Vol. 20  4/2004                                                                                               3rd year edition

Editor-in-chief:  Ñoă Hoaøng Nghóa    phutavanthu@yahoo.com 

 

Font VNI : click here

Vấn Đề Văn Hóa Việt (1)

 

GS Đào Văn Dương

 

        Triết gia nổi tiếng của Trung Hoa là Lăo Tử (khoảng 500 năm trước Dương Lịch) nhận xét: "Làm thày thuốc mà sai lầm th́ chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm th́ tàn hại cả đất nước; làm văn hóa mà sai lầm th́ gây tai họa cho muôn đời".

 

     Xem thế, văn hóa rất quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Những sai lầm về văn hóa sẽ làm băng hoại xă hội trong nhiều đời về sau. Chúng ta vẫn thường tự hào Việt Nam có hơn bốn ngàn năm văn hiến, có lúc đă đạt đến một nền văn minh rực rỡ dưới thời Hùng Vương, với văn hóa Đông Sơn mà các nhà khảo cổ học quốc tế lấy làm tiêu chuẩn để so sánh với nền văn hóa các nước vùng Đông Nam Á vào thời kỳ văn hóa đồ đồng cách đây khoảng ba ngàn năm.

 

      Như vậy, ba từ ngữ văn hóa, văn minh và văn hiến có điểm ǵ khác nhau?

 

    Trong Hán-Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, tác giả đă định nghĩa như sau: Văn hóa (văn vật và giáo hóa) là dùng văn tự mà giáo hóa cho người; Văn minh là cái tia của đạo đức, phát hiện ở nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương, v.v.... (phản nghĩa với dă man); Văn hiến là sách vở và nhân vật tốt trong một đời.

 

Trong bài "Tinh Hoa Văn Học" (báo Ngày Nay, số 346 ngày 1-7-1996), ông Duyên Hạc, cựu giáo sư đại học Vạn Hạnh và học viện Quốc Gia Hành Chánh ở Sài G̣n viết: "Văn hóa là cái đẹp riêng của con người thể hiện ở lề lối sống hàng ngày. Con vật không có văn hóa. Sinh hoạt văn hóa có tính hướng thượng, tạo thành cái đẹp cao qúy của con người. Khi văn hóa phát triển tiến bộ, đạt đến một tŕnh độ đáng kể trong đời sống thực tế, gọi là văn minh. Khi nếp sống văn minh được sắp xếp hài ḥa thành những định chế qui định cuộc sống tập thể xă hội, đem lại sự thịnh trị, phồn vinh và hạnh phúc cho mọi người, khi đó gọi là văn hiến. Đó chính là tinh hoa của văn hóa..."

 

  

 

      Chúng ta thấy rằng: phải có văn hóa mới có văn minh và văn hiến, cho nên ta phải hiểu rơ thế nào là văn hóa (culture).

 

     Trong cuốn Vấn Đề Văn Hóa Việt của Hoài Nguyên và Đinh Khang Hoạt (xuất bản năm 1994 tại Portland, OR - Hoa Kỳ) tác giả đă viết (trang 10-11):

 

   1.- Theo Random House College Dictionary (Resised Edition 1988), văn hóa là:

    - Phẩm giá của con người hay xă hội thăng hoa trong các lănh vực như nghệ thuật, văn tự, cung cách, v,v....

   - H́nh thái đặc biệt của giai đoạn văn minh.

   - Nếp sống của con người đă được truyền tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác.

 

    2.- Theo Encyclopedia Britannica (vol 3, 15th Edition - 1991): Văn hóa là những h́nh thức tổng hợp các kiến thức, niềm tin và hành vi của con người, có nghĩa là văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, cấm kỵ, luật lệ, giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi thức, lễ bái và những yếu tố liên hệ khác.

 

     3.- Theo Việt Nam Tự Điển của Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức, trang 262: "Văn là vẻ đẹp, hóa là thay đổi; văn hóa là sự giáo dục do văn học đă thẩm thấu vào người ta".

 

    4.- Theo quan điểm của các nhà xă hội học như A. Kroeber và C. Kluc Kholm: "Trọng điểm của văn hóa bao gồm những tập truyền tư tưởng và nhất là những giá trị dính liền với các tư tưởng đó. Hệ thống văn hóa là một mặt được coi như là sản phẩm của hành động, mặt khác là điều kiện để thực thi các hành động khác." (A. Kroeber & C. Kluckholm: "Culture, a critical Review of Concepts and Definition, P. 357).

 

     5.- Theo truyền thống các nhà nhân chủng học Hoa Kỳ, "Văn hóa gồm những ǵ mà các nhà xă hội học gọi là hệ thống xă hội". (T. Parsons: " The Point of View of the Author" - P. 333)

 

     Rút từ những định nghĩa trên, hai ông Hoài Nguyên và Đinh Khang Hoạt đă định nghĩa: "Văn hóa là một nền tư tưởng giảng về liên hệ giữa cuộc sống con người với tạo hóa để rồi thấy những liên hệ giữa con người với con người". Từ nghĩa rộng này, văn hóa Việt là nếp sống (nhận thức, tư tưởng, phong tục, luật lệ, tín ngưỡng, kinh tế, giáo dục, v,v...) của người Việt truyền từ đời này qua đời khác.

 

                        ***

      Từ phần trên, chúng ta thấy rằng phải đọc sử Việt mới hy vọng biết được văn hóa Việt.

 

     Có lẽ đă đọc kỹ sử Việt và hiểu được văn hóa Việt, nhà văn A. Pazzi mới viết trong cuốn "Người Việt Cao Qúy": "Dân Việt là một dân tộc tự cường, bất khuất đến mức độ khá cao. T́nh thần ấy đă giúp họ trở thành một kẻ bé nhỏ nhất mà lại mạnh nhất, bị chèn ép nhiều nhất nhưng lại quật khởi oai hùng bậc nhất." (bản dịch của Hồng Cúc)

 

     Theo sử gia Trần Trọng Kim, "đọc sử phải suy xét gốc gọn, t́m ṭi căn nguyên những việc đă qua để hiểu rơ những vận hội trị loạn của một nước, những tŕnh độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung kim cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết sự sinh hoạt của người trước đă phải lao tâm lao lực như thế nào mới giữ được cái địa vị ở bóng mặt trời này". (Trích nguyệt san Dân ư số 8 (tháng 4-1995) ở Portland, OR, bài "Hồn Sử Việt" của Duy Khang.)

 

     Lịch sử phải được coi là gịng sống liên tục, gắn liền quá khứ với hiện tại để hướng về tương lai, là nếp sống kéo dài măi măi không bao giờ chấm dứt.

 

   Ta có thể t́m hiểu sử Việt hoặc theo chiều dài (từ xưa đến nay), hoặc theo chiều ngang (qua mỗi triều đại hay qua mỗi thế kỷ). Theo chiều dài của sử Việt, ta có thể t́m hiểu cổ sử, tiền sử, huyền sử rồi lịch sử.

 

     Cổ sử Việt ứng với thời kỳ cổ xưa khi thổ dân (có thể là tổ tiên dân Việt) đă sống cách đây khoảng mấy chục ngàn năm trên vùng đất hiện nay là Bắc Phần Việt Nam, mà những nhà khảo cổ học c̣n đang cố gắng t́m kiếm các di tích.

 

      Tiền sử Việt ứng với thời kỳ dân Việt thời xưa sống thành bộ lạc, trải dài từ châu thổ sông Hoàng Hà nước Trung Hoa xuống đến các vùng Bắc Trung Việt ngày nay. Đây vẫn là một nghi vấn mà chưa có sử sách nào ghi rơ rệt vào khoảng thời gian nào (có thể vào khoảng 10.000 năm trước Dương lịch).

 

      Huyền sử ứng với thời kỳ dân Việt sống cách đây khoảng gần 5.000 năm dưới triều đại Hồng Bàng. Hiện nay các nhà khảo cổ học, nhân chủng học,v.v... đă chứng minh rằng thời kỳ Hùng Vương (triều đại Hồng Bàng) đă có thực trong sử Việt chứ không c̣n là huyền sử nữa. Tuy nhiên, năm 2879 trước DL (khởi đầu triều đại Hồng Bàng) có chính xác hay không, c̣n là vấn đề phải xét lại.

 

     Lịch sử là thời kỳ đă có niên lịch rơ ràng, kể từ đời nhà Thục (An Dương Vương) đến ngày nay.

 

     Như vậy, với hiện tại, chúng ta có thể coi lịch sử Việt khởi điểm từ triều đại Hồng Bàng (2879-TDL) đến nay (2001) là 4880 năm, trải qua nhiều triều đại. Nếu ta xét lịch sử Việt theo chiều ngang, ta phải lưu tâm đến từng triều đại cai trị đất nước và các thời kỳ dân Việt sống dưới ách thống trị của ngoại bang.

 

      Theo thứ tự, ta có những thời kỳ sau: Hồng Bàng, Thục, thời kỳ Bắc Thuộc, rồi Đinh, Tiền Lê, Lư, Trần, Hậu Lê, Nguyễn (Gia Long, không kể Nguyễn Tây Sơn quá ngắn ngủi), rồi thời kỳ Pháp Thuộc đến Cộng Sản (thêm khối người Việt ở hải ngoại chịu ảnh hưởng văn hóa của nước tạm dung).

 

     Cắt ngắn sử Việt, ta có thể bỏ qua thời kỳ cổ sử và tiền sử v́ có quá ít di tích. Chúng ta chỉ lưu tâm t́m hiểu lịch sử Việt từ thời Hồng Bàng đến ngày nay.

 

     Tất cả những điều liên quan đến nếp sống của dân Việt trong các thời kỳ trên, cho ta hiểu được văn hóa Việt. Ta có thể chia ra văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

 

     Đối với ṇi Việt, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân Việt tạo thành văn hóa dân gian khởi điểm của văn hóa dân tộc. Ta có thể nói đến các ngành sản xuất ra của cải vật chất cho dân chúng như nông nghiệp, thủ công nghiệp,v.v... Ta cũng có thể kể đến các sinh hoạt vật chất của dân chúng liên quan đến ăn mặc, nhà cửa, di chuyển, những phong tục tập quán từ đời này qua đời khác (gia đ́nh, gia tộc, bộ tộc, dân tộc) hoặc các tổ chức xă hội như thôn ấp, làng xă, quận huyện, từ thôn quê đến thành thị. Văn hóa dân gian cũng gồm có những sinh hoạt liên quan đến văn hóa tinh thần như học tập, hội hè, vui chơi, giải trí, văn ngyệ, ca múa, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như những t́nh cảm, tư tưởng, những nhận thức về tự nhiên, về xă hội, về nhân sinh, và mối tương quan giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên.

 

     T́m hiểu văn hóa vật chất thời xa xưa là một công việc khó khăn, phức tạp, đ̣i hỏi rất nhiều th́ giờ t́m ṭi, nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, nhân chủng học, thảo mộc học,v.v... Đối với ṇi Việt, những di tích tuy c̣n hiếm hoi, nhưng đă cho phép các nhà khoa học quốc tế (khảo cổ học, nhân loại học, dân tộc học, ngôn ngữ học, v.v..) công nhận có nền văn minh Ḥa B́nh tức "nền văn hóa đồ đá giữa" (mesolithic culture; culture mésolitique) khoảng 20.000 năm TDL. Nền văn hóa Bắc Sơn tức nền "văn hóa đồ đá mới" (neolithic culture; culture néolitique) và nền văn hóa Đông Sơn tức "nền văn hóa đồ đồng" (bronze culture; culture du bronze) khoảng 500 năm TDL).

 

       Sang thế kỷ 20 (sau năm 1920 đến thập niên 80) các nhà khoa học quốc tế (Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ḥa Lan,v.v...) đă lấy văn hóa Ḥa B́nh (một tỉnh ở Bắc Việt) làm tiêu chuẩn để sắp xếp các nền "văn hóa đồ đá giữa" trong vùng Đông Nam Á. Họ cũng lấy văn hóa Bắc Sơn (một huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, Bắc Việt) làm tiêu chuẩn để sắp xếp các nền "văn hóa đồ đồng" trong vùng Đông Nam Á.

 

      Tuy nhiên, trong thời kỳ cổ sử và tiền sử (văn hóa Ḥa B́nh và Văn Hóa Bắc Sơn), thổ dân ở các vùng Ḥa B́nh và Lạng Sơn thuộc Bắc Việt hiện nay, có phải là tổ tiên xa xưa của ṇi Việt hay không th́ chưa có ai có thể xác quyết được. Trái lại, giới khoa học quốc tế đă ḿnh xác rằng tổ tiên của dân Việt hiện nay chính là chủ nhân của văn hóa Đông Sơn (ta thấy: 500 năm TDL là thời kỳ mà dân Việt sống dưới triều đại Hồng Bàng vào những chi cuối cùng của thời Hùng Vương).

                        ***

 

      Trên đây là sơ lược nền văn hóa thời cổ sử và tiền sử của sử Việt mà ta có thể cắt ngắn, để chú trọng tới thời kỳ lịch sử Việt kể từ đời Hồng Bàng đến nay.

 

      Một điểm mà chúng ta cần lưu tâm là nước Việt ở trên bờ biển Thái B́nh Dương, có thể coi là trung tâm của vùng Đông Nam Á thời tiền sử cũng như trong hiện tại. Khoảng 3000 năm trước Dương Lịch, nước Việt đă là nơi rất thuận tiện cho việc liên lạc thương mại giữa các nước trong vùng biển Đông; do đó đă có sự giao lưu kinh tế và văn hóa giữa nước Việt với các nước Đông Nam Á, với Ấn Độ và Trung Hoa. kết quả là nền văn hóa Việt từ ngàn xưa đă có thêm những nét đậm nhạt khác nhau của các nền văn hóa các nước thuộc khối Đông Nam Á, hoặc những "lớp sơn văn hóa" nhợt nhạt của nền văn hóa Ấn Độ. Riêng biệt, nước Việt đă bị Trung Hoa thống trị trên 1000 năm, với mưu đồ của ṇi Hoa, rồi Hán, cố gắng đồng hóa ṇi Việt vào ṇi Hán (tức Hán hóa dân Việt), nên văn hóa Việt đă in "những nét rất đậm đặc" của "lớp sơn văn hóa Hán". Ngày nay, có rất nhiều người Việt cho rằng dân Việt không có tư tưởng v́ không có những khuôn mặt lớn như Lăo Tử, Khổng Tử hay Thích Ca, do đó họ thường t́m "tư tưởng Việt" trong "văn hóa Hán". Như thế, nếu ta muốn t́m cốt lơi của văn hóa Việt, tư tưởng Việt, ta phải t́m cách tháo gỡ các "lớp sơn văn hóa ngoại lai" đă bao phủ lên văn hóa Việt.

 

      Đi ngược ḍng lịch sử, ta thấy "lớp sơn văn hóa Mỹ" đối với người Việt hải ngoại sinh sống tại Hoa Kỳ, và "lớp sơn Mác-Lê" đối với đồng bào trong nước. Tháo gỡ được lớp sơn đó, chúng ta thấy "lớp sơn văn hóa Pháp" đă ảnh hưởng tới nếp sống của dân Việt (nhất là dân thành thị) trong khoảnhg 80 năm Pháp thuộc. Gỡ bỏ lớp sơn văn hóa Pháp, chúng ta đối diện ngay với những "lớp sơn Khổng Giáo, Lăo Giáo, Phật Giáo" đă điểm mầu sắc đậm nhạt khác nhau trong suốt chiều dài của sử Việt. Tháo gỡ được tất cả những "lớp sơn ngoại lai" đó, chúng ta mới t́m được cốt lơi của văn hóa Việt, tinh hoa tư tưởng Việt, vẫn phủ phục, ẩn tàng trong dân chúng ở những thời kỳ đen tối của lịch sử. Nhưng chúng ta t́m "cốt lơi" đó ở đâu?

 

      Chúng ta đều biết rằng trong dân gian, có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ và truyện cổ tích. Đó là một sinh hoạt văn hóa được phổ biến khắp nơi, từ gia đ́nh, thôn xóm đến quận huyện, thành thị; đâu đâu cũng có người nêu ra các câu ca dao, tục ngữ khi cần thiết, hoặc kể truyện cổ tích lúc vui chơi. Truyện kể dân gian được truyền bá sâu rộng từ hồi xa xưa trong những ngày hội, ngày lễ, và c̣n duy tŕ cho đến ngày nay thành những truyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết lịch sử. Đúng ra, ta phải gọi đó là những "thiên sử thi dân gian" tương đương với từ ngữ "épopéc" của Pháp hay "epos" của Anh.

 

     Sử thi dân gian mang tính cách tổng hợp của nhiều h́nh thức văn hóa dân gian, có khi hùng tráng (như truyện Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân đời Hùng Vương thứ 6), có lúc đầy t́nh cảm thơ mộng (truyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu hay Từ Thức Lạc Thiên Thai; truyện Bích Câu Kỳ Ngộ) hoặc rất kỳ diệu (truyện Chữ Đồng Tử với Tiên Dung công chúa, truyện Sơn Tinh-Thủy Tinh), cũng có khi truyện t́nh kết thúc bi thảm (truyện Trọng Thủy và Mỵ Châu).

 

       Chúng ta có thể nói hầu hết mọi người đều không rơ xuất sứ cùng tác giả của những câu ca dao, tục ngữ hoặc những thiên sử thi dân gian. Những "tác giả vô danh" đó đă sáng tác những câu văn, bài vè, bài thơ từ hồi xa xưa, được phổ biến trong dân chúng từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời trước đến đời sau, có thể qua nhiều thế kỷ, để phản ảnh nếp sống của dân tộc qua các thời đại. Có như thế, các con cháu ở những thế hệ sau mới biết được phong tục, tập quán của tổ tiên, nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc trong những thời kỳ thịnh vượng hoặc đen tối của đất nước. Có như thế, kẻ thống trị ngoại bang mới không có cách nào "tịch thu" hay "hủy diệt" được lối truyền bá tư tưởng theo các "kể truyện dân gian" hay "truyền miệng" cho nhau những câu ca dao, tục ngữ.

 

      Chúng ta đều biết rằng Phật Thích Ca, Đức Khổng Tử đều sinh ra đời khoảng 500 trước DL, nghĩa là cách ngày nay khoảng 2500 năm. Nói cách khác, dân Việt đă sống dưới triều đại Hồng Bàng trên hơn hai ngàn năm th́ Thích Ca, Không Tử, Lăo Tử mới ra đời. Dĩ nhiên, trong thời gian dài trên hai ngàn năm đó (từ Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 16 hay 17, khoảng 500 năm trước DL), dân Việt đă có một nền văn hóa rạng rỡ qua nền văn hóa Đông Sơn. Những "lớp son Phật Giáo, Khổng Giáo, Lăo Giáo" không thể nào có được ở nền văn hóa Việt trong thời gian đó.

 

     (Tuy nhiên, những thiên sử thi dân gian đời Hồng Bàng và đời Thục do các nho sĩ ghi chép lại vào thế kỷ 14 hay 15, đă có thêm những "vết sơn văn hóa ngoại lai" mà chúng ta có thể tháo gỡ dễ dàng).

 

    Như vậy, chúng ta có thể dựa vào các câu ca dao, tục ngữ để t́m hiểu "cốt lơi văn hóa Việt" theo chiều dài của lịch sử. Những thiên sử thi dân gian thuộc triều đại Hồng Bàng và Thục sẽ giúp chúng ta nhiều dữ kiện để t́m ra "tư tưởng Việt". Theo chiều ngang của lịch sử, chúng ta có thể lấy các truyện cổ tích ở các thời đại kế tiếp, phối hợp với ca dao tục ngữ. Sau khi tháo gỡ các "lớp sơn văn hóa ngoại lai", chúng ta sẽ t́m thấy "tinh hoa tư tưởng Việt", mà người viết sẽ tŕnh bày trong những bài sau./.

 

 

Home