|
|
||
|
VĂN CHƯƠNG
TRONG
ÂM
NHẠC CỦA VĂN CAO
TRỌNG
ĐẠT
Trong các bộ môn nghệ
thuật, văn chương được coi như có
tŕnh độ cao nhất v́ nó diễn tả được
những tư tưởng sâu sắc, những tâm t́nh sâu
kín nhất của con người, kế đến điện
ảnh, kịch nghệ, âm nhạc, hội hoạ và sau
cùng là kiến trúc, kiến trúc không nói lên được ǵ
cả. Âm nhạc cũng được coi là một
nghệ thuật cao, nó rung cảm được người
thưởng thức, có thể làm cho con người thành
ủy mị bằng những bản t́nh ca, cũng có khi
thúc đẩy ta bằng
những hành khúc hùng hồn.
Nhạc cổ điển
Tây phương từ thời Baroque thế kỷ thứ
17 và thời kỳ Cổ điển thế kỷ thứ
18, 19 phần nhiều chỉ sáng tác những bản không
lời, mặc dù là nhạc không lời nhưng nghệ
thuật của họ đă đạt tới nghệ
thuật tuyệt diệu nếu không nói là tột đỉnh . Tân nhạc Việt nam có từ
thập niên 30 lại đặc biệt chú trọng cả
nhạc lẫn lời , những bản
nhạc hay đều cân đối và hoàn chỉnh cả
về hai phương diện nhạc và lời thí dụ
như Con Thuyền Không Bến, Ḥn Vọng Phu, Thiên Thai.
Tháng trước, chúng tôi được
xem đĩa nhạc DVD kỷ niệm 75 năm âm nhạc
Việt nam của hăng Asan, bài đầu tiên trong chương
tŕnh là Thiên Thai của Văn cao, tự nhiên chúng tôi nhớ
lại những bản nhạc, giai thoại và tài nghệ
của người nhạc sĩ thiên tài này.
Văn cao tên thật là
Nguyễn Văn Cao, sinh 15/11/1923 mất 10/7/1995, sau hôm
ấy tại Dallas một tờ báo Việt Ngữ đăng
tin Nhạc sĩ Văn Cao vừa tạ thế tại Hà
Nội, đây không phải chỉ là sự mất mát
của riêng người Hà Nội mà là của tất
cả mọi người Việt vô cùng yêu quí tài nghệ
của ông. Nói đến Văn
cao, những người yêu quí âm nhạc thường dành
cho ông một sự ngưỡng mộ, nhiều người
đă ngả nón bái phục. Mặc dù Văn Cao theo
Việt Minh kháng chiến từ 1945, đă từng là trưởng
ban ám sát tại Hải Pḥng, đă nằm ở bên kia
chiến tuyến với chúng ta nhưng ở hải
ngoại cũng như ở miền Nam trước 1975 người
ta vẫn phải công bằng với ông, người đă
để lại cho nền âm nhạc Việt nam những
viên ngọc vô cùng quí giá. Văn cao thật là một thiên tài
hiếm có, từ năm 1939 mới 16 tuổi Văn Cao đă
sáng tác được bản nhạc đầu tay bất
hủ Buồn Tàn Thu, hai năm sau 1941, mới 18 tuổi ông
soạn bản Thiên Thai, năm 1942, 19 tuổi soạn
Bến Xuân, năm 1943, 20 tuổi viết Trương Chi.
Từ những năm đầu
của thập niên 50, hồi ấy c̣n ở lứa
tuổi thiếu nhi, chúng tôi đă được nghe và đă
hát những bản Thiên Thai, Đàn Chim Việt, Suối Mơ,
Trương Chi. . . Theo một người sống ở
thời đó kể lại trên một bài báo đăng
tại Dallas mười năm về trước, Văn
Cao là nhạc sĩ hàng đầu tại hậu phương,
Phạm Duy là ca sĩ hàng đầu và Văn Cao đă hướng
dẫn Phạm Duy soạn nhạc. Từ đầu
thập niên 50 tại Hà Đông Hà Nội thuộc chính
phủ Quốc Gia và Pháp, người ta vẫn cho hát
nhạc Văn Cao không kỳ thị mặc dù ông đă theo kháng chiến.
Trước 75 tại Sài G̣n
một số bản nhạc Văn cao vẫn được
tŕnh diễn thu băng như Bến
Xuân, Thiên Thai, Buồn Tàn Thu. . khoảng năm 1965, lần đầu tiên được
nghe Buồn Tàn Thu qua giọng ca cao vút của Thái
Thanh chúng tôi rất lấy làm
xúc động tưởng như nghe tiếng gió thu lướt
qua, tiếng lá vàng rơi sào sạc. Mặc dù
nhạc Văn Cao đă vượt trội lên trên nhiều
bản từ trước đến nay nhưng dần
dần nó đă bị ch́m vào quên lăng. Tại ngoài
Bắc từ sau 1956, Văn Cao v́ liên hệ đến nhóm
Nhân Văn Giai Phẩm nên gần như đă bị cách ly
với xă hội, đó là một lối tù giam lỏng,
nhạc của ông bị cấm hát măi sau này nhờ đổi
mới họ đă cho hát lại.
Tại hải ngoại
khoảng 1995 chúng tôi có được xem cuốn băng Văn
Cao, Giấc Mơ Một Đời Người do hăng phim
Trẻ thực hiện tại Sài G̣n năm 1994, gồm tám
bản nhạc xưa của ông: Suối Mơ, Thiên Thai,
Buồn Tàn Thu, Cung Đàn Xưa, Thu Cô Liêu, Đàn Chim
Việt, Trương Chi, Sông Lô do các ca sĩ Sài G̣n như
Ánh Tuyết, Hồng Nhung, Lan Ngọc, Tịnh Quyên, Cao Minh
tŕnh bầy. Kỹ thuật thu băng lạc hậu, ca
sĩ hát trên trung b́nh, cảnh trí có vẻ nghèo nàn, ḥa âm sơ
sài, riêng có bản Trương Chi do Ánh Tuyết hát là có
nghệ thuật cao. Hồi đó biết Văn Cao sắp
mất nên người ta vội thực hiện một băng
nhạc về ông cũng như đặt sẵn một
áo quan cho người sắp về chầu ông bà ông
vải.
Năm sau 1995 Văn Cao
mất, tại Sài G̣n hăng phim Trẻ lại thực
hiện một bộ phim nữa lấy tên Buổi Sáng Có
Trong Sự Thật, gồm tám bản: Làng Tôi, Suối Mơ,
Buồn Tàn Thu, T́nh Ca Trung Du, Bến Xuân, Ngày Mùa, Mùa Xuân Đầu
Tiên, Trương Chi, trong đó bản T́nh Ca Trung Du và Mùa
Xuân Đầu Tiên làm sau này. Một hôm cùng xem băng Văn
Cao với vợ chồng một người bạn, anh
chị cũng thích âm nhạc, ca hát, họ nói.
-Nhạc Văn Cao siêu hơn
nhạc Phạm Duy nhiều, hay hơn nhiều.
Hồi 1995 tại Hải
Ngoại người ta cũng thu băng nhạc Văn Cao
do Quỳnh Dao và Mai Hương hát, cái chết của Văn
Cao đă khiến người ta làm sống lại âm
nhạc của ông, lai rai trong vài cuộn băng thỉnh
thoảng cũng có tŕnh bày một hai bản nhạc Văn
Cao như Buồn Tàn Thu, Thiên Thai. Cách đây
vài năm nhân gặp lại mấy người bạn
cũ, có một anh rất hâm mộ Văn Cao cứ khen
lấy khen để với chúng tôi.
-Khi ḿnh xem hai cuộn băng
Văn cao ấy mới thấy thật không ngờ con người
trông rất tầm thường mà có thể làm được
những bản nhạc hay như thế, Văn Cao đáng
thầy Phạm Duy.
Trên đây
chỉ là những ư kiến cá nhân, có thể đúng, có
thể sai. Chúng tôi tôn trọng ư kiến
cá nhân của mọi người.
Trong bài này chúng tôi xin được
tŕnh bầy cùng quí vị về giá văn chương trong
các bản nhạc tiền chiến Văn Cao, v́ phạm vi
giới hạn của bài viết chúng tôi chỉ đề
cập tới bốn bài tiêu biểu hay nói đúng hơn
bốn bài nổi tiếng được chú ư nhất
của ông : Thiên Thai, Bến Xuân, Trương
Chi, Buồn Tàn Thu.
Mở đầu băng
nhạc Văn Cao Giấc Mơ Một Đời Người
do hăng Trẻ thực hiện năm 1994. người
nhạc sĩ tài danh nói.
-Tôi là một cái người
luôn luôn thất bại về t́nh yêu, cái thất bại này
là bởi v́ tôi là người không giỏi về cách tôi giao
lưu với những người đàn bà, mà lại đối
với những người đẹp tôi lại càng
bối rối, tôi không bao giờ nói được với
người ta, th́ tôi bèn nói trong thơ thôi.
Bởi thế nhạc lăng
mạn của ông là sự gửi gấm chút t́nh riêng,
một chút t́nh cảm câm lặng được diễn
bằng nhạc bằng thơ văn, nhạc lăng mạn
của ông có tính lạc quan yêu đời như Thiên Thai,
Bến Xuân, Suối Mơ. . mà cũng
thể hiện những bi kịch như Trương Chi,
Buồn Tàn Thu.
Mở đầu chương
tŕnh 75 Năm Âm Nhạc Việt Nam của hăng Asan, Bản
Thiên Thai được tŕnh diễn êm dịu, du dương,
tŕu mến với tiếng hát của người ca sĩ
lần đầu chúng tôi được nghe tới Lâm
Nhật Tiến. Trước đây chúng tôi đă được
nghe Thái Thanh, Hà Thanh, và gần đây Thanh Lan, và ca sĩ trong
nước Ánh Tuyết tŕnh bầy. Nhưng lần này khi
nghe Lâm Nhật Tiến trổi giọng du dương êm
dịu để diễn tả một bản nhạc được
coi như hay nhất trong nền tân nhạc Việt Nam,
chúng tôi tưởng như đang lênh đênh trên sóng nước
lạc vào thế giới
của Bồng lai tiên cảnh.
Những cô gái phụ diễn trong
những chiếc áo dài trắng mang những cành đào tươi
thắm chạy múa ṿng quanh sân khấu khiến cho ta tưởng
như được thưởng ngoạn vũ khúc Nghê
Thường của bầy tiên nữ trên thiên giới Đào
Nguyên. Thiên Thai mở đầu
chương tŕnh đă sáng ngời lên như một v́ sao
làm lu mờ tất cả những
bản kế tiếp và như thế Thiên Thai đă
xứng đáng là bản nhạc bất hủ nhất
của nền âm nhạc Việt Nam từ thập niên 30 đến
nay.
Thiên Thai, Trương Chi, Ḥn
Vọng Phu . .
là những truyện cổ tích Việt Nam thuộc
loại văn chương truyền miệng không thấy
ghi trong sách vở, chúng tôi chỉ được đọc
trong cuốn truyện ngắn nổi tiếng Legendes des
terres sereines của Phạm Duy Khiêm, viết bằng
tiếng Pháp năm 1942, được giải thưởng
Văn Chương Đông Dương. Người ta
cũng nói những truyện ấy nhiều khi xuất phát
tự bên Tầu.
Trong cuốn băng Giấc
Mơ Một Đời Người, Văn Cao nói về
bản Thiên Thai của ông như sau.
-Tại sao tôi nói đến
Thiên Thai là bởi v́ một nơi một cơi nào đó người
ta coi như đất hứa mà cái đất hứa
ấy th́ không ai t́m được trên cái cơi thế gian này,
đi t́m măi trong những cái hoài niệm của ḿnh tuổi
thanh niên th́ nhớ ra rằng có lần t́m ra được.
Thiên Thai là truyện huyền
thoại về hai chàng lăng tử Lưu, Nguyễn lênh đênh
trên sóng nước lạc lối vào chốn bồng lai tiên cảnh Đào
Nguyên, hai chàng được
các tiên nữ ca múa vũ khúc Nghê Thường, dâng
tặng hai trái đào thơm. . hoa tiên
gặp bướm trần gian. Lưu, Nguyễn trên tiên
cảnh lâu ngày rồi cũng nhớ trần gian muốn
trở về, các tiên nữ bảo một ngày trên cơi tiên
bằng một trăm năm hạ giới, hai chàng về
trần rồi sẽ không trở lại được Đào
Nguyên, nhưng hai chàng nhất định xuống trần.
Khi về đến nơi th́ họ hàng bà con không c̣n ai
cả, không ai biết hai chàng, họ bảo có nghe nói
tổ tiên mấy đời có tên như thế, hai chàng
trở lại Đào Nguyên nhưng không t́m lại được,
về sau cả hai biệt tăm biệt tích không c̣n ai nghe
nói tơi Lưu Nguyễn nữa.
Văn Cao đă
diễn tả huyền thoại lăng mạn ấy như
thế này.
Tiếng ai hát
chiều nay vang lừng trên sóng, nhớ Lưu Nguyễn ngày
xưa lạc tới Đào Nguyên. Ḱa đường
lên tiên, ḱa nguồn hương duyên, theo
gió tiếng đàn xao xuyến, phím tơ lưu luyến,
mấy cung u huyền, mấy cung tŕu mến, như nước
reo mạn thuyền. Âm ba thoáng rung cánh đào
rơi nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền nan
quê hương dần xa lấp núi ngàn, bâng khuâng chèo khua nước
Ngọc Tuyền, ai hát trên bờ Đào Nguyên.
Thiên Thai chốn đây hoa xuân
chưa gặp bướm trần gian, có một mùa đào
ḍng ngày tháng chưa tàn qua một lần, thiên tiên chúng em xin
dâng hai chàng trái đào thơm, khúc Nghê Thường
đây đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn.
Đèn soi trăng êm, nhạc
lắng tiếng quyên, đây đó nỗi ḷng mong nhớ,
này khúc Bồng Lai, là cả một thiên thu trong tiếng đàn
chơi vơi, đàn xui ai quên đời dương
thế, đàn non tiên đàn khao khát khúc t́nh duyên. Thiên Thai ánh
trăng xanh mơ tan thành suối trần gian, ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một
lần
Gió bắt trầm tiếng
ca, tiếng phách dồn lắng xa, nhắc chi ngày xưa đó
đến xe buồn ḷng ta, Đào Nguyên
trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn, cùng bầy
tiên đàn ca bao năm. nhớ
quê chiều nào ra khơi, chắc không đường
về tiên nữ ơi, Đào Nguyên trước Lưu
Nguyễn quên trở về, t́m Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi
nao, nhớ khi chiều ta trăng lên, tiếng ca c̣n rền
trên cơi tiên.
Nét họa
của Văn cao đă dựng lên một cảnh tĩnh
chốn trần gian y như một bức tranh thủy
mạc của Tầu.
. . Âm ba thoáng
rung cánh đào rơi nao nao bầu sương khói
phủ quanh trời.
Lênh đênh dưới hoa
chiếc thuyền nan quê hương
dần xa lấp núi ngàn. .
Ông diễn tả hoạt
cảnh Lưu Nguyễn lạc vào chốn Bồng Lai
với tiếng hát trên bờ Đào Nguyên, tiếng đàn
tiếng nhạc hoà theo bầy tiên
nữ ca múa vũ khúc Nghê Thường khiến ta có cảm
tưởng như đang ngất ngây thưởng
thức tiếng đàn chơi vơi giữa chốn
Bồng Lai tiên cảnh.
Này khúc Bồng Lai, là cả
một thiên thu trong tiếng đàn chơi
vơi, đàn ai xui ai quên đời dương thế đàn
non tiên đàn khao khát khúc t́nh duyên. .
Văn Cao đă hoà ḿnh vào
bản nhạc để diễn tả tiếng ca vang
rền trên cơi tiên khiến ta tưởng như Lưu
Nguyễn đă nhập vào người nhạc sĩ v́
chính ông đă nói đi t́m măi trong những cái hoài niệm
của tuổi thanh niên th́ nhớ ra rằng có lần t́m ra
được. Vậy đă có lần ông t́m ra Đào
Nguyên! thế nên Khi Văn Cao
ĺa trần báo Sài G̣n đă đăng tin với cái tựa
thật nên thơ thi vị Tống Biệt Lưu
Nguyễn Về Trời v́ họ cho rằng Văn Cao chính
là hiện thân của hai chàng Lưu Nguyễn.
Thế giới lăng mạn
trong Thiên Thai là một thế giới thi vị, thanh cao,
một mối t́nh chốn Bồng Lai tiên cảnh, nơi mà hoa tiên đă gặp bướm
trần gian nhưng với Bến Xuân một áng văn thơ
lăng mạn của một mối t́nh trần thế, về bản nhạc dạt dào
t́nh cảm này ông đă nói.
-Tôi yêu một người con
gái mà tôi không ngỏ lời với người ta, họ
hiểu và đến với tôi nên có câu em đến tôi
một lần. Cái đó là một cái mối
t́nh câm mà để lại cho người đời
một bài hát, thế thôi, không có ǵ cả.
Sự thực
không phải chỉ để lại cho người đời
một bài hát như nhạc sĩ đă khiêm tốn nói
thế, mà là để lại một t́nh khúc lăng mạn
tuyệt diệu cho nền âm nhạc Việt Nam.
Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
em đến tôi một lần, bao lũ chim rừng
họp đàn trên khắp bến xuân, từng đôi rung
cánh trắng ríu rít ca u ù u ú, cành đào hoen nắng chan hoà,
chim ca thương mến chim ngân xa u ù u ú, hồn mùa ngây
ngất trầm hương.
D́u nhau theo
dốc suối nơi ven đồi, c̣n thấy chim ghen
lời âu yếm, tới đây chân bước ḷng ngập
ngừng mắt em như dáng thuyền soi nước, tà áo
em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân.
Sương mênh
mông che lấp kín non xanh, ôi cánh buồm nâu c̣n trên lớp sóng
xuân, ai tha hương nghe réo rắt oanh ca, cánh nhạn vào
mây thướt tha, lưu luyến t́nh vừa qua.
Văn Cao cũng là nhà họa
sĩ, con người đa tài như ông có nét bút điêu
luyện đă phác hoạ cho ta thấy một bức tranh
sơn thủy tuyệt đẹp của Tầu, một
phong cảnh thật hữu t́nh ngoạn mục với làn
sương mênh mông che kín non xanh, cánh buồm nâu, những
lớp sóng xuân, từng đàn én liệng đầy
trời. Những lời thơ gợi t́nh cho ta cái cảm
tưởng nghe tiếng chim kêu ríu rít trên bến xuân và
nhất là một mối t́nh thanh cao thi vị, chính cái
mối t́nh câm đó ông không dám thốt lên lời cùng người
đẹp để rồi đưa hết cả tâm
t́nh vào trong văn thơ nên áng văn mới phong phú bay bướm
tuyệt vời như thế.
Hồi ấy Bến Xuân
bị kết án là tiểu tư sản tạch tạch sè nên người nhạc sĩ đă
phải đổi lời thành Đàn Chim Việt, nhưng
cho tới nay Bến Xuân vẫn được các danh ca hát
đi hát lại. Trước 1975 giọng ca cao vút của
Hà Thanh qua Bến Xuân đă rung cảm bao
người yêu nhạc, rồi Khánh Ly, ca sĩ trong nước
Ánh Tuyết, Cao Minh. . cũng đă
diễn lại cho khán thính giả mối t́nh lăng mạn
tuyệt diệu của Bến Xuân.
Thiên Thai, Bến Xuân diễn
tả một thế giới lăng mạn thi vị dạt
dào t́nh cảm yêu đời của Văn Cao, thế nhưng
bi kịch cũng chiếm phần quan trọng trong thế
giới t́nh cảm của người nhạc sĩ tài
hoa, t́nh yêu của ông nên thơ huyền ảo như Thiên
Thai, bay bướm như Bến Xuân và cũng ngang trái bi
thảm đầy nước mắt như Trương
Chi, Buồn Tàn Thu . . những
bi kịch của đời người, của những
kẻ ôm mối hận t́nh.
Về Trương Chi,
nhạc sĩ nói.
-Tôi viết bài này để
nói cái t́nh cảm của đời tôi, ḿnh chỉ có
một ḿnh, không c̣n sống với lại những cái quá mơ
mộng của cuộc đời không đạt được.
Truyện Trương
Chi có người nói xuất phát tự bên Tầu. Anh
Trương Chi chèo đ̣ trên sông có tiếng hát rất hay nhưng
người th́ thật xấu xí, hàng ngày thổi sáo ca hát
trên sông. Cô Mỹ Nương con quan thừa tướng
ngày ngày cấm cung ở gần bờ sông cảm tiếng
hát của anh rồi tương tư sinh bệnh. Nhà quan biết vậy bèn cho
gọi anh Trương Chi đến, Mỵ Nương
thấy bộ mặt xấu xí của Trương Chi th́
tỉnh mộng và hết bệnh.
Trớ trêu thay, thấy nhan
sắc diễm lệ của công nương, Trương
Chi lại tương tư ngày đêm, cái t́nh yêu tuyệt
vọng ấy khiến anh lâm bệnh thác, đến khi
cất mả trái tim anh chàng chèo đ̣ lại kết thành
một khối thủy tinh, người ta đem tiện
nó thành bộ ly, tách để uống trà đem bán ngoài
chợ. T́nh cờ quan thừa tướng mua được
bộ tách ấy, một hôm Mỵ Nương bưng ly trà
lên th́ lạ thay trong ly nước lại hiện ra h́nh anh
chàng chèo đ̣ với tiếng hát nỉ non như thuở
nào, nàng cảm động rơi lệ xuống tách trà
tức th́ nó bể tan thành tro bụi.
Truyện t́nh bi
thảm đầy nước mắt đó đă được
Văn Cao diễn tả như sau.
Một chiều xưa
trăng nước chưa thành thơ.
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ.
Vương vấn heo may hoa
yến mong chờ.
Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ
Ḷng chiều bơ
vơ lúc thu vừa sang.
Chập chùng đêm
khuya thức ai pḥng loan.
Một cánh chim rơi
trong khúc nhạc vàng.
Đây đó
từng song he hé đợi đàn.
Tây hiên Mỵ nương khi
nghe tiếng ngân ḥ khoan mơ bóng con đ̣ trôi. Giai nhân cười
nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời. Anh Trương
Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa c̣n rung, anh thương
nhớ, oán trách cuộc từ ly năo nùng.
Đ̣ trăng cắm giữa
sông vắng, gió đưa câu ca về đâu, nh́n xuống đáy
nước sông sâu, thuyền anh đă ch́m đâu, từng
khúc nhạc xa vời, trong đêm khuya d́u dặt tiếng tơ
rơi, sương thu vừa buông xuống bóng cây ven bờ
sao, mờ xoá ḍng sông, ai qua bến giang đầu tha
thiết, nghe sông than mối t́nh Trương Chi, dâng úa khi trăng
về khuya bao tiếng ca ru mùa thu.
Ngoài song mưa rơi
trên bao cung đàn. C̣n nghe như ai nức
nở và than. Trầm vút tiếng gió mưa.
Cùng với tiếng nước róc rách ai có
buồn chăng? Ḷng bâng khuâng theo mưa
đưa canh tàn. Về phương xa ai
nức nở và than. Cùng với tiếng
gió vương. Nh́n thấy ngấn nước
lấp lánh in bóng đ̣ xưa.
Đ̣ ơi đêm
nay ḍng sông Hương dâng cao mà ai hát dưới trăng
ngà. Ngồi đây ta gơ ván thuyền, ta ca trái đất
c̣n riêng ta, đàn đêm thâu, trách ai khi nghèo quên nhau, đôi
lứa bên giang đầu, người ra đi, với
cuộc phân ly, đâu bóng thuyền Trương Chi
Có người xem bài Trương
Chi trong băng
Giấc Mơ Môt Đời Người nói Văn
Cao chính là Trương Chi, nhà đạo diễn phim nói
lại với ông câu này và ông đă trả lời.
-Bây giờ mà nói về Trương
Chi th́ tôi lại có một cái suy nghĩ khá mệt v́ Trương
Chi là một mối t́nh mà bản thân tôi cũng chịu cái
mối đó, mà tôi tuy không phải là anh Trương Chi
tất nhiên tôi không biết hát không phải là anh Trương
Chi, đàn sáo của tôi không bằng những người
biết đàn sáo, nhưng để muốn nói rằng câu
chuyện ấy của những con người không
hẳn đă bị ruồng rẫy mà v́ cái thấp kém
của giai cấp lúc đó.
Thật vậy trong bản Trương
Chi ấy, người ta đưa Văn Cao lên thuyền
lênh đênh trên sóng nước của ḍng sông, khán giả đă
tưởng như Văn Cao chính là Trương Chi,
nhạc sĩ cũng đă nh́n nhận bản thân ông đă
chịu cái mối đó. Văn cao đă hoà
ḿnh vào tác phẩm để đưa nó lên thành một bi
kịch năo nùng diễn tả lại một truyện t́nh
bi thảm như đă có tự bao giờ.
Câu cuối.
. . Người ra đi,
với cuộc phân ly, đâu bóng thuyền Trương Chi
Cho thấy tác
giả như đang mơ màng nhớ tới truyện t́nh
sầu thảm ấy.
Tác phẩm đầu tay của Văn Cao, Buồn Tàn Thu cũng là
một bi kịch như Trương Chi nhưng nó không
phải là huyền thoại tự ngàn xưa, ở đây
nhạc sĩ diễn tả mối hận t́nh của
một người con gái.
Ai lướt đi
ngoài sương gió, không dừng chân đến em bẽ
bàng, ôi vừa thoáng qua em mơ ngay bước chân chàng.
Từ từ xa đường vắng, nghe mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo
lá vàng, em ngồi đan áo, ḷng buồn vương vấn
em thương nhớ chàng.
Người ơi
c̣n biết em nhớ mong, t́nh xưa c̣n đó xa xôi ḷng,
nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên, chim với gió
bay về chàng quên hết lời thề. Áo đan hết rồi, cố
quên dáng người, chàng ngày nao t́m đến, c̣n nhớ đêm
xưa, kề má say sưa nhưng năm tháng qua dần, mùa
thu chết bao lần. Thôi t́nh em đấy
như mùa thu chết rơi theo lá vàng
Lời văn sầu năo bi ai
y như cái buồn của mùa thu vào lúc đang
tàn, nó chính là nỗi sầu uất hận của người
con gái đă đan xong áo len cho người yêu nhưng chàng đă
quên hết lời thề. Nghe tiếng lá vàng rơi của
mùa thu đang tàn, nàng chợt nhớ
tới người phụ bạc. Mùa thu
đă tàn lụi bao lần, t́nh nàng cũng chết bao
lần như những mùa thu đă trôi qua.
Thôi t́nh em đấy, như
mùa thu chết rơi theo lá vàng
Giữa thập niên 60,
Buồn tàn Thu đă được diễn tả bằng
giọng hát cao vút của nữ danh ca Thái Thanh cho tới nay
Quỳnh Dao, Ánh Tuyết, Lan Ngọc . . và nhiều ca sĩ
khác cũng đă diễn tả lại tấn bi
kịch ấy nhưng có lẽ
tiếng hát bi thiết của Thái Thanh đă lột
tả được hết cái buồn của mùa thu
chết cùng với tâm trạng năo nùng của kẻ bị
phụ t́nh nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
Những lời viết lăng
mạn, bay bướm, thi vị và sầu thảm
. . của Văn Cao có thể coi như
những áng văn hay nhất trong văn chương
Việt Nam, nó kết hợp hài hoà và đóng góp lớn lao
cho âm nhạc của ông. Người ta thường
biết đến Văn cao như một nhạc sĩ có
thiên tài nhưng ít ai nghĩ rằng văn chương trong
âm nhạc của ông đă góp phần rất lớn cho
nền âm nhạc Việt Nam và đă để lại cho
chúng ta những viên ngọc quí.
Cái chết của Văn cao năm
1995 đă khiến cho nhạc của ông được làm
sống lại trong nước cũng như tại
hải ngoại, mặc dù được sáng tác từ hơn
nửa thế kỷ qua, nhưng cho tới nay người
ta vẫn vô cùng yêu quí tài nghệ của ông và đă dành cho
nhạc Văn Cao một địa vị xứng đáng
như chúng tôi đă nói ở trên. Thiên Thai đă mở đầu
chương tŕnh 75 năm âm nhạc Việt Nam, và Văn
Cao đă được coi như người nhạc
sĩ có nghệ thuật cao nhất trong nền tân nhạc
nước ta từ khi mới được xây dựng
cho đến ngày hôm nay. Văn Cao thật xứng đáng
ở địa vị ấy, hăng Asan cũng đă bầy
tỏ lời cảm tạ nhạc sĩ tài danh quá cố,
người đă để lại cho nền âm nhạc
Việt Nam một kho tàng vô cùng quí báu.

Cách đây năm năm chúng
tôi có xem một phim về cuộc đời Lư Tiểu
Long, người ta nói không bao giờ có một Lư Tiểu
Long thứ hai, chúng tôi cũng nghĩ rằng tại
Việt Nam cũng như tại hải ngoại sẽ
không bao giờ có một Văn Cao thứ hai.
Trọng Đạt