|
|
||
|
Vấn
Đề Văn Hóa Việt (1)
GS Đào Văn
Dương
|
|
Triết gia nổi tiếng của
Trung Hoa là Lăo Tử (khoảng 500 năm trước
Dương Lịch) nhận xét: "Làm thày thuốc mà sai
lầm th́ chỉ giết một người; làm chính trị
mà sai lầm th́ tàn hại cả đất nước;
làm văn hóa mà sai lầm th́ gây tai họa cho muôn đời". Xem thế, văn hóa rất
quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Những
sai lầm về văn hóa sẽ làm băng hoại xă hội
trong nhiều đời về sau. Chúng ta vẫn thường
tự hào Việt Nam có hơn bốn ngàn năm văn hiến,
có lúc đă đạt đến một nền văn
minh rực rỡ dưới thời Hùng Vương, với
văn hóa Đông Sơn mà các nhà khảo cổ học quốc
tế lấy làm tiêu chuẩn để so sánh với nền
văn hóa các nước vùng Đông Nam Á vào thời kỳ
văn hóa đồ đồng cách đây khoảng ba ngàn
năm. Như vậy, ba từ ngữ
văn hóa, văn minh và văn hiến có điểm ǵ khác
nhau? Trong Hán-Việt Tự Điển
của Đào Duy Anh, tác giả đă định nghĩa
như sau: Văn hóa (văn vật và giáo hóa) là dùng văn
tự mà giáo hóa cho người; Văn minh là cái tia của
đạo đức, phát hiện ở nơi chính trị,
pháp luật, học thuật, điển chương,
v.v.... (phản nghĩa với dă man);
Văn hiến là sách vở và nhân vật tốt trong một
đời. Trong bài "Tinh Hoa Văn Học" (báo Ngày Nay,
số 346 ngày 1-7-1996), ông Duyên Hạc, cựu giáo sư
đại học Vạn Hạnh và học viện Quốc
Gia Hành Chánh ở Sài G̣n viết: "Văn hóa là cái đẹp
riêng của con người thể hiện ở lề lối
sống hàng ngày. Con vật không có văn hóa. Sinh hoạt
văn hóa có tính hướng thượng, tạo thành cái
đẹp cao qúy của con người. Khi văn hóa phát
triển tiến bộ, đạt đến một
tŕnh độ đáng kể trong đời sống thực
tế, gọi là văn minh. Khi nếp sống văn minh
được sắp xếp hài ḥa thành những định
chế qui định cuộc sống tập thể xă hội,
đem lại sự thịnh trị, phồn vinh và hạnh
phúc cho mọi người, khi đó gọi là văn hiến.
Đó chính là tinh hoa của văn hóa..." |
Chúng ta thấy rằng: phải
có văn hóa mới có văn minh và văn hiến, cho nên ta
phải hiểu rơ thế nào là văn hóa (culture).
Trong cuốn Vấn Đề
Văn Hóa Việt của Hoài Nguyên và Đinh Khang Hoạt (xuất
bản năm 1994 tại Portland, OR - Hoa Kỳ) tác giả
đă viết (trang 10-11):
1.- Theo Random
House College Dictionary (Resised Edition 1988), văn hóa là:
- Phẩm giá của con người
hay xă hội thăng hoa trong các lănh vực như nghệ
thuật, văn tự, cung cách, v,v....
- H́nh thái đặc biệt của
giai đoạn văn minh.
- Nếp sống của con
người đă được truyền tiếp từ
thế hệ này qua thế hệ khác.
2.- Theo
Encyclopedia Britannica (vol 3, 15th Edition - 1991): Văn hóa là những
h́nh thức tổng hợp các kiến thức, niềm tin
và hành vi của con người, có nghĩa là văn hóa bao gồm
ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục,
cấm kỵ, luật lệ, giáo dục, kỹ thuật,
nghệ thuật, nghi thức, lễ bái và những yếu
tố liên hệ khác.
3.- Theo Việt
Nam Tự Điển của Ban Văn Học Hội Khai
Trí Tiến Đức, trang 262: "Văn là vẻ đẹp,
hóa là thay đổi; văn hóa là sự giáo dục do văn
học đă thẩm thấu vào người ta".
4.- Theo quan
điểm của các nhà xă hội học như A. Kroeber và
C. Kluc Kholm: "Trọng điểm của văn hóa bao gồm
những tập truyền tư tưởng và nhất là những
giá trị dính liền với các tư tưởng đó. Hệ thống văn hóa là một mặt
được coi như là sản phẩm của hành động,
mặt khác là điều kiện để thực thi các
hành động khác." (A. Kroeber & C.
Kluckholm: "Culture, a critical Review of Concepts and Definition, P.
357).
5.- Theo truyền
thống các nhà nhân chủng học Hoa Kỳ, "Văn hóa
gồm những ǵ mà các nhà xă hội học gọi là hệ
thống xă hội". (T. Parsons: " The Point of View of the
Author" - P. 333)
Rút từ những định
nghĩa trên, hai ông Hoài Nguyên và Đinh Khang Hoạt đă
định nghĩa: "Văn hóa là một nền tư
tưởng giảng về liên hệ giữa cuộc sống
con người với tạo hóa để rồi thấy
những liên hệ giữa con người với con
người". Từ nghĩa rộng này, văn hóa Việt
là nếp sống (nhận thức, tư tưởng, phong
tục, luật lệ, tín ngưỡng, kinh tế, giáo dục,
v,v...) của người Việt truyền
từ đời này qua đời khác.
***
Từ phần trên, chúng ta thấy
rằng phải đọc sử Việt mới hy vọng
biết được văn hóa Việt.
Có lẽ đă đọc kỹ
sử Việt và hiểu được văn hóa Việt,
nhà văn A. Pazzi mới viết trong cuốn "Người
Việt Cao Qúy": "Dân Việt là một dân tộc tự
cường, bất khuất đến mức độ
khá cao. T́nh thần ấy đă giúp họ trở thành một
kẻ bé nhỏ nhất mà lại mạnh nhất, bị
chèn ép nhiều nhất nhưng lại quật khởi oai
hùng bậc nhất." (bản dịch
của Hồng Cúc)
Theo sử gia Trần
Trọng Kim, "đọc sử phải suy xét gốc gọn,
t́m ṭi căn nguyên những việc đă qua để hiểu
rơ những vận hội trị loạn của một
nước, những tŕnh độ tiến hóa của một
dân tộc. Chủ đích là để làm cái
gương chung kim cổ cho người
cả nước được đời đời soi
vào đấy mà biết sự sinh hoạt của người
trước đă phải lao tâm lao lực như thế
nào mới giữ được cái địa vị ở
bóng mặt trời này". (Trích nguyệt san
Dân ư số 8 (tháng 4-1995) ở Portland, OR, bài "Hồn Sử
Việt" của Duy Khang.)
Lịch sử phải
được coi là gịng sống liên tục, gắn liền
quá khứ với hiện tại để hướng về
tương lai, là nếp sống kéo dài măi măi không bao giờ
chấm dứt.
Ta có thể t́m hiểu sử Việt
hoặc theo chiều dài (từ xưa
đến nay), hoặc theo chiều ngang (qua mỗi triều
đại hay qua mỗi thế kỷ). Theo
chiều dài của sử Việt, ta có thể t́m hiểu cổ
sử, tiền sử, huyền sử rồi lịch sử.
Cổ sử Việt ứng với
thời kỳ cổ xưa khi thổ dân (có thể là tổ
tiên dân Việt) đă sống cách đây khoảng mấy chục
ngàn năm trên vùng đất hiện nay là Bắc Phần
Việt Nam, mà những nhà khảo cổ học c̣n đang
cố gắng t́m kiếm các di tích.
Tiền sử Việt
ứng với thời kỳ dân Việt thời xưa sống
thành bộ lạc, trải dài từ châu thổ sông Hoàng Hà
nước Trung Hoa xuống đến các vùng Bắc Trung
Việt ngày nay. Đây vẫn là một
nghi vấn mà chưa có sử sách nào ghi rơ rệt vào khoảng
thời gian nào (có thể vào khoảng 10.000 năm trước
Dương lịch).
Huyền sử ứng
với thời kỳ dân Việt sống cách đây khoảng
gần 5.000 năm dưới triều đại Hồng
Bàng. Hiện nay các nhà khảo cổ học, nhân chủng
học,v.v... đă chứng
minh rằng thời kỳ Hùng Vương (triều đại
Hồng Bàng) đă có thực trong sử Việt chứ
không c̣n là huyền sử nữa. Tuy nhiên,
năm 2879 trước DL (khởi đầu triều đại
Hồng Bàng) có chính xác hay không, c̣n là vấn đề phải
xét lại.
Lịch sử là thời kỳ
đă có niên lịch rơ ràng, kể từ đời nhà Thục
(An Dương Vương) đến ngày nay.
Như vậy, với hiện tại,
chúng ta có thể coi lịch sử Việt khởi điểm
từ triều đại Hồng Bàng (2879-TDL) đến
nay (2001) là 4880 năm, trải qua nhiều triều đại.
Nếu ta xét lịch sử Việt theo
chiều ngang, ta phải lưu tâm đến từng triều
đại cai trị đất nước và các thời kỳ
dân Việt sống dưới ách thống trị của
ngoại bang.
Theo thứ tự, ta có những
thời kỳ sau: Hồng Bàng, Thục, thời kỳ Bắc
Thuộc, rồi Đinh, Tiền Lê, Lư, Trần, Hậu Lê,
Nguyễn (Gia Long, không kể Nguyễn Tây Sơn quá ngắn
ngủi), rồi thời kỳ Pháp Thuộc đến Cộng
Sản (thêm khối người Việt ở hải ngoại
chịu ảnh hưởng văn hóa của nước tạm
dung).
Cắt ngắn sử Việt, ta có thể bỏ
qua thời kỳ cổ sử và tiền sử v́ có quá ít
di tích. Chúng ta chỉ lưu tâm t́m hiểu
lịch sử Việt từ thời Hồng Bàng đến
ngày nay.
Tất cả những điều
liên quan đến nếp sống của dân Việt trong
các thời kỳ trên, cho ta hiểu được văn
hóa Việt. Ta có thể chia ra văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần.
Đối với ṇi Việt,
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân
Việt tạo thành văn hóa dân gian khởi điểm của
văn hóa dân tộc. Ta có thể nói đến các ngành sản
xuất ra của cải vật chất cho dân chúng như
nông nghiệp, thủ công nghiệp,v.v...
Ta cũng có thể kể đến các sinh hoạt vật
chất của dân chúng liên quan đến ăn mặc, nhà
cửa, di chuyển, những phong tục tập quán từ
đời này qua đời khác (gia đ́nh, gia tộc, bộ
tộc, dân tộc) hoặc các tổ chức xă hội
như thôn ấp, làng xă, quận huyện, từ thôn quê
đến thành thị. Văn hóa dân gian cũng gồm có những
sinh hoạt liên quan đến văn hóa tinh thần như
học tập, hội hè, vui chơi, giải trí, văn ngyệ,
ca múa, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như những t́nh cảm,
tư tưởng, những nhận thức về tự
nhiên, về xă hội, về nhân sinh, và mối tương
quan giữa con người với con người, giữa
con người với tự nhiên.
T́m hiểu văn hóa vật chất
thời xa xưa là một công việc khó khăn, phức tạp,
đ̣i hỏi rất nhiều th́ giờ t́m ṭi, nghiên cứu
của các nhà khảo cổ học, nhân chủng học, thảo
mộc học,v.v... Đối với ṇi Việt, những
di tích tuy c̣n hiếm hoi, nhưng đă cho phép các nhà khoa học
quốc tế (khảo cổ học, nhân loại học,
dân tộc học, ngôn ngữ học, v.v..) công nhận có nền
văn minh Ḥa B́nh tức "nền văn hóa đồ
đá giữa" (mesolithic culture; culture mésolitique) khoảng
20.000 năm TDL. Nền văn hóa Bắc Sơn tức nền
"văn hóa đồ đá mới" (neolithic culture;
culture néolitique) và nền văn hóa Đông Sơn tức
"nền văn hóa đồ đồng" (bronze culture;
culture du bronze) khoảng 500 năm TDL).
Sang thế kỷ 20 (sau năm
1920 đến thập niên 80) các nhà khoa học quốc tế
(Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ḥa Lan,v.v...) đă lấy
văn hóa Ḥa B́nh (một tỉnh ở Bắc Việt) làm
tiêu chuẩn để sắp xếp các nền "văn
hóa đồ đá giữa" trong vùng Đông Nam Á. Họ
cũng lấy văn hóa Bắc Sơn (một huyện thuộc
tỉnh Lạng Sơn, Bắc Việt) làm tiêu chuẩn
để sắp xếp các nền "văn hóa đồ
đồng" trong vùng Đông Nam Á.
Tuy nhiên, trong thời kỳ cổ
sử và tiền sử (văn hóa Ḥa B́nh và Văn Hóa Bắc
Sơn), thổ dân ở các vùng Ḥa B́nh và Lạng Sơn thuộc
Bắc Việt hiện nay, có phải là tổ tiên xa xưa
của ṇi Việt hay không th́ chưa có ai có thể xác quyết
được. Trái lại, giới khoa học quốc tế
đă ḿnh xác rằng tổ tiên của dân Việt hiện
nay chính là chủ nhân của văn hóa Đông Sơn (ta thấy:
500 năm TDL là thời kỳ mà dân Việt sống dưới
triều đại Hồng Bàng vào những chi cuối cùng
của thời Hùng Vương).
***
Trên đây là sơ lược
nền văn hóa thời cổ sử và tiền sử của
sử Việt mà ta có thể cắt ngắn, để chú
trọng tới thời kỳ lịch sử Việt kể
từ đời Hồng Bàng đến nay.
Một điểm
mà chúng ta cần lưu tâm là nước Việt ở trên bờ
biển Thái B́nh Dương, có thể coi là trung tâm của
vùng Đông Nam Á thời tiền sử cũng như trong hiện
tại. Khoảng 3000 năm trước Dương Lịch,
nước Việt đă là nơi rất thuận tiện
cho việc liên lạc thương mại giữa các nước
trong vùng biển Đông; do đó đă có sự giao lưu
kinh tế và văn hóa giữa nước Việt với
các nước Đông Nam Á, với Ấn Độ và Trung
Hoa. kết quả là nền văn hóa Việt từ ngàn
xưa đă có thêm những nét đậm nhạt khác nhau của
các nền văn hóa các nước thuộc khối Đông
Nam Á, hoặc những "lớp sơn văn hóa" nhợt
nhạt của nền văn hóa Ấn Độ. Riêng biệt,
nước Việt đă bị Trung Hoa thống trị
trên 1000 năm, với mưu đồ của ṇi Hoa, rồi
Hán, cố gắng đồng hóa ṇi Việt vào ṇi Hán (tức
Hán hóa dân Việt), nên văn hóa Việt đă in "những
nét rất đậm đặc" của "lớp
sơn văn hóa Hán". Ngày nay, có rất nhiều người
Việt cho rằng dân Việt không có tư tưởng v́
không có những khuôn mặt lớn như Lăo Tử, Khổng
Tử hay Thích Ca, do đó họ thường t́m "tư
tưởng Việt" trong "văn hóa Hán". Như
thế, nếu ta muốn t́m cốt lơi của văn hóa Việt,
tư tưởng Việt, ta phải t́m cách tháo gỡ các
"lớp sơn văn hóa ngoại lai" đă bao phủ
lên văn hóa Việt.
Đi ngược
ḍng lịch sử, ta thấy "lớp sơn văn hóa Mỹ"
đối với người Việt hải ngoại sinh
sống tại Hoa Kỳ, và "lớp sơn Mác-Lê"
đối với đồng bào trong nước. Tháo gỡ được lớp sơn đó,
chúng ta thấy "lớp sơn văn hóa Pháp" đă ảnh
hưởng tới nếp sống của dân Việt (nhất
là dân thành thị) trong khoảnhg 80 năm Pháp thuộc.
Gỡ bỏ lớp sơn văn hóa Pháp, chúng
ta đối diện ngay với những "lớp
sơn Khổng Giáo, Lăo Giáo, Phật Giáo" đă điểm
mầu sắc đậm nhạt khác nhau trong suốt chiều
dài của sử Việt. Tháo gỡ được tất
cả những "lớp sơn ngoại lai" đó,
chúng ta mới t́m được cốt lơi của văn
hóa Việt, tinh hoa tư tưởng Việt, vẫn phủ
phục, ẩn tàng trong dân chúng ở những thời kỳ
đen tối của lịch sử. Nhưng
chúng ta t́m "cốt lơi" đó ở đâu?
Chúng ta đều
biết rằng trong dân gian, có rất nhiều câu ca dao, tục
ngữ và truyện cổ tích. Đó là một sinh hoạt
văn hóa được phổ biến khắp nơi, từ
gia đ́nh, thôn xóm đến quận huyện, thành thị;
đâu đâu cũng có người nêu ra các câu ca dao, tục
ngữ khi cần thiết, hoặc kể truyện cổ
tích lúc vui chơi. Truyện kể dân gian
được truyền bá sâu rộng từ hồi xa
xưa trong những ngày hội, ngày lễ, và c̣n duy tŕ cho
đến ngày nay thành những truyện cổ tích, thần
thoại và truyền thuyết lịch sử. Đúng
ra, ta phải gọi đó là những "thiên sử thi dân
gian" tương đương với từ ngữ
"épopéc" của Pháp hay "epos" của Anh.
Sử thi dân gian mang tính cách tổng
hợp của nhiều h́nh thức văn hóa dân gian, có khi
hùng tráng (như truyện Phù Đổng Thiên Vương
đánh giặc Ân đời Hùng Vương thứ 6), có
lúc đầy t́nh cảm thơ mộng (truyện Lưu Thần,
Nguyễn Triệu hay Từ Thức Lạc Thiên Thai; truyện
Bích Câu Kỳ Ngộ) hoặc rất kỳ diệu (truyện
Chữ Đồng Tử với Tiên Dung công chúa, truyện
Sơn Tinh-Thủy Tinh), cũng có khi truyện t́nh kết
thúc bi thảm (truyện Trọng Thủy và Mỵ Châu).
Chúng ta có thể
nói hầu hết mọi người đều không rơ xuất
sứ cùng tác giả của những câu ca dao, tục ngữ
hoặc những thiên sử thi dân gian. Những
"tác giả vô danh" đó đă sáng tác những câu
văn, bài vè, bài thơ từ hồi xa xưa, được
phổ biến trong dân chúng từ thế hệ này qua thế
hệ khác, từ đời trước đến đời
sau, có thể qua nhiều thế kỷ, để phản ảnh
nếp sống của dân tộc qua các thời đại.
Có như thế, các con cháu ở những thế
hệ sau mới biết được phong tục, tập
quán của tổ tiên, nền văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần của dân tộc trong những thời
kỳ thịnh vượng hoặc đen tối của
đất nước. Có như thế, kẻ thống
trị ngoại bang mới không có cách nào "tịch
thu" hay "hủy diệt" được lối
truyền bá tư tưởng theo các
"kể truyện dân gian" hay "truyền miệng"
cho nhau những câu ca dao, tục ngữ.
Chúng ta đều biết rằng
Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử đều sinh ra
đời khoảng 500 trước DL, nghĩa là cách ngày
nay khoảng 2500 năm. Nói cách khác, dân Việt đă sống
dưới triều đại Hồng Bàng trên hơn hai
ngàn năm th́ Thích Ca, Không Tử, Lăo Tử mới ra đời.
Dĩ nhiên, trong thời gian dài trên hai ngàn năm đó (từ
Kinh Dương Vương đến đời Hùng
Vương thứ 16 hay 17, khoảng 500 năm trước
DL), dân Việt đă có một nền văn hóa rạng rỡ
qua nền văn hóa Đông Sơn. Những "lớp son
Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo" không thể nào có
được ở nền văn hóa Việt trong thời
gian đó.
(Tuy nhiên, những thiên sử thi
dân gian đời Hồng Bàng và đời Thục do các nho
sĩ ghi chép lại vào thế kỷ 14 hay 15, đă có thêm những
"vết sơn văn hóa ngoại lai" mà chúng ta có thể
tháo gỡ dễ dàng).
Như vậy, chúng ta có thể dựa
vào các câu ca dao, tục ngữ để t́m hiểu "cốt
lơi văn hóa Việt" theo chiều dài
của lịch sử. Những thiên sử thi
dân gian thuộc triều đại Hồng Bàng và Thục sẽ
giúp chúng ta nhiều dữ kiện để t́m ra
"tư tưởng Việt". Theo
chiều ngang của lịch sử, chúng ta có thể lấy
các truyện cổ tích ở các thời đại kế
tiếp, phối hợp với ca dao tục ngữ.
Sau khi tháo gỡ các "lớp sơn văn hóa ngoại
lai", chúng ta sẽ t́m thấy "tinh hoa tư tưởng
Việt", mà người viết sẽ tŕnh bày trong những
bài sau./.