* Có vần cách nhau hai tiếng như:

Chơi với quan viên Thanh Lâm như giáo đâm vào ruột

* Có vần cách nhau ba tiếng như:

Của ngon chẳng đến mẹ con nhà mày

Với những câu này, nếu tiếng cuối của vế trên là thanh 'trắc' và của vế dưới là thanh 'bằng' th́ sau này trở thành thể 'song that biến thể' như:

Làm như ngày mùa để đâu cho hết (trắc)

Ăn như ngày Tết lấy ǵ mà ăn (bằng)

C̣n nếu tiếng cuối của cả hai vế đều là thanh 'bằng' th́ sau này trở thành thể 'lục bát biến thể' như:

Con vua th́ lại làm vua (bằng)

Con nhà săi chùa lại quét lá đa. (bằng)

* Có vần cách nhau bốn tiếng và nếu tiếng cuối vế trên là thanh 'trắc' th́ sau này trở thành thể 'song thất' như:

Khôn ngoan tới cửa quan mới biết (trắc)

Giầu có ba ngày Tết mới hay.

* Có vần cách nhau năm tiếng và nếu tiếng cuối của vế trên là thanh 'bằng' th́ sau này trở thành thể 'lục bát' như:

Yêu nhau chin bỏ làm mười

Ghét nhau kể chin mười đời nhau ra

* Lại có những câu vần mà khoảng cách không đều như:

Băm chẳng lỗ, bổ chẳng vào, ném ao chẳng ch́m.

 

Tục ngữ dùng để 'tỏ ư' và thường được đọc kèm theo những câu nói hàng ngày để ví von, để so sánh việc này với việc kia trong tinh thần chỉ bảo lẫn nhau, vậy nên mới gọi là câu ví.  Ở thời cổ xưa đó chưa có tiếng 'Thơ' (do chữ Thi của Hán tự mà ra), nhưng có thể tiếng 'Ví' cũng có nghĩa như tiếng 'Thơ' thời nay rồi.  Ngày nay, nhiều người khi nói chuyện thường chêm vào một, hai câu thơ cũng giống như thời xưa chêm vào một, hai câu ví vậy.

Sau này, người ta mượn của Hán tự những từ: thi, ca, dao, ngôn, ngữ, tục ngạn, phong ... mà đặt tên cho các thể loại Ví, Vè và Hát của ta.  Việc đặt tên này rất đa dạng nhưng những từ gọi phổ biến nhất là Tục ngữ, Ca dao và Dân ca.  Tuy nhiên, ta có thể nói 'Ví' là một loại thơ cổ thuần túy Việt Nam.