|
|
||
|
Chæ daån caùch download font VNI mieån
phí ñeå ñoïc Ñaëc san Vieät Voơ Ñaïo: click
Chæ daån
TIM BERNERS-LEE
Người sáng lập World Wide Web
- Khuyết Danh -
Từ hàng vạn nối kết Internet, Tim
Berners - Lee đă cho ra đời World Wide Web và h́nh thành nên
truyền thông đại chúng của thế kỷ 21.

Tim Berners-Lee
Tim Berners – Lee, sinh ngày 9-6-1955 tại London
1976 tốt nghiệp Oxford
1980 làm việc cho CERN, viết “Enquire”
1989 đề xuất dự án
siêu văn bản toàn cầu gọi là “World Wide Web”
1991 web khởi sự hoạt động
trên Internet
1993 Trường đại học Illinois tung ra phần mềm browser Mosaic
1994 gia nhập MIT, lănh đạo tổ hợp
W3
1999 đến nay có khoảng 150 triệu
người nối mạng Internet mỗi tuần
Bạn muốn biết thế
giới đă thay đổi thế nào một thập niên
qua? Vậy th́
hăy nối mạng vào Intemet và gơ vào máy cái chữ mà bạn cần
(xin vui ḷng dùng tiếng Anh). Bạn sẽ
nhận khoảng 30.000 từ. Th́ ra là ngày nay bạn có
thể tham khảo hầu như tất cả mọi thứ
trên mạng, từ hàng hóa buôn bán ở Sydney đến các
khóa đào tạo tin học qua e-mail ở Ấn Độ.
Hăy thử bấm vào một địa chỉ ở Nairobi
và đăng kư mua sách. Hăy bấm thử
lần nữa vào một địa chỉ ở Singapore và
t́m một công ty chuyên vận chuyển các chú vật
cưng. Hăy t́m thử x́ gà ngoại nhập,
nước tương hay bất cứ thứ ǵ đó.
Bây giờ bạn nói sao đây? Mọi người đều biết rằng chỉ
cần nối mạng, có con chuột và modem là có thể “nhấp
và bấm” bất cứ nơi đâu trên thế giới,
không bị giới hạn bao nhiêu về không gian, thời
gian lẫn cước phí điện thoại đường
dài.
Tất cả những
điều này đạt được nhờ một chương
tŕnh máy tính viết cách đây 20 năm bởi một nhà
tư vấn phần mềm khiêm tốn mang tên Tim
Berners-Lee. Hồi
đó, mấy ai biết được rằng chàng trai này
sẽ làm nảy sinh cả một nền văn minh mới,
một kỷ nguyên tin học mới có cái tên là World Wide Web?
Khác với vô số phát minh từng làm biến
chuyển thế giới, phát minh này là công tŕnh của một
người duy nhất. Thomas Edison nổi tiếng nhờ
ống đèn thắp sáng, nhưng ông có hàng chục nhân viên
làm việc trong pḥng thí nghiệm của ḿnh. William
Shocley có thể là cha đẻ của transitor, nhưng hai
trong số các nhà nghiên cứu của ông mới thật sự
tạo ra nó. Và ngay cả chính Internet
cũng là một công tŕnh tập thể. Nhưng World Wide Web lại là công tŕnh của riêng mỗi
ḿnh Berners- Lee. Ông đă thiết kế ra nó, tung nó ra thế giới. Và hơn tất cả
mọi người, ông đấu tranh để nó trở
thành một tài sản chung, hoàn toàn tự
do sử dụng và không thuộc sở hữu của riêng
ai.
Tất cả bắt đầu vào năm
1980 từ trên các đỉnh núi ở Thụy Sĩ. Berners
- Lee lúc ấy đang thực hiện một hợp
đồng sáu tháng làm kỹ sư phần mềm cho CERN -
pḥng thí nghiệm vật lư hạt của châu Âu tại Geneva.
Anh đang xoay xở t́m một cách thức để tổ
chức lại các ghi chép lung tung của
ḿnh. Anh vẫn nuôi mối quan tâm về một chương
tŕnh xử lư thông tin theo cách thức “tương tự
như bộ năo” nhưng lại cải thiện được
sự hạn chế về khả năng nhớ. Thế
là anh bèn nghĩ ra một phần mềm mà anh đặt
tên là Enquire (tra khảo), viết tắt của Enquire Within
Upon Everything (tạm dịch là tra khảo mọi thứ) -
một câu trong quyển bách khoa toàn thư
mà anh nhớ từ lúc bé.
Xây dựng trên ư tưởng phổ biến
trong thiết kế phần mềm thời bấy giờ,
Berners-Lee tạo ra một loại sổ tay
“siêu văn bản”. Các từ trong tài liệu được
nối kết với các file khác trong máy tính của
Berners-Lee. Anh có thể lần theo nối
kết này bằng số (lúc này chưa tồn tại con
chuột để nhấp) và tự động truy ra tài
liệu liên đới. Phần mềm này hoạt
động hoàn hảo. Nhưng phải
làm sao đây nếu anh muốn thực hiện điều
tương tự trên máy tính của một người nào
khác? Đầu tiên, cần phải
được người đó cho phép. Sau đó anh
phải bổ sung chất liệu mới vào một cơ
sở dữ liệu trung ương. Một
giải pháp tốt hơn nữa là mở các tài liệu của
anh - và máy tính của anh - cho mọi người và cho phép họ
nối kết với nó. Berners-Lee có thể chỉ
hạn chế giới hạn việc truy cập trong phạm
vi các đồng nghiệp của anh ở
CERN, nhưng tại sao anh phải dừng ở đó? Phải
mở nó ra cho các nhà khoa học ở khắp nơi để
nó chuyển thành một mạng lưới! Theo kế hoạch
của Berners-Lee, sẽ không có bộ
phận quản trị trung ương nào, không có trung tâm
cơ sở dữ liệu và cũng không có vấn đề
phân cấp. Sự việc sẽ diễn ra hệt
như bản thân Internet, không có đáy và hoàn toàn không giới
hạn. Sau này anh viết: “Mọi người phải
nhảy được từ phần mềm tư liệu
đến danh mục điện thoại hoặc một
sơ đồ tổ chức hay bất cứ thứ ǵ
khác”. Thế là anh lập nên một hệ thống
mă tương đối dễ học gọi là HTML (Hyper
Text Markup Language) mà sau này trở thành ngôn ngữ chủ
đạo của Web. Đó là cách thức mà những
người tạo nội dung web đưa các nối kết
có màu hoặc gạch dưới vào văn bản của họ,
bổ sung thêm h́nh ảnh... Berners-Lee đă thiết
kế và lập sơ đồ địa chỉ để
mỗi trang web có một địa chỉ duy nhất.
Anh cũng đă phá vỡ một số luật
lệ để làm cho các tài liệu này có thể nối với
nhau trên máy tính qua Internet.
Cuối cùng, Berners - Lee đă tạo ra browser
đầu tiên của World Wide Web, cho phép người sử
dụng mọi nơi trông thấy phát minh của anh qua màn
h́nh máy tính. Năm 1991, World Wide Web bắt đầu
được đưa vào hoạt động và lập
tức đem lại trật tự và sự rơ ràng cho không
gian điều khiển mà lúc đó đang trong trạng
thái hỗn loạn. Từ đó, web và Internet
cùng hợp nhất nhau để phát triển với tốc
độ chóng mặt. Chỉ trong
năm năm, số lượng người sử dụng
Internet đă nhảy vọt từ 600.000 lên 40 triệu.
Đến một thời điểm nhất định,
con số này nhân gấp đôi sau mỗi 53 ngày.Web là một
không gian thông tin thông qua đó con người có thể giao
tiếp với nhau bằng cách chia sẻ kiến thức
Lần đầu tiên Giải thưởng
công nghệ thiên niên kỷ (được thành lập
năm 2002) do Chính phủ Hà Lan hỗ trợ đă
được trao cho Tim Berners - Lee, người đă
được báo Time năm 1999 bầu chọn là một
trong số 100 bộ óc vĩ đại của thế kỷ
20. Giải thưởng được trao
hai năm một lần. Lễ trao giải đầu
tiên này sẽ diễn ra ngày 15-6-2004 tại Amsterdam, thủ
đô Hà Lan như một sự tôn vinh đối với một
công tŕnh có ư nghĩa cải thiện
trực tiếp điều kiện sống của con
người.
Lớn lên ở London trong
thập niên 1960, Berners - Lee là hiện thân của kỷ
nguyên máy tính. Cha mẹ của anh gặp
gỡ nhau khi cùng tham gia chế tạo chiếc máy tính
thương mại đầu tiên (chiếc Ferranti Mark I). Họ
đă dạy con phải tư duy một cách khác thường.
Berners - Lee đă chơi đố với các con số bên
bàn ăn sáng (ví dụ căn bậc hai của - 4 là bao
nhiêu?). Anh đă tạo ra chiếc máy tính giả bằng những
hộp thẻ và băng giấy đục lỗ, rồi
sau đó đă mê mẩn môn điện tử. Sau này, tại Trường Oxford, anh đă chế
ra chiếc máy tính điện tử của ḿnh từ những
bộ phận vứt bỏ của máy truyền h́nh.
Anh cũng nghiên cứu vật lư một cách say mê và cho rằng
môn này sẽ rất hay nếu như dung ḥa được
toán học và điện tử học. Sau này hồi tưởng
lại, anh nói: “Vật lư rất thú vị. Thật ra nó là chuẩn bị tốt cho việc
h́nh thành một hệ thống toàn cầu”. Thật khó mà kể hết công dụng của hệ
thống toàn cầu mà anh đă lập ra. Nói nôm na, anh đă chuyển một hệ thống
truyền thông tin dành cho giới thượng lưu thành một
hệ thống truyền thông đại chúng. Eric Schmidt, chủ
tịch - tổng giám đốc Công ty Novell, có lần
đă nói với tờ New York Times: “Giá như đó là một
lĩnh vực khoa học truyền thống th́ hẳn
Berners - Lee đă đoạt giải thưởng Nobel”.
Bạn nghĩ rằng ít
ra Berners - Lee cũng trở nên giàu có và vô số cơ hội
sẽ mở ra cho anh. Thế nhưng Berners - Lee lại luôn lựa chọn
con đường ít sinh lợi nhất. Marc Andreessen,
người từng tham gia xây dựng phần mềm Web
browser phổ cập đầu tiên mang tên là Mosaic (không giống
browser của Berners - Lee ở chỗ đưa h́nh ảnh
và văn bản vào cùng một vị trí), đă dấn tới
trở thành người đồng sáng lập Công ty
Netscape và cũng là tỉ phú đầu tiên trong lĩnh vực
web. Berners - Lee, ngược lại, đă chuyển sang công
việc hành chính và nghiên cứu tại Viện Công nghệ
Massachusetts (MIT). Từ văn pḥng của ḿnh ở
MIT, anh điều hành tổ hợp W3, bộ phận lập
tiêu chuẩn hỗ trợ cho Netscape, Microsoft và bất cứ
công ty nào khác chấp nhận phổ biến rộng răi phát
minh của anh, thay v́ giữ rịt nó làm của riêng.
Trong khi cả thế giới lao vào kiếm tiền từ
sự tăng trưởng kinh khủng của web th́ Berners
- Lee vẫn hài ḷng lao động lặng lẽ ở
hậu trường, với niềm tin rằng tất
cả chúng ta sẽ tiếp nối những ǵ anh khởi
xướng.
P.V: - Internet và Web khác nhau như thế nào?
- Internet là mạng của các mạng. Về cơ bản nó được tạo thành
từ những máy tính và các đường dây cáp. Những
ǵ mà Vint Cerf và Bob Khan đă làm là h́nh dung ra hệ thống
đó nhằm gửi đi những “gói” nhỏ thông tin. Như Vint chỉ ra, mỗi gói thông tin giống
như một tấm thiệp với một địa chỉ
ghi trên đó. Nếu bạn ghi đúng địa chỉ
trên “gói tin này” và trao cho bất kỳ máy tính nào đang kết
nối Internet, các chiếc máy tính sẽ xác định xem sẽ
sử dụng đường cáp gửi nó lên mạng
để chuyển tới điểm đích. Hiện nay
có rất nhiều chương tŕnh sử dụng Internet,
ví dụ: thư điện tử đă
có mặt từ rất lâu trước khi hệ thống
siêu văn bản được phát minh và sử dụng
trên toàn cầu với tên gọi World Wide Web.
Ngày nay có rất nhiều dịch vụ
để mă hóa thông tin theo những cách khác nhau và sử dụng
các ngôn ngữ khác nhau giữa các máy tính (giao thức) để
cung cấp dịch vụ, ví dụ như: hội thảo
video trực tuyến, các kênh truyền thanh trên mạng và một
số loại h́nh dịch vụ khác cũng như chính bản
thân mạng toàn cầu.
Mạng toàn cầu (web) là một không gian ảo
chứa thông tin. Trên mạng,
bạn làm việc với các máy tính; c̣n trên web, bạn t́m được
tài liệu, âm thanh, h́nh ảnh video… Trên net, kết
nối là những sợi cáp nối các máy tính với nhau;
c̣n trên web, kết nối là những đường liên kết
siêu văn bản. Internet tồn tại
được là nhờ những chương tŕnh liên lạc
giữa các máy tính trên net. Mạng toàn cầu không thể
tồn tại nếu không có các mạng cơ sở,
nhưng mạng toàn cầu cũng làm cho mạng cơ sở
trở nên hữu ích hơn, bởi điều con người
thật sự quan tâm là thông tin chứ không phải là máy
tính và cáp truyền dữ liệu.
- Ông có thể cho biết thêm về đời
sống riêng của ḿnh không?
- Rất tiếc là không thể. Tôi muốn tách biệt giữa công việc và cuộc
sống cá nhân. Những ǵ trên mạng
Internet, trên trang này và trang chủ của tôi là tất cả
những ǵ tôi có thể cung cấp. Xin đừng gửi
email cho tôi để hỏi thêm thông tin về các dự án nhà trường. Cảm ơn v́ đă hiểu
tôi!