|
|
||
|
Mẹ và
Quê Hương
tâm bút Trần Trung
Đạo
Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe
"thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng
kỳ quan tuyệt vời và vĩ
đại nhất vẫn là trái tim người mẹ"
Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng
không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không
vừa. Biển Thái B́nh bao la, nước sông
Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh
được với tấm ḷng của mẹ. Bản
nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào
viết về mẹ cũng cảm động bởi v́ ngôn
ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.
Mẹ là biểu
tượng trọn vẹn và tuyết đối của
tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một
người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng
tư nhất, th́ người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ
cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi
lầm ǵ, người đó sẽ là người mẹ.
Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ư nghĩ đầu tiên
của một ngày, thay v́ để nghĩ đến
chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn
mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ,
lời dặn ḍ của mẹ hay thậm chí chỉ
để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có
một ngày an lành và hạnh phúc.
Mẹ là
người mang ta đến cuộc đời, và cũng
là nơi ta trở về.
Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát
chiếc mền rách, như trong một câu chuyện
thiền mà chúng ta có thể đă từng nghe kể, dù bao mùa
mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn
chờ đơi ngày về của đứa con măi mê trên
đường đi t́m chân lư. Nếu chân lư mà chàng trai
trẻ kia đi t́m là t́nh thương và sự thật th́ chân lư sẽ không ở
đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân
gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ
chứa đựng cả một đại dương
của hy vọng, t́nh yêu, sự thật
và ḷng vị tha sâu thẳm.
Hơn mười
năm trước, tôi có viết một bài thơ về
mẹ, trong đó có hai câu đă trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi
thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ
cười.
Bài
thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần
điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ
Việt Nam. Giọng
của mẹ như vọng lại từ một thế
giới khác xa xôi. Tôi viết rất
nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều.
Những ḍng chữ, những câu thơ đúng ra là từ
mơ ước, thao thức đă ấp ủ trong tâm
thức tôi từ lâu lắm, chỉ
chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ,
tôi chỉ chép như có một người nào đang
nhắc nhở bên tai ḿnh. Nguyên văn bài
thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone
lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con
đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả ḷng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi
đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá ngh́n phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe
như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ
ơi hăy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con t́m trong giấc mơ
Nhấc chiếc phone
lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ
cười.
Bài thơ đơn
giản và dể hiểu, không có ǵ phải cần b́nh
giải. Tất cả chỉ để
nói lên tâm trạng của một người con xa
mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm
chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ,
mẹ tôi, đă ngoài 60 tuổi và đang sống trong
căn nhà tôn nghèo nàn ở Ḥa Hưng Sài G̣n. Căn nhà
nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đă
sống 8 năm.
Nhớ lại đêm
cuối cùng ở Sài G̣n, tôi đón xe
xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời
mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với
tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến
đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài
ba tiếng "con đi nghe". Và như
thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như
chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi
chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân
Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng
6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White
Plains nh́n về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ
đă ngoài tầm tay vói của ḿnh. Đời
tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi,
chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về
nguồn cội.
Nếu
có một quốc gia mà những người dân của
quốc gia đó đă phải từ chối chính
đất nước ḿnh, từ chối nơi đă chôn
nhau cắt rốn của ḿnh, tôi nghĩ, đất
nước đó không c̣n bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là
một đất nước sống trong tuyệt
vọng như thế. Dân tộc
Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc
sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi.
Sài G̣n giống như một sân ga. Chào nhau
như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một
cuộc chia ly. Bắt tay một
người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một
chút v́ biết có c̣n dịp bắt tay nhau lần nữa hay
không. Gặp người thân nào cũng chỉ
để hỏi "Bao giờ anh đi, bao giờ
chị đi", và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà
chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là
"Lên đường b́nh an nhé."
Đất
nước tuy đă ḥa b́nh rồi, quê hương đă
không c̣n tiếng súng nhưng ḷng người c̣n ly tán hơn
cả trong thời chiến tranh.
Đêm cuối ở Sài G̣n ḷng tôi
ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai
sẽ ra sao? Nếu bị bắt
tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng
nếu đi được th́ sẽ trôi dạt về
đâu?
Suốt
sáu năm ở lại Sài G̣n, tôi chỉ nghĩ đến
việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong
một con lạch ở Hải
Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đă
sáng, nhiều người, kể cả một trong hai
người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi
th́ không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi
phải t́m cho được tự do dù phải bị
bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết.
Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là
cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai
ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết ḿnh
vừa mất một cái ǵ c̣n lớn hơn ngay cả
mạng sống của ḿnh. Đó là đất
nước, quê hương, bè bạn, con đường,
tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên
tất cả, h́nh ảnh mẹ. Không phải
những người ra đi là những người quên
đất nước hay người ở lại bám
lấy quê hương mới chính là người yêu
nước. Không. Càng đi
xa, càng nhớ thương đất nước, càng
thấm thía được ư nghĩa của hai chữ quê
hương. Không ai hiểu
được tâm trạng người ra đi nếu
không chính ḿnh là kẻ ra đi.
Nói
như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho
việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn
lựa nào mà chẳng kèm theo những hy
sinh đau đớn. Bài hát Sài G̣n Vĩnh Biệt, tôi
thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi c̣n ở Việt Nam như những mũi kim
đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều
hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đă
bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu
kỷ niệm tưởng đă ch́m sâu trong kư ức đă
lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đă t́m
được tự do nhưng đó chỉ là
tự do cho chính bản thân ḿnh. Những
ǵ tôi đánh mất c̣n lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm
thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài
vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa
đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào
thành tàu chiến của Mỹ thay v́ Ba-Lan hay Liên-Xô như
mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan
mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí
c̣n hô lớn "USA, USA" và ôm chầm lấy những
người lính hải quân Mỹ đang dang tay
đỡ từng người bước lên khỏi
chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.
Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động
nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Ḷng tôi,
trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của
một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây
mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành
chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn
giữa độc tài và tự do, của quá khứ và
tương lai, mà c̣n giữa có quê hương và thiếu
quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối
cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác,
lần lượt bỏ đất nước ra đi mà
thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lư do ǵ, tôi
cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến
mẹ, người mẹ Ḥa Hưng vất vả nuôi
nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn
nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn.
Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường
để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi t́nh nguyện đi kinh tế mới
ở Sông Bé để các em tôi c̣n được phép ở
lại Sài G̣n học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi
nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, h́nh
ảnh bà mẹ Ḥa Hưng, đêm đầu tiên trong
căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số
phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội
vă này không ai nghĩ một ngày sẽ được
gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh
Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà
lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những
bàn tay học tṛ của thanh niên xung phong dựng lên, nối
nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính
yêu me. Mẹ Ḥa Hưng là
người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn
nhất của tôi và người đă thôi thúc tôi viết
nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ
Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước.
Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên
Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người
đă mang tôi vào cuộc đời này.
Người
mẹ sinh ra tôi đă chết khi tôi c̣n rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi
tôi gần như không biết mặt mẹ ḿnh. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt
nước c̣n biết mẹ ḿnh là mây, chiếc lá c̣n
biết mẹ ḿnh là cây, c̣n tôi th́ không. Tôi là
đứa bé cô độc, một con người cô
độc, không anh em, không chị em.
Tôi lớn lên một ḿnh với cha tôi trong cảnh gà
trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mă Châu, quận Duy Xuyên. Đêm
đêm nằm nghe cha kể chuyện
thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của
đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế
Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới
hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng
hanh vàng đó, cha mẹ tôi đă gặp nhau, đă chia nhau
ly nước vối chua chua thay cho chén
rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi
vải, bên ḷ ươm tơ, họ đă cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng.
Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia
rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tṛn bên kia gịng
sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực
khổ sẽ qua đi nhường bước cho ḥa b́nh
sẽ đến.
Nhưng rồi
chiến tranh như một định nghiệp, đeo
đuổi theo số phận của
đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số
phận của đời tôi. Năm tôi
13 tuổi, chiến tranh đă cướp đi cha tôi,
người thân yêu cuối cùng của tôi.
Chiến tranh lan tràn đến làng Mă Châu, đẩy tôi ra
khỏi xóm lụa vàng thân quen để
làm người du mục trên quê hương đổ
nát của ḿnh. Từ đó tôi ra đi.
Từ chặng đường đầu tiên trên căn
gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng,
đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Ḥa Hưng, trại
tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi
cách chặng đầu tiên trong hành tŕnh tỵ nạn
của tôi hàng vạn dặm.
H́nh
ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ
đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở
làng Mă Châu. Ngày tôi c̣n
nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường
tiểu học, trên đường về tôi thường
ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những
bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn
thọ. Tôi ưu tư về cuộc
đời và về thân phận của ḿnh ngay từ
thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại
sao tôi chỉ có một ḿnh? Tại sao mọi người đều lần
lượt bỏ tôi đi? Nếu
mai mốt ba tôi cũng đi th́ tôi sẽ sống với
ai? Lớn lên tôi sẽ làm ǵ? Tại sao đất nước tôi lại có chiến
tranh? Những người du kích bên kia
sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng,
bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để ḷng tuôn chảy những suy tư,
dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đă linh
cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày
đầy biến cố. Tôi đă nghĩ đến
chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi
rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mă Châu
dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ
lớn để chứa hết những buồn đau, u
uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi
hồn nhiên với những cánh diều bay, với
những con bướm vàng thơ mộng th́ tôi đă không có
tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một
chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một
điều ǵ sắp đến.
Mẹ tôi qua
đời v́ bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có
ngay cả một tấm h́nh
để lại cho tôi. Cha tôi thường
bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ.
Tôi cũng chẳng có cậu hay d́ nên tôi lại càng không
thể t́m đâu ra được
một nét nào của mẹ trong những người thân
c̣n sống. V́ không biết mẹ, nên mẹ
trở thành tuyệt đối. Khi nh́n ánh
trăng tṛn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là
khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nh́n nước
chảy ra từ ḍng suối mát tôi nghĩ đến ḍng
sữa mẹ, nh́n áng mây trắng bay trên nền trời tôi
nghĩ đến bàn tay mẹ, nh́n những v́ sao trên
dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.
Nói chung, h́nh ảnh nào đẹp
nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất,
đều được tôi nhân cách hóa nên h́nh ảnh
mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp
không những tuyệt vời mà c̣n
tuyệt đối.
Tôi
về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980
trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy
cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả
người sống cũng không ai chăm nom đừng
nói ǵ chuyện chăm nom cho người đă chết.
Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đă từng
ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe
đoạn đời ch́m nổi của ḿnh. Tôi nói
với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi
nước và hứa sẽ về dù biết nói như
thế chỉ để an ủi
hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ pḥ
hộ cho đứa con duy nhất của mẹ
được b́nh an trong những ngày
sóng gió sắp xảy ra.
Ôi
đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn ngh́n năm le lói ở đầu sông.
Vâng,
vầng trăng bên ḍng sông Thu Bồn từ đó không c̣n
tṛn như trước nữa.
Ai
cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào
rồi cũng nguôi ngoai. Vết
thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu
năm dài vẫn c̣n, đó là bất hạnh của dân
tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót
nhiều hơn cả, không phải v́ tôi mất mẹ, không
phải v́ tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu
đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam
triền miên suốt mấy chục năm qua, từ
chiến tranh sang đến cả ḥa b́nh.
Trên
thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ư cũng
thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc t́nh yêu của
một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng
rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin
một bà mẹ Việt Nam th́ khác hơn nhiều. Bà
mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất
cả những nét đẹp của quê hương,
đất nước, t́nh thương, c̣n là những h́nh
ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên
sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không
thể nào đo lường hết được.
H́nh ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên
một góc đường Trần Hưng Đạo
để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại
đang đói khát. H́nh ảnh bà mẹ
chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc
nhiều tuần trên biển. H́nh ảnh
bà mẹ chết trong mỏi ṃn tuyệt vọng
dưới gốc me già trên góc phố Sài G̣n vào một ngày
mưa băo. H́nh ảnh bà mẹ chết cô đơn
trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất
cả h́nh ảnh đau thương đó đă trở
thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi.
Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về
bất cứ chủ đề ǵ, thể loại ǵ,
văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với
h́nh ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên
đường đời mấy chục năm qua
vẫn c̣n nghe vọng lại tiếng khóc của những
người phụ nữ Việt Nam bất hạnh,
đă khóc trong chiến tranh, khóc trong ḥa b́nh, khóc trong bàn tay
hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ
người hiu quạnh.
Mơ ước
lớn nhất của tôi, v́ thế, không phải cho tôi mà
cho những người mẹ đang chịu đựng,
để các mẹ có cơ hội được sống
trong một đất nước không c̣n hận thù,
rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan
chứa t́nh đồng bào, một đất nước
thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. "Đổi cả thiên thu tiếng mẹ
cười" trong một ư nghĩa rộng hơn là
ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú
và của tất cả những ai c̣n nghĩ đến
sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp
trời cho đất nước ḿnh. Quá nhiều máu và nước mắt đă
đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống
khổ Việt Nam. Mỗi người
Việt Nam, hơn bao giờ hết hăy trở về
với mẹ như trở về với chính cội
nguồn uyên nguyên của dân tộc ḿnh. Trong đêm
rằm tháng Bảy này, xin hăy cùng nhau thắp lên những
ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng
được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân
bản và khai phóng đă được tổ tiên chúng ta hun
đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là
những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mă Châu,
mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên
đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa
dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi
vừa đặt chân đến Sài G̣n lần đầu
tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất
nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao
giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy
cuộc đời là hố thẳm. Tôi
không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một
chặng đường mới của đời ḿnh.
Tôi b́nh tĩnh đến độ hồn
nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt
đến với đời tôi và tôi rất lạc quan
trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính
ḿnh.
Trong
cuộc đời này, tôi đă nhiều lần vấp ngă
nhưng nhiều người cũng đă giúp vực tôi
dậy, lau khô những vết thương trên thân thể
và trong cả tâm hồn.
Tôi mang ơn xă hội nhiều đến nỗi
biết ḿnh sẽ không bao giờ trả hết.
Tôi biết ơn những người đă che chở cho
tôi và cũng cám ơn cả những
người đă dạy tôi hiểu giá trị của gian
lao, thử thách. Cám ơn đất nước đă cho
tôi được làm người Việt Nam, cám ơn
mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám
ơn mẹ Ḥa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà
con thân thuộc đă ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa
già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa
nắng. Nếu một mai tôi ra đi không
kịp viết điều ǵ, th́ đây, những kỷ
niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung
Đạo