Vol. 20  4/2004                                                                                               3rd year edition

Editor-in-chief:  Ñoă Hoaøng Nghóa    phutavanthu@yahoo.com 

 

If you cannot read this page please click  HERE  and follow instructions to download free VNI fonts..

Chæ daån caùch download font VNI mieån phí ñeå ñoïc Ñaëc san Vieät Voơ Ñaïo: click  Chæ daån

  

 mảnh đất nào
chôn khúc nhau tôi

....và Sơn

 

TRẦN TRUNG ĐẠO

 

          Trong suốt mười bảy năm lưu lạc xứ người, tôi đă hàng ngh́n đêm mơ một ngày trở lại, trở lại với Việt Nam và trở lại với quê hương Quảng Nam thân thiết của tôi. Vẫn c̣n đó trong tôi h́nh ảnh những ngôi trường thân thuộc Duy Xuyên, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Quư Cáp, nơi tôi đă ngồi nôn nao nghe tiếng ve vọng về báo hiệu mùa hoa phượng nở. Vẫn c̣n đó trong tôi h́nh ảnh hai hàng tre nghiêng nghiêng soi bóng bên ḍng sông Thu Bồn hiền ḥa đang đổ ra hướng cửa Đại, hướng cửa sông Hàn. Vẫn c̣n đó trong tôi h́nh ảnh người dân xứ Quảng cần cù và khổ cực suốt bao mùa băo lụt, nắng mưa.

          Quê hương tôi nghèo khổ quá. Một hạt lúa trồng được ở Trung Phước, Đức Dục, Điện Bàn công khó bằng trồng cả kư lúa ở Sa Đéc, Cần Thơ. Một trái ḅn bon Đại Lộc quư bằng cả chục trái xoài, trái mít ở miền Tây. Nhiều khi tôi nghĩ câu "ngọt như ḅn bon Đại Lộc" chẳng qua là bà con tôi nói để tự an ủi ḿnh chứ ḅn bon Đại Lộc làm sao so sánh với cây trái miền Tây. Và cũng v́ khổ quá nên bà con xứ Quảng mới biết thương nhau hơn, biết t́m nhau và che chở hơn.

          Trong những ngày ở Mỹ, tôi may mắn học được rất nhiều từ các chú bác anh chị văn nghệ, trong đó có rất đông là người gốc Quảng, đă cầm bút đi mở đường trong con đường sáng tác và cũng không quên ngoái đầu nh́n lại để chờ đợi tôi, thằng em nhỏ trong gia đ́nh văn nghệ. Từ đó và cũng nhờ ở đó mà thơ văn tôi chập chững bước đi trong t́nh người và trong máu mủ di truyền từ tổ tiên xứ Quảng chúng tôi.

          Từ nhỏ, tôi may mắn học những bài học về đặc tính anh hùng, nhân kiệt trong con người xứ Quảng và học cả từ những thất bại cay đắng của tổ tiên Quảng Nam chúng tôi đă phải chịu đựng. Càng học tôi càng cảm thấy kính trọng tổ tiên và thương cho quê hương nghèo khổ của tôi hơn. 

          Một lần trước 1975, trên chuyến xe đ̣ từ Sài G̣n về Quảng, tôi xin bác tài xế xe đ̣ ráng chạy để đến ngă ba đi Nha Trang th́ hăy dừng lại ngủ đêm. Bác hỏi tại sao không ngủ ở nơi khác mà phải năn nỉ bác ráng chạy đến Nha Trang, có ai bà con ở đó hay sao. Tôi đáp lời bác rằng tôi muốn luôn dịp đó để được đi thắp hương ở miếu thờ cụ Trần Quư Cáp. Bác tài xế nh́n tôi bằng đôi mắt ngạc nhiên. Bác không hứa điều ǵ nhưng một lúc sau, bác bỗng tăng tốc độ khá nhanh và đến ngă ba đường đi Nha Trang th́ bác dừng xe lại nghỉ đêm. Tôi mua một bó hương, vừa đi vừa hỏi thăm đường đến chân cầu ngoài ngă ba và mon men theo bờ dốc xuống miếu thờ cụ Trần. Tôi thắp nén hương lên bàn thờ cụ và lạy ba lạy. Trong mùi khói hương nghi ngút tôi nghe ḷng dâng lên niềm xúc cảm sâu xa khi nghĩ đến bản án chém ngang lưng mà triều đ́nh nhu nhược đă dành cho cụ. Dù không phải là con cháu xa gần ǵ với cụ Trần Quư Cáp, tôi vẫn cảm thấy rằng ḍng máu đang chảy trong tôi đă bắt nguồn từ tinh hoa và tinh huyết của cụ và của tiền nhân xứ Quảng. Tôi thầm cầu nguyện hương linh cụ pḥ hộ cho dân tộc Việt Nam nói chung và xứ Quảng Nam "đất cày lên sỏi đá với xương khô" của chúng tôi sớm không c̣n chiến tranh, nghèo đói, hận thù.

          Mấy chục năm sau, trong những đêm thao thức xứ người tôi vẫn thường mơ ngày về thắp nén hương trên miếu cụ Trần Quư Cáp, thăm lại bà con xứ Quảng. Tôi yêu những con người chơn chất hiền ḥa như ḍng sông Thu mênh mông đổ về biển cả, và tôi cũng yêu cả tính ngang tàng thẳng thắng của đồng bào tôi sừng sững như dải Trường Sơn.

          Sáng hôm sau, khi xe sắp sửa lăn bánh, tôi nói vài lời cám ơn bác tài xế. Bác vui vẻ gật đầu và nói rằng bác cũng là người Quảng, nhà ở gần chợ Cồn. Bác lái xe cho hăng Phi Long tuyến đường Sài G̣n-Đà Nẵng cả chục năm nên nghe rất nhiều chuyện linh thiêng về ngôi miếu thờ cụ Trần Quư Cáp. Dân chúng trong vùng đồn rằng cụ Trần thường hiển linh trị bịnh cho dân chúng và có lần đă giúp một bà cụ mù mắt được sáng trở lại. Trong ánh mắt của bác tài xế không dấu được niềm hănh diện được làm người dân xứ Quảng. Bà cụ trong câu chuyện mà bác tài xế kể có thật sự sáng mắt hay không không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là ở chỗ ḷng tin của dân chúng đă dành cho cụ. Niềm tin đó phát xuất từ ḷng yêu nước mà ra. Niềm tin đó đă từng giúp Lư Thường Kiệt đánh bại hùng binh nhà Tống trên ḍng sông Như Nguyệt, giúp cho đoàn quân của Quang Trung Hoàng Đế có thêm sức mạnh trên đường về giải phóng Thăng Long.

          Mảnh đất đó, con người đó đă trở thành một thôi thúc không ngừng theo mỗi bước tôi đi trong quăng đời biệt xứ mà tôi đă có lần ghi lại trong bài thơ Bao Giờ Nhỉ Tôi Về Thăm Xứ Quảng:

Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng
Mười năm dài mộ mẹ chẳng ai trông
Cỏ có cao hơn nỗi nhớ trong ḷng
Đất có lạnh hơn mùa Đông Bắc Mỹ

Hải Vân đứng ngậm ngùi bao thế kỷ
Chảy về đâu lai láng nước Thu Bồn
Thuở học tṛ tôi hay đứng ven sông
Nghe nước vỗ dưới chân cầu Vĩnh Điện

C̣n chăng nhỉ những con đường kỷ niệm
Những bạn bè dăm đứa lạc nơi đâu
Tóc chưa xanh mà đă vội hoen màu
Thời ly loạn t́m nhau trong kư ức

Cho tôi ghé thăm trường Trần Quư Cáp
Những màu rêu gạch ngói cũ c̣n chăng
Bài thơ xưa c̣n đọng dấu bên thềm
Tôi vẫn viết nhưng thơ buồn hơn trước

Đường Phố Hội chưa mưa đà ngập nước
Những căn nhà lụp xụp nối vai nhau
Đ́nh Cẩm Phô, Khu Khổng Miếu, Chùa Cầu
Tên nghe lạ nhưng vô cùng tha thiết

Cho tôi ghé bến xe đ̣ Nam Phước
Lần cuối cùng em đến tiễn tôi đi
Giờ chia tay sao chẳng nói năng ǵ
Ngh́n năm để mây buồn vương trong mắt

Bao giờ nhỉ tôi về thăm Núi Quế
Đứng bên cầu Chợ Đụn nước trôi xuôi
Mùa sim lên tím rực cả lưng đồi
Hương ngây ngất tôi mộng làm thi sĩ

Ai đứng đó bên kia bờ Giao Thủy
Khăn lụa vàng c̣n chít ở ngang vai
Nghiệp tầm tơ khuya sớm vẫn đeo hoài
Nghề canh cửi chắc c̣n nhiều cực khổ

Trái tim tôi có một ḍng máu đỏ
Sẽ một ngày chảy đến tận Câu Lâu
Nước sông Thu dù lụt lội đục ngầu
Nghe vẫn ngọt như ḅn bon Đại Lộc

Bao giờ nhỉ tôi trở về Đà Nẵng
Nghe ngàn khơi thổi lạnh xuống sông Hàn
Bến Bạch Đằng c̣n những chuyến đ̣ ngang
Ngày hai buổi nối cầu qua An Hải

Em Trường Nữ có bao giờ trở lại
Thả tơ t́nh trêu chọc đám con trai
Đường Hùng Vương thuở ấy rất là dài
Sao quá ngắn trong những chiều chung bước

Mây có trắng trên đỉnh chùa Non Nước
Mưa có buồn giăng kín núi Tiên Sa
Về chưa em sương phủ xuống Sơn Chà
C̣n chăng nhỉ dấu chân t́nh trên cát

Tôi một dạo hay ôm đàn đứng hát
Bài ca buồn tiếng quốc vọng đêm khuya
Quảng Nam ơi khúc ruột đă chia ĺa
Chiều viễn xứ ngậm ngùi cho non nước

Tôi đă bảo thơ tôi buồn hơn trước
Đời lưu vong chưa hẹn buổi quay về
Câu hỏi nầy chỉ hỏi để tôi nghe
Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng.

          … Và cũng từ đó tôi viết nhiều về mẹ. Bởi v́ tôi tin rằng không có một bà mẹ nào trên thế giới đă phải sống trong chịu đựng nhiều hơn bà mẹ Quảng Nam, bà mẹ Việt Nam. Ca ngợi bà mẹ Việt Nam, không chỉ ca ngợi t́nh thương của mẹ dành cho chúng con mà, hơn tất cả, ca ngợi sự hy sinh, sự chờ đợi, sự chịu đựng vô bờ bến của những bà mẹ Việt Nam.

          Trong thơ tôi, có câu chuyện thật về một Bà Mẹ Điên" bỏ vùng Kinh Tế Mới về Sài G̣n t́m chỗ sống. Mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khổ. Mẹ bán tất cả những ǵ mẹ có thể bán kể cả máu của ḿnh để mua sữa cho con. Cuối cùng, đứa con nhỏ cũng chết. Những đêm khuya nhớ lại tiếng khóc của con đói lả trên tay mẹ ngày nào, bà mẹ một ḿnh ôm chiếc gối ra đứng hát như người điên trên vỉa hè Đồng Khởi.

          Tôi có bà mẹ đă chết ngoài biển khơi trong cuộc hành tŕnh bi thảm của những con chim Việt xa đàn. Mẹ gục xuống trên sàn ghe như thân chuối sau vườn nhà của mẹ năm xưa trong một đêm giông băo, đói khát tuyệt vọng. Những ngày c̣n ở trại Palawan, tôi nghe nhiều câu chuyện ăn thịt người khủng khiếp. Người ta kể rằng có chiếc ghe nọ chết máy trôi dạt năm sáu tuần trên biển, thực phẩm hết, nước uống hết, những người chưa chết bắt đầu nghĩ đến chuyện ăn thịt những người đang ngắc ngoải để sống. Một bà mẹ van xin những người c̣n sống: "Hăy đập chết tôi mà ăn nhưng xin đừng ăn thịt con tôi v́ nó c̣n nhỏ quá, chỉ có một chút thịt mà thôi!" Không ai nỡ đập chết mẹ để ăn nhưng sau đó mẹ cũng chết v́ đói khát trước khi ghe được vớt. Người ta ném xác mẹ vào biển khơi trước đôi mắt tṛn xoe, khinh hoàng và ngơ ngác của con. Đời em từ đó là cuộc đời của một viên sỏi nhỏ:  

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

- Viên kẹo tṛn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
C̣n viên kẹo thật to nầy ...là phần Bé đấy

Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện một ḿnh
Như nói với xa xăm

- Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng nầy thôi
Em nhớ kỹ trong ḷng
Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?
- Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu?
- Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?
- Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?
Em lắc đầu không nói

- Bé thức dậy th́ chẳng c̣n ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đă sống sót sau sáu tuần trên biển
Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đă chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Đă cắt thịt ḿnh lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt
Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đă chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời c̣n lại

- Viên kẹo tṛn nầy để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông nầy để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ nầy để qua cho chị
Viên kẹo lớn nầy để lại cho em
C̣n viên kẹo thật to nầy...là phần Bé đấy
Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một ḿnh lẩm bẩm
Ngơ ngác nh́n ra phía biển xa xôi
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
- Thật trễ làm sao
Em tiếp tục th́ thầm
Những câu nói vẩn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc
Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai nầy ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không tiếng kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.

(Em Bé Việt Nam và ViênSỏi,

thơ TrầnTrung Đạo)

          ... Và tôi, như đứa con của mẹ c̣n sống sót, măi măi ám ảnh bởi h́nh ảnh cuộc hải hành bi tráng đó:

Cho anh hôn xác mẹ nổi bềnh bồng
Để nhớ lại ngày nào anh ra biển

          Tôi mang vào thơ h́nh ảnh đau thương của những bà mẹ Việt Nam thời chiến tranh đang chen sống giữa một quê hương đày đọa...  Như chúng ta đă thấy, chiến tranh đă chấm dứt từ sau 1975 nhưng ḥa b́nh thật sự vẫn chưa đến. Tiếng đại bác đêm đêm không c̣n dội vào thành phố nhưng người phu quét đường vẫn c̣n dừng chổi để lắng nghe, lắng nghe tiếng rên của những bà mẹ, lắng nghe tiếng rên của đám em thơ vừa chạy về từ vùng Kinh Tế Mới...  Sài G̣n 1978, tôi có bà mẹ nghèo phải thức khuya dậy sớm chăm nom quầy thuốc lá ven đường để nuôi một bầy con đói khổ:

Quầy thuốc lá ven đường em đứng đấy
Mẹ đă ngồi nghe muỗi vắt đêm khuya
Đời cô đơn trong nắng sớm mưa chiều
Chiếc áo bạc mang hàng trăm chỗ vá

          Trong những ngày ở Mỹ, tôi có người mẹ ôm những tập thơ tôi vừa in đi bán dạo những quán sách San Jose như bán chút t́nh thương c̣n lại trong chuỗi ngày cuối của đời ḿnh. Lần đầu tiên tôi ra mắt sách ở San Jose chỉ có ba bốn chục người đến dự, nhưng trong đó có một bà mẹ 75 tuổi đă đi xe buưt suốt 2 giờ mới đến nơi tổ chức để nghe đọc thơ tôi. Nghe xong mẹ c̣n phụ các bạn tôi cặm cụi đi bán từng cuốn sách. Dĩ nhiên chẳng ai mua thơ của một kẻ làm thơ không tên không tuổi như tôi trong thời buổi những đau thương đă trở thành quá khứ và vật chất mới là điều thực tế. Thương mẹ vất vả nên tôi đă viết tặng mẹ bài thơ Mẹ Là Thơ Nước Việt Sẽ Hồi Sinh:

Mẹ ngồi suốt hai giờ trên xe buưt
Chỉ mong đến tận nơi để nghe đọc thơ con
Những vần thơ chan chứa vạn nỗi buồn
Những vần thơ chảy ra từ tim mẹ.

Bảy mươi lăm năm
Cuộc đời bao dâu bể
Mẹ vẫn c̣n nguyên vẹn một t́nh thương
Bụi thời gian không lấp kín tủi buồn
Đời đất khách chẳng làm phai quá khứ
Ḷng mẹ vẫn nương về cố xứ
Nh́n trời xanh hoài vọng phút thanh b́nh.

Mẹ chờ lâu không?
Như chờ ngày đất nước được hồi sinh
Vườn trầu cũ, hàng cau xưa ai bón
Mẹ để lại quê hương, láng giềng, hàng xóm
Mồ mả tổ tiên, thân thuộc xa gần.

Mẹ buồn lắm không?
Một đời mẹ long đong
Bảy mươi lăm tuổi, ngọn đèn dầu sắp cạn
Lỗi là ở chúng con
Những con chim trúng đạn
Mang vết thương quằn quại bốn phương trời
Thơ con buồn hay máu chúng con rơi.

Mẹ đi xe buưt suốt hai giờ
Chỉ mong đến tận nơi
Để ghe đọc thơ con
Những vần thơ vốn buồn hơn nước mắt
Con biết ḷng mẹ đau mà không khóc
Như chúng con vẫn gượng cười đi giữa điêu linh.

Có giống dân nào như một giống chim
Bay suốt bốn ngàn năm chưa dừng lại
Như đời mẹ mang nỗi buồn đi măi
Bảy mươi lăm năm chưa một chỗ quay về
Mẹ ghé từng quán sách ở San Jose
Để rao bán những bài thơ con viết
Như bán t́nh thương mẹ chảy hoài không hết
Bán cả niềm đau cho nhân loại vô t́nh.

Có ai cần đọc thơ con
Một thi sĩ vô danh
Viết những chuyện chẳng c̣n ai muốn nhắc
Câu chuyện Việt Nam mịt mờ xa lắc
Mười tám năm bao nước chảy qua cầu
Xin mẹ đừng buồn dù chẳng ai mua
Hồn thơ đó ngh́n năm sau vẫn đọng.

Nhờ có mẹ thơ con c̣n hy vọng
Mẹ là thơ nên nước Việt sẽ hồi sinh.

          Tôi có người mẹ ra đi với tôi và cũng có người mẹ đang chờ bên kia biển. Bà mẹ Ḥa Hưng, quận 10 Sài G̣n, bao năm qua đang chờ đợi tôi về. Mẹ đă đánh thức tôi dậy trong đêm đông ở xứ người bằng tiếng điện thoại buồn như tiếng mưa rơi trên căn nhà tôn nghèo nàn ở gần chợ Ḥa Hưng, thảng thốt như tiếng rên của mẹ vọng qua từ nửa ṿng trái đất. Khi vừa gác phone, tôi ngồi xuống viết bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả ḷng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá ngh́n phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hăy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con t́m trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

          Tôi cũng c̣n có những người mẹ không bằng xương bằng thịt mà chỉ là cây, như cây đa chùa Viên Giác ở Hội An. Cây đa già đă ru tuổi thơ tôi trong một điệu kinh buồn đầy đau xót. Bao nhiêu đêm tôi nằm dưới gốc đa già nghe lá đổ xuống sân tôi và miên man nghĩ về một điều mà cha tôi hằng mơ ước về tôi: có một mảnh bằng đại học. Ước mơ của một người thợ dệt nghèo nàn ở xóm dệt Duy Xuyên, tưởng khó hơn t́m kim đáy biển. Dù sao ba mươi năm sau, nói như nhà văn Duyên Anh, giấc mơ của một "đại dương trong ḷng con ốc nhỏ" kia cũng đă thành sự thật. Đa dạy tôi làm người chân thật, đa dạy tôi chịu đựng, đa dạy tôi vươn lên trong cuộc đời vẫn c̣n đầy những gian nan trắc trở. Tôi đă vươn lên, không to lớn như vóc dáng tôi từng thêu dệt, không hoàn hảo như ước mơ tôi đan ở tuổi thiếu thời nhưng cũng không làm đa buồn trách. Tôi chưa bỏ quên mơ ước của ḿnh, tôi vẫn cố làm một người chân thật, một người yêu thương lấy cuộc đời nầy.

Bốn mươi năm trên quăng đường trần
Thương từng hạt bụi bám đôi chân
Đời xô ta gục, buồn, không trách
Vẫn đứng lên, cười với thế nhân
(Sinh Nhật 40, thơ Trần Trung Đạo)

Tôi vẫn hằng mơ ngày trở lại để được ngồi một ḿnh dưới bóng mát cây đa như ngồi bên người mẹ già nua trong buổi xế chiều, để nghe tuổi hoa niên trở về thổn thức. Đa ơi đừng gục xuống, hăy chờ tôi trở lại. Tôi sẽ kể đa nghe chuyện đời tôi qua mấy độ thăng trầm nghiệt ngă.

          Và đặc biệt tôi đă viết rất nhiều về một bà mẹ Quảng Nam, người đă vĩnh viễn ở lại với hàng tre Nghi Hạ, ở lại bên những đồi sim tím Quế Sơn. Bà mẹ Quảng Nam của tôi đă chết từ ngày tôi c̣n quá nhỏ. Tôi không biết ǵ nhiều về mẹ Quảng Nam ngoài những chuyện do cha tôi kể lại, tôi không biết ǵ nhiều về Nghi Hạ, tôi không biết ǵ nhiều về Quế Sơn, tôi không biết ǵ nhiều về mảnh đất miền núi cao của quê hương Quảng Nam nghèo khổ của tôi, mảnh đất đă từng chôn khúc nhau tôi.

          Cha tôi kể lại rằng ở đó có hàng tre, cha tôi gọi là hàng tre Nghi Hạ. Dưới bóng mát của hàng tre ấy ông và Mẹ Quảng Nam đă gặp nhau, đă yêu nhau và đă cưới nhau. Họ cùng nhau dựng lên căn nhà tranh, đúc ḷ ươm tơ, đóng khung dệt lụa và xây một t́nh yêu chân thành, mộc mạc bên nhau. Đêm tân hôn của họ trong thời buổi tản cư không có rượu nồng, pháo đỏ, không nhẫn cưới và vắng đi cả những lời chúc tụng của cha mẹ, của bà con thân thuộc. Họ chúc nhau bằng ly nước nấu từ lá vối. Tôi chưa bao giờ được uống một ly nước vối nhưng nghe bà con nói nước vối nhà nghèo thường uống thay cho nước chè xanh, nước vối hơi chua và hơi chát. Dù sao, ở đó, trong một đêm huyền diệu của đất trời, những giọt máu của họ đă ḥa vào nhau thành một, đă quyện vào nhau thành một, đă đan chặt lấy nhau, đă ôm ấp nhau để tái tạo nên tôi, tái tạo nên một kiếp con người.

          Cha tôi kể rằng ở đó có rừng sim tím. Không biết ông có thường hái tặng mẹ Quảng Nam khi mùa hoa sim nở. Một người có tâm hồn đầy thơ như cha tôi thế nào mà chẳng có. Thế nào ông chẳng hái một bó hoa sim cắm lên chiếc lọ bằng đất trên đường đi làm về và nhẹ nhàng đặt lên chiếc bàn bằng gỗ mít của mẹ. Thế nào ông chẳng có khi dắt mẹ đi dạo trên đồi sim trong những buổi chiều tà khi mặt trời rực đỏ dưới chân dải Trường Sơn hùng vĩ, cùng nhau thêu dệt ước mơ và niềm hy vọng ở đứa con sắp chào đời của họ.

          Cha tôi kể rằng ông rất mê hát bội và thuộc làu làu mọi tuồng hát bội. Trong những đêm thanh vắng ông cũng hát cho mẹ tôi nghe những đoạn Nam Ai mùi mẫn mà các anh kép, cô đào thần tượng của ông như Phó Phẩm, cô Dần, cô Cơ thường diễn trong mấy vở tuồng tàu.

          Ông thường nh́n vào khoảng không gian xa xăm trong kư ức, ở đó có hai vợ chồng trẻ và một đứa con mới chào đời. Ở đó có hạnh phúc đang tràn đầy nhưng đau khổ tột cùng cũng đang chờ đón họ. Ngày tôi mới ra đời cũng là ngày mẹ tôi ngă bệnh. Giữa một làng quê hẻo lánh như làng Nghi Hạ, sự sống c̣n của một con người hoàn toàn tùy thuộc vào số mệnh. Số mệnh nghiệt ngă đă cướp đi của đời tôi vầng trăng tṛn tháng bảy, cướp đi của đời tôi một gịng sữa mẹ hiền ḥa mà mọi đứa bé sơ sinh cần phải có.

          Cha tôi kể rằng ở đó có con đường. Con đường chạy dài từ ngă ba Hương An lên cầu chợ Đụn, qua Sơn Khánh, Sơn Thượng và cứ thế lên tận dải Trường Sơn trùng điệp. Con đường đó cha mẹ tôi từ Duy Xuyên chạy giặc và đă gặp nhau. Con đường quê hương đất đỏ và đầy ổ gà đó, sau nầy, đă trở nên chứng tích cho cuộc chiến tương tàn, đẫm máu. Chiến tranh đă tàn phá quê hương tôi, đă chia cắt gia đ́nh tôi và làm tan nát phần đời đẹp nhất của tôi.

          Đến bao giờ những chiếc áo ngoại lai vong bản mới được ném đi, trả lại t́nh thương và sức sống cho da thịt ốm o gầy ṃn của mẹ Việt Nam?

          Cha tôi kể rằng ở đó có những con người mà giọng nói rất cực kỳ khó nghe thường là tṛ cười cho những người thành phố như "đi Sơn Lểnh, bán nồi đếch" (đi Sơn Lănh, bán nồi đất). Có lần ở Sài G̣n, nghe một anh hề nhái tiếng Quế Sơn trong một vở kịch tôi cảm thấy như cha mẹ ḿnh bị xúc phạm, chính ḿnh bị xúc phạm. Tôi đứng dậy bỏ ra ngay. Bỏ đi không phải v́ giận anh hề mà chỉ cảm thấy đau ḷng khi trong trí nhớ mơ hồ của tuổi thơ tôi lại hiện ra những con người Quế Sơn khốn khổ. Tiếng Quế Sơn của tôi như thế đó, người Quế Sơn tôi là thế đó, núi đồi hoang vu cách trở đă tạo cho bà con Quế Sơn một giọng nói khó nghe nhưng tâm hồn họ vẫn mang đầy đủ đặc tính Quảng Nam hiền ḥa và cương trực. Quế Sơn trong những năm 1960 vẫn c̣n trong một sinh hoạt kinh tế thủ công lùi sau kỹ thuật hiện đại nhiều thế kỷ, với những chiếc cối bằng đá, khung cửi dệt bằng tay, những ḷ nước sôi đun nóng từng con kén. Trong thời kỳ chiến tranh, Quế Sơn là nơi chịu đựng nhiều thiệt tḥi và mất mát nhiều hơn hết. Hàng ngàn đồng bào tôi đă trở thành "liệt sĩ" cho một ư thức hệ mà họ, với tâm hồn mộc mạc bẩm sinh, không thể nào tưởng tượng ra nổi.

          Tháng Năm năm ấy, trên con đường đất đỏ Quế Sơn, cha tôi, tay ẵm tôi, chầm chậm bước theo sau chiếc quan tài làm bằng tre ép lại của mẹ Quảng Nam. Nắm đất nầy, nơi đó không lâu đă chôn khúc nhau tôi, một lần nữa chôn dấu đi người đàn bà yêu dấu nhất đời tôi. Tháng Năm ở Quế Sơn cơn mưa rừng vừa đổ xuống. Trời đang mưa hay đang khóc thay tôi.

Trời tháng năm năm ấy  
Mưa bỗng rơi nhiều hơn
Bên mộ vàng mới đắp
Hai bóng người cô đơn.
(Cành Hoa Trắng, thơ Trần Trung Đạo)

Cha tôi kể mà không khóc. Nước mắt chẳng c̣n để chảy trên đôi má già nua của ông nữa.      

          Tiếng mẹ cười đă tắt từ hôm đó. Trong căn nhà tranh ở Quế Sơn chỉ c̣n lại giọng Nam Ai thê thảm của cha tôi, vọng lại trong cô đơn, như tiếng con nai cha gào thét giữa núi rừng Quế Sơn quạnh vắng. Và không lâu sau đó cha tôi từ bỏ căn nhà tranh vách đất ở làng Nghi Hạ, ẵm tôi về quê nội Duy Xuyên. Tôi ra đi, giă từ Nghi Hạ, hành trang của tôi là một tuổi sơ sinh bất hạnh, một tuổi sơ sinh đầy nước mắt. Tôi về lại vùng đất thánh nầy chỉ một lần vào năm tôi lên sáu tuổi.

          Cha tôi đưa tôi về lại Quế Sơn, qua cầu Chợ Đụn nước xấp xỉ bàn chân, ngồi trên chiếc xe đ̣ già nua chạy dọc đường đi Sơn Khánh, nh́n đồi sim bát ngát chạy dài vào chân núi ḷng cảm động biết bao nhiêu khi nghĩ về người mẹ Quảng Nam thân yêu đă khuất của ḿnh. Mẹ tội nghiệp biết bao. Mẹ có biết con của mẹ đă hàng ngh́n đêm ngồi tưởng tượng ra bàn tay của mẹ, tưởng tượng ra áng mây Tu La che mát cuộc đời bất hạnh của con, đă hàng ngh́n đêm tưởng tượng ra khuôn mặt dịu hiền của mẹ đang nh́n xuống trần gian đầy lửa đỏ mà con đang ngụp lặn.

 

TRẦN TRUNG ĐẠO

Home