|
|
||
|
Yến Lan, bến sông và phố huyện
NGUYỄN THANH MỪNG
Bến My Lăng của Yến Lan là cái
bến sông huyền ảo đầy vang bóng trên thi đàn,
gắn liền với tên tuổi nhà thơ mỗi khi
người ta nhắc đến. Đă hơn một lần
Yến Lan giải thích rằng nó bắt nguồn từ một
bến đ̣ thật, bến Trường Thi, cách thị
trấn B́nh Định nơi ông ở khoảng mấy dặm
đường. Mỗi lần qua bến sông này, nh́n doi cát
cong cong tựa bờ mi thiếu nữ, ḷng khách văn
chương không thể không thao thiết cùng những ḍng
thơ xa xăm: Bến My Lăng nằm
không thuyền đợi khách – Rượu hết rồi
ông lái chẳng buông câu – Trăng th́ đầy rơi vàng
trên mặt sách – Ông lái buồn để gió lén mơn râu…
Đó là một bến sông đẹp, đẹp đến
năo ḷng, nơi xưa kia người cha của
Yến Lan đă lần theo tiếng hát để đến
với mẹ ông, một thôn nữ quay xa dệt lụa
thường gửi hồn cùng những khúc dân ca say đắm.
Mối tơ duyên đẫm đầy thi vị ấy
đă sản sinh ra một người con, thi sĩ ngay thuở
mới vừa lọt ḷng: Quê ngoại
bên kia băi cát vàng – Mẹ tôi về lỡ chuyến đ̣
ngang – Cơn đau trở dạ không giường chiếu
– Tôi lọt ḷng ra giữa băi trăng – Vẫn đôi bầu
ấy sữa căng đầy – Nuôi lớn hồn nhiên cả
một bầy – Sao đến lượt tôi thành trái chứng
– Ngọt ngào thoắt đă đổi chua cay.
Năm Yến Lan lên sáu, mẹ ông ốm nặng,
nằm liệt giường. Gần ba năm, Yến
Lan được cha sai hàng ngày
đưa cơm cho mẹ và thỉnh thoảng xế chiều
lại thêm b́nh tích bánh canh. Cha Yến Lan làm nghề
đậu hoa trên vải. Một hôm, cha
ông nhận được một mẫu hàng từ Thượng
Hải, hoa văn rất phức tạp. Hai ngày liền, cha ông không đậu được
hoa. Mẹ ông từ buồng bệnh bước ra cửa
hỏi và dùng tay ra hiệu cho chồng
cách đậu hoa. Quả nhiên hoàn tất
được mẫu hàng. Như mọi hôm, Yến Lan đưa cơm vào cho mẹ. Nhưng hôm
đó, mẹ ông không c̣n ăn được
nữa. Máu bà ra từ mũi, miệng.
Đến cuối chiều th́ bà đă lạnh cứng tay chân.
Đêm đó, Yến Lan đi cùng người
láng giềng đưa tin về quê ngoại. Đến
đoạn đường qua G̣ Tập là nơi người
ta đồn đại rất nhiều về chuyện ma
đưa vơng, Yến Lan quưnh chân. Người láng giềng cất tiếng gọi
đ̣. Ông cậu của Yến Lan
nằm ngủ trong thuyền, giật ḿnh chống đ̣ hớt
hải sang. Ấn tượng về tiếng gọi
đ̣ năo ruột trong đêm trăng sương lạnh lẽo
ấy ám ảnh Yến Lan đến suốt
đời. Những năm vào tuổi bát tuần,
ông vẫn c̣n thường nhắc đến chuyện này với
đôi mắt ngấn lệ. Ông thú nhận rằng
ngày xưa, bài thơ Bến My Lăng của ông ra đời
trong lúc xuất thần, có cả sự hô hấp tinh thần
của ấn tượng tiếng gọi đ̣ thuở bé.
Mẹ Yến Lan mất ít lâu, cha ông lấy vợ
kế. Yến Lan phải chịu
đựng cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông chia bùi sẻ ngọt với cây thị chùa Ông,
nơi ông trải qua tuổi thơ cay đắng. Cây
thị ngót trăm tuổi, như người bạn lớn,
vỗ về, chở che và ḷng ông ràn rụa thương cảm:
Đêm mưa tí tách nhà tranh giột –
Thị nới ḿnh che nửa mái ngoài – Sáng dậy nghe chim run
tiếng hót – Mới hay cây lạnh suốt đêm dài…
Và cậu bé Yến Lan rách rưới thiếu
thốn, nhờ cây thị mỗi mùa trái, hái bán dành dụm
tiền may áo: Trái ra chợ bán lành
thân áo – Ơn thị thay phần mẹ dưỡng nuôi…
Thị trấn B́nh Định có thành cổ rêu phong, có vó ngựa
rời rạc, có tiếng trống thu
không, có những trái thị vàng đầy ân t́nh như thế
là nơi Yến Lan tạo dựng nghiệp thơ. Bóng dáng
một thời là những con đường nhễ nhại
dưới trăng, lầu Cửa Đông nơi ông và Chế
Lan Viên thường trèo lên và gọi là Lầu Tư Tưởng,
mái chùa cổ và nếp nhà tranh đón những bạn
thơ Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Hoàng Diệp,
Quỳnh Dao… "Đây là chốn
nương mây và cậy nguyệt – Đàng chờ xe sông
nước ước mong thuyền – Tịch dương
liễu không biết ḿnh đương biếc –
Tương tư trời tương tư nhạc triền
miên", Yến Lan đă mô tả về một
B́nh Định 1935 như thế. Một B́nh Định có
người con trai đơn lẻ: "Áo chàng xanh lam
lũ – Trời ơi trời đừng mưa",
trước cuộc t́nh rụt rè không dám nói. Một B́nh
Định với không khí trầm buồn nhưng đầy
quyến luyến, trăn đi trở lại trong thơ Yến
Lan ngày ông tập kết, sống trên miền Bắc: Thương tuổi nhỏ ta nghèo – Thầy
giáo già nghiêm khắc – Đời phố huyện đ́u hiu
– Trăng t́nh lên ngơ ngác – Những vần thơ ban đầu
– Từ bóng cô hàng xén – Đến tiếng vọng c̣i tầu
– Không một lời hứa hẹn.
Bến sông cũ phố huyện xưa mở rộng ṿng tay đón người thi sĩ sau cuộc chiến
tranh trở về. Cuộc sống đă đổi khác
nhưng khung trời kỷ niệm c̣n đó, những mùa
bông g̣n bay, những cánh chim ṃng két thiên di, chuyến xe ngựa
mỗi hoàng hôn và sớm mai leng keng tiếng nhạc. Giống
như nhà Quách Tấn bên chợ Đầm Nha Trang, nhà Yến
Lan kề ngay chợ B́nh Định, hai ông đều thường
nhắc câu "Thị náo cư di tịnh" của bậc
tiền bối Đào Tấn như một phương pháp
sống. Bởi vậy dù khi ốm đau thiếu thốn
hay giữa huyên náo của quang cảnh ông vẫn t́m
được chất thơ của đời: Nhà không vườn không gác không sân – Tôi nợ
đời rau trái tôi ăn – Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát –
Nợ em cài bên cửa một vầng trăng. Trên
mảnh đất này, vầng trăng của Yến Lan, cái "vầng trăng vẫn thường
ám ảnh các nhà thơ B́nh Định" như Hoài Thanh
đă nhận xét trong Thi nhân Việt Nam, lại khi hao khuyết,
khi viên măn theo từng cung bậc của hoài niệm và dự
tưởng. Trong những vần thơ của ông, bóng
trăng vừa lay động vừa an
tĩnh trong từng hơi thở. Và bản
thân nó toát lên linh hồn của con người, con người
đa cảm và dầu dăi trong khung cảnh vừa thanh thoát
vừa trần thế. Những tâm t́nh thật sâu thật
nặng của trọn một kiếp người mặn
nhạt chua cay ngọt bùi từng nếm trải, Yến Lan gọi là Chút ḷng để lại:
Nh́n nhau cho tận
mặt mày
Hành tŕnh c̣n một
quăng này nữa thôi
Sơn thanh thủy
tú qua rồi
Chỉ là suối
trũng đá lồi đợi ta
Chần chừ
bước nhọc khó xa
Ngày thời dằng
dặc cái già hẩm hiu
Tâm tư gói loăng
sương chiều
C̣n đâu buông thả
ít nhiều ước mong
Đi c̣n ngoảnh
mặt ngùi trông
Cái qua đă khuất
biệt ḍng thời gian
Ḷng thôi tṛn khuyết
theo trăng
T́nh c̣n cắm Bến
My Lăng gọi đ̣
Trăm
năm làm mốc hẹn ḥ.
Nguyễn Thanh Mừng