Vol. 27  10/2005            Đặc San Vietvodao năm thứ năm              5th year edition

 

Editor-in-chief : Đỗ Hoàng Nghĩa   email:   phutavanthu@yahoo.com 

 

 

Yến Lan, bến sông và phố huyện

 

NGUYỄN THANH MỪNG

 

          Bến My Lăng của Yến Lan là cái bến sông huyền ảo đầy vang bóng trên thi đàn, gắn liền với tên tuổi nhà thơ mỗi khi người ta nhắc đến. Đă hơn một lần Yến Lan giải thích rằng nó bắt nguồn từ một bến đ̣ thật, bến Trường Thi, cách thị trấn B́nh Định nơi ông ở khoảng mấy dặm đường. Mỗi lần qua bến sông này, nh́n doi cát cong cong tựa bờ mi thiếu nữ, ḷng khách văn chương không thể không thao thiết cùng những ḍng thơ xa xăm: Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách – Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu – Trăng th́ đầy rơi vàng trên mặt sách – Ông lái buồn để gió lén mơn râu…

 

          Đó là một bến sông đẹp, đẹp đến năo ḷng, nơi xưa kia người cha của Yến Lan đă lần theo tiếng hát để đến với mẹ ông, một thôn nữ quay xa dệt lụa thường gửi hồn cùng những khúc dân ca say đắm. Mối tơ duyên đẫm đầy thi vị ấy đă sản sinh ra một người con, thi sĩ ngay thuở mới vừa lọt ḷng: Quê ngoại bên kia băi cát vàng – Mẹ tôi về lỡ chuyến đ̣ ngang – Cơn đau trở dạ không giường chiếu – Tôi lọt ḷng ra giữa băi trăng – Vẫn đôi bầu ấy sữa căng đầy – Nuôi lớn hồn nhiên cả một bầy – Sao đến lượt tôi thành trái chứng – Ngọt ngào thoắt đă đổi chua cay.

 

          Năm Yến Lan lên sáu, mẹ ông ốm nặng, nằm liệt giường. Gần ba năm, Yến Lan được cha sai hàng ngày đưa cơm cho mẹ và thỉnh thoảng xế chiều lại thêm b́nh tích bánh canh. Cha Yến Lan làm nghề đậu hoa trên vải. Một hôm, cha ông nhận được một mẫu hàng từ Thượng Hải, hoa văn rất phức tạp. Hai ngày liền, cha ông không đậu được hoa. Mẹ ông từ buồng bệnh bước ra cửa hỏi và dùng tay ra hiệu cho chồng cách đậu hoa. Quả nhiên hoàn tất được mẫu hàng. Như mọi hôm, Yến Lan đưa cơm vào cho mẹ. Nhưng hôm đó, mẹ ông không c̣n ăn được nữa. Máu bà ra từ mũi, miệng. Đến cuối chiều th́ bà đă lạnh cứng tay chân.

 

          Đêm đó, Yến Lan đi cùng người láng giềng đưa tin về quê ngoại. Đến đoạn đường qua G̣ Tập là nơi người ta đồn đại rất nhiều về chuyện ma đưa vơng, Yến Lan quưnh chân. Người láng giềng cất tiếng gọi đ̣. Ông cậu của Yến Lan nằm ngủ trong thuyền, giật ḿnh chống đ̣ hớt hải sang. Ấn tượng về tiếng gọi đ̣ năo ruột trong đêm trăng sương lạnh lẽo ấy ám ảnh Yến Lan đến suốt đời. Những năm vào tuổi bát tuần, ông vẫn c̣n thường nhắc đến chuyện này với đôi mắt ngấn lệ. Ông thú nhận rằng ngày xưa, bài thơ Bến My Lăng của ông ra đời trong lúc xuất thần, có cả sự hô hấp tinh thần của ấn tượng tiếng gọi đ̣ thuở bé.

 

          Mẹ Yến Lan mất ít lâu, cha ông lấy vợ kế. Yến Lan phải chịu đựng cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông chia bùi sẻ ngọt với cây thị chùa Ông, nơi ông trải qua tuổi thơ cay đắng. Cây thị ngót trăm tuổi, như người bạn lớn, vỗ về, chở che và ḷng ông ràn rụa thương cảm: Đêm mưa tí tách nhà tranh giột – Thị nới ḿnh che nửa mái ngoài – Sáng dậy nghe chim run tiếng hót – Mới hay cây lạnh suốt đêm dài… Và cậu bé Yến Lan rách rưới thiếu thốn, nhờ cây thị mỗi mùa trái, hái bán dành dụm tiền may áo: Trái ra chợ bán lành thân áo – Ơn thị thay phần mẹ dưỡng nuôi…

 

          Thị trấn B́nh Định có thành cổ rêu phong, có vó ngựa rời rạc, có tiếng trống thu không, có những trái thị vàng đầy ân t́nh như thế là nơi Yến Lan tạo dựng nghiệp thơ. Bóng dáng một thời là những con đường nhễ nhại dưới trăng, lầu Cửa Đông nơi ông và Chế Lan Viên thường trèo lên và gọi là Lầu Tư Tưởng, mái chùa cổ và nếp nhà tranh đón những bạn thơ Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao… "Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt – Đàng chờ xe sông nước ước mong thuyền – Tịch dương liễu không biết ḿnh đương biếc – Tương tư trời tương tư nhạc triền miên", Yến Lan đă mô tả về một B́nh Định 1935 như thế. Một B́nh Định có người con trai đơn lẻ: "Áo chàng xanh lam lũ – Trời ơi trời đừng mưa", trước cuộc t́nh rụt rè không dám nói. Một B́nh Định với không khí trầm buồn nhưng đầy quyến luyến, trăn đi trở lại trong thơ Yến Lan ngày ông tập kết, sống trên miền Bắc: Thương tuổi nhỏ ta nghèo – Thầy giáo già nghiêm khắc – Đời phố huyện đ́u hiu – Trăng t́nh lên ngơ ngác – Những vần thơ ban đầu – Từ bóng cô hàng xén – Đến tiếng vọng c̣i tầu – Không một lời hứa hẹn.

 

          Bến sông cũ phố huyện xưa mở rộng ṿng tay đón người thi sĩ sau cuộc chiến tranh trở về. Cuộc sống đă đổi khác nhưng khung trời kỷ niệm c̣n đó, những mùa bông g̣n bay, những cánh chim ṃng két thiên di, chuyến xe ngựa mỗi hoàng hôn và sớm mai leng keng tiếng nhạc. Giống như nhà Quách Tấn bên chợ Đầm Nha Trang, nhà Yến Lan kề ngay chợ B́nh Định, hai ông đều thường nhắc câu "Thị náo cư di tịnh" của bậc tiền bối Đào Tấn như một phương pháp sống. Bởi vậy dù khi ốm đau thiếu thốn hay giữa huyên náo của quang cảnh ông vẫn t́m được chất thơ của đời: Nhà không vườn không gác không sân – Tôi nợ đời rau trái tôi ăn – Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát – Nợ em cài bên cửa một vầng trăng. Trên mảnh đất này, vầng trăng của Yến Lan, cái "vầng trăng vẫn thường ám ảnh các nhà thơ B́nh Định" như Hoài Thanh đă nhận xét trong Thi nhân Việt Nam, lại khi hao khuyết, khi viên măn theo từng cung bậc của hoài niệm và dự tưởng. Trong những vần thơ của ông, bóng trăng vừa lay động vừa an tĩnh trong từng hơi thở. Và bản thân nó toát lên linh hồn của con người, con người đa cảm và dầu dăi trong khung cảnh vừa thanh thoát vừa trần thế. Những tâm t́nh thật sâu thật nặng của trọn một kiếp người mặn nhạt chua cay ngọt bùi từng nếm trải, Yến Lan gọi là Chút ḷng để lại:

 

Nh́n nhau cho tận mặt mày

 

Hành tŕnh c̣n một quăng này nữa thôi

Sơn thanh thủy tú qua rồi

Chỉ là suối trũng đá lồi đợi ta

Chần chừ bước nhọc khó xa

Ngày thời dằng dặc cái già hẩm hiu

Tâm tư gói loăng sương chiều

C̣n đâu buông thả ít nhiều ước mong

Đi c̣n ngoảnh mặt ngùi trông

Cái qua đă khuất biệt ḍng thời gian

Ḷng thôi tṛn khuyết theo trăng

T́nh c̣n cắm Bến My Lăng gọi đ̣

Trăm năm làm mốc hẹn ḥ.

 

Nguyễn Thanh Mừng

 

Home